Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

MÔ HÌNH CHỨNG KHOÁN hóa các KHOẢN CHO VAY THỰC TRẠNG & KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG tại VIỆT NAM

Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
Có bốn loại chủ thể liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đó là: (1) người thế chấp và
đi vay, (2) tổ chức tập hợp tài sản thế chấp rồi phát hành chứng khoán (các trung gian đặc biệt -
Special Purpose Vehicle – tạm gọi là SPV), (3) nhà đầu tư mua bán chứng khoán, và (4) tổ chức
tín dụng cho vay (tổ chức khởi tạo). Với bốn loại chủ thể kinh tế, thay vì hai loại là người thế chấp
- đi vay và tổ chức tín dụng cho vay, rủi ro được chuyển từ tổ chức tài chính sang nhà đầu tư trái
phiếu đảm bảo bằng tài sản. Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào một tập hợp cũng
là một hình thức phân tán rủi ro. Vì thế, đã có cách gọi các trung gian tài chính tham gia vào chứng
khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi ro. Hai loại chủ thể kinh tế trung gian giữa người
đi vay và tổ chức tín dụng cho vay đóng vai trò trung gian - môi giới, nên giúp cho người vay và tổ
chức tín dụng dễ “gặp nhau” hơn. Ngoài ra, chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tài
chính. Dù người đi vay có mức xếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sản đem thế chấp tốt
thì chứng khoán đảm bảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếp hạng tín nhiệm cao và dễ bán.
Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp.
2. Điều kiện cần thiết để chứng khoán hóa các khoản cho vay
2.1. Cung và cầu trên thị trường
Nhu cầu bán nợ - cung về chứng khoán hóa: thực tiễn hoạt động của ngân hàng tất yếu
phát sinh nợ trong quá trình giao dịch với các chủ thể khác. Các khoản nợ này phát sinh và tồn tại
rất đa dạng trong mọi lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế. Đồng thời nhu cầu vốn của tổ chức là
rất lớn nên đòi hỏi phải bán nợ để đẩy nhanh vòng tuần hoàn của vốn- nhu cầu bán nợ nảy sinh.
Nhu cầu mua nợ - cầu về chứng khoán hóa: sự xuất hiện nhu cầu mua nợ của các định chế
tài chính dần dần trở thành cơ hội kinh doanh của các định chế này. Sự khan hiếm cơ hội đầu tư
hấp dẫn, sự hạn chế của các định chế tài chính trong việc đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao, đồng
thời sự dư thừa tư bản đã khiến thị trường chứng khoán hóa ra đời.
2.2. Sự phát triển cuả nền kinh tế và thị trường tài chính
Sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính là một yếu tố quan trọng cho sự phát
triển các sản phẩm của chứng khoán hóa. Nhưng không phải theo một quy luật thông thường là cứ
hễ nền kinh tế phát triển mạnh thì thị trường này phát triển. Theo kinh nghiệm trên thế giới thì nền
kinh tế vừa thoát ra khỏi chu kỳ phát triển chậm thì tốc độ phát triển của chứng khoán hóa lại rất
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 5
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
cao. Đó là do những đòi hỏi từ nhu cầu về nguồn vốn cho đầu tư trong thời kỳ bùng nổ kinh tế
trong tương lai.
2.3. Sự hỗ trợ của chính phủ
Chính phủ đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của chứng khoán hóa, cụ thể
là chính phủ cần có những biện pháp để thúc đẩy thị trường này phát triển. Theo kinh nghiệm của
Mỹ, chính phủ đã thành lập 3 cơ quan mua bán nhà thế chấp, những nhân tố khởi đầu hết sức quan
trọng cho việc tạo lập thị trường. Cụ thể hơn chính phủ cần có những biện pháp hỗ trợ đặc biệt để
tăng tính hấp dẫn của các chứng khoán như thành lập các tổ chức tư vấn, các công ty phi lợi nhuận
trong giai đoạn đầu để kích thích sự phát triển.
2.4. Hệ thống pháp luật hoàn thiện
Vì giao dịch chứng khoán hóa rất phức tạp nên để diễn ra suôn sẻ đòi hỏi phải có cơ chế
luật pháp hết sức rõ ràng. Luật pháp ở đây phải bao gồm các vấn đề về :
 Cơ chế mua bán chuyển nhượng nợ
 Quy chế thành lập và phương thức hoạt động của tổ chức tham gia chứng khoán
hóa
 Vấn đề về thuế
 Vấn đề hạch toán kế toán
 Điều khoản cho hoạt động chuyển đổi , tái cơ cấu nợ trong ngân hàng và doanh
nghiệp
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 6
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
Phần 2:
KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG KHOÁN HÓA
1. Mỹ
Chứng khoán hóa phát triển mạnh tại Mỹ vào những năm 90 thế kỷ XX. Chứng khoán hóa
đã trở thành một công cụ chuyển giao rủi ro hiệu quả được các ngân hàng đầu tư quốc tế nắm bắt
kịp thời để thực hiện cho vay nợ dưới chuẩn. Nếu như trước kia các ngân hàng thương mại với
nguồn vốn hữu hạn của mình từ tiền gửi của khách hành dùng để cho vay thế chấp mua nhà thì giờ
đây, nguồn vốn này trở nên dường như bất tận.
Tại Mỹ, hai tổ chức là Fannie Mae và Freddie Mac, là hai tổ chức tài chính lớn nhất thực
hiện vai trò là tổ chức trung gian chuyên trách (SPV) thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa. Theo
đó 2 định chế tài chính trung gian này mua các khoản nợ cho vay thế chấp nhà ở; bất động sản của
các NHTM, và thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ này thành các chứng khoán nợ (phát hành
chứng khoán trên cơ sở các khoản tín dụng thế chấp, có bảo đảm bằng nhà ở; bất động sản) và bán
cho nhà đầu tư (thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán). Quá trình này không chỉ đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển vốn cho các ngân hàng thương mại và cho thị trường tài chính và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên khi thị trường bất động sản biến
động và khủng hoảng từ thị trường này xảy ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Fannie Mae và
Freddie Mac và các NHTM có liên quan cũng như toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ và nền kinh tế
Mỹ, với hai rủi ro cơ bản sau:
Thứ nhất: Rủi ro thanh khoản. Khi khủng hoảng xảy ra, các khoản đầu tư bất động sản
(nhà cửa, đất đai .) không có khả năng thu hồi xuất hiện với mức độ cao, cường độ mạnh, nhiều
khoản nợ mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng trực tiếp và trước tiên đến tổ chức chuyên trách,
các công ty chứng khoán hóa (các khoản nợ vay mua nhà; vay thế chấp bất động sản; vay đầu tư
kinh doanh bất động sản .đều quá hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các tổ
chức này thua lỗ xuất hiện và thậm chí trên bờ vực của phá sản).
Thứ hai: Thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng lớn. Trong đó giá các loại cổ phiếu của các
định chế tài chính trung gian giảm mạnh, tạo yếu tố tâm lý bất an từ nhà đầu tư và gây nên hiệu
ứng bất lợi đối với toàn bộ nền kinh tế. Mức độ tiềm ẩn khủng hoảng tài chính và khủng hoảng
nền kinh tế là rất lớn.
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 7
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
Hai nguyên nhân bản chất:
+ Nợ dưới chuẩn cao: Tăng trưởng tín dụng quá mức của các định chế tài chính vào lĩnh
vực bất động sản, nhà đất bằng việc mở rộng tín dụng đối với các đối tượng có mức tín nhiệm
thấp, không cần bảo chứng đủ tin cậy nhằm thu lợi nhuận nhanh (lãi suất cho vay cao. Trong khi
đó lãi suất huy động tiền gửi thấp) của các tổ chức tài chính tại Mỹ đã dẫn đến tỷ lệ nợ xấu, nợ
dưới chuẩn gia tăng và hệ quả là mất khả năng thanh toán. Đây là một trong nguyên nhân chính
xuất phát từ chính chất lượng tín dụng; chất lượng nợ thấp mà trong quá trình hoạt động kinh
doanh các định chế tài chính đã xem nhẹ.
+ Tồn tại hạn chế của chính công cụ chứng khoán hóa: vai trò của chứng khoán hóa như
đã phân tích ở phần trên là không nhỏ và được xem như là công cụ tài chính mới – “ phát minh”
mới. Song khi khủng hoảng trên thị trường địa ốc xảy ra, cùng với việc “nới lỏng” cho vay của các
định chế tài chính, nợ xấu gia tăng nhanh và làm mất khả năng thanh toán của các định chế tài
chính này, hệ quả là khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ tiếp tục lan toả và tác động đến toàn bộ
hệ thống tài chính và nền kinh tế Mỹ. Thực tế cho thấy bản chất chứng khoán hóa bất động sản của
các Công ty tài chính Mỹ - đã tạo ra khả năng cho vay của các định chế này (nhờ phát hành chứng
khoán nợ - trên cơ sở các khoản tín dụng bất động sản). Trong đó tiền thu bán chứng khoán được
các tổ chức tài chính trả nợ ngắn hạn (tiền gửi huy động). Về mặt lý thuyết mọi rủi ro về nợ sau
khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán (nhà đầu tư) chứ không phải công ty tài
chính. Tuy nhiên khi khủng hoảng xảy ra, người vay tiền mua nhà mất khả năng thanh toán , nợ
xấu phát sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu lãi của các công ty tài chính và phá sản như là
một tất yếu. Nhờ chứng khoán hóa, quá trình này diễn ra chậm hơn, song mức độ lan toả thì lớn
hơn rất nhiều vì nó liên quan trực tiếp đến hai thị trường quan trọng là: thị trường chứng khoán và
thị trường bất động sản. Như vậy rủi ro xuất hiện và tác động là rất lớn và đây cũng là bài học kinh
nghiệm thực tiễn quý báu đối với các định chế tài chính khác; các nền kinh tế khác đã và đang phát
triển hoặc chuẩn bị phát triển công cụ tài chính hiện đại này.
2. Nhật Bản
Tại Nhật, việc tiến hành một giao dịch phải tuân thủ theo Bộ luật dân sự Nhật Bản. Bộ luật
này yêu cầu phải có thông báo bằng văn bản hoặc sự đồng ý của chủ nợ trước khi giao dịch được
tiến hành. Những yêu cầu khắt khe này chính là những trở ngại lớn để phát triển hoạt động chứng
khoán hóa tài sản. Luật MITI do Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế (The Ministry of
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 8
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
International Trade and Industry-MITI) ban hành đã thay đổi những yêu cầu này, cho phép những
người khởi tạo không phải là ngân hàng có được sự chấp thuận của MITI.
Tuy nhiên, cho tới nay, không có một luật nào giải quyết vấn đề đối với những người khởi
tạo khác. Nếu một người phát hành không thể tách tài sản khỏi rủi ro tín dụng của người khởi tạo
trong quá trình thực hiện giao dịch thì người phát hành thường không thể có được xếp hạng tín
dụng cho ABS (Asset Backed Security- chứng khoán bảo đảm bằng tài sản) cao hơn xếp hạng tín
dụng của người khởi tạo. Luật MITI đã giải quyết vấn đề này đối với người khởi tạo không phải là
ngân hàng và cho phép họ có được xếp hạng tín dụng cao hơn.
Tổ chức phát hành thực tế không tiến hành giao dịch cho đến khi những sự kiện có tính
chất châm ngòi, chẳng hạn như sự suy giảm thứ hạng tín dụng của người khởi tạo, xảy ra. Tuy
nhiên, các cơ quan xếp hạng tín dụng không sẵn lòng cấp cho cho ABS một thứ hạng cao hơn của
người khởi tạo trong những trường hợp như vậy vì những sự kiện châm ngòi có thể không diễn ra
như kế hoạch và giúp cho giao dịch được hoàn thành đúng hạn.
Hoạt động tăng cường tín dụng cũng có những điểm đáng chú ý. Thông thường, rủi ro tài
sản có thể được giảm xuống bằng cách sử dụng một số biện pháp tăng cường tín dụng ngoài. Tại
Mỹ có 4 phương pháp điển hình để giảm rủi ro này: 1) nhờ một ngân hàng phát hành một thư tín
dụng; 2) nhờ một công ty bảo hiểm phát hành đơn bảo hiểm; 3) nhờ một công ty tài chính phát
hành một giấy bảo lãnh; 4) sử dụng khoản vay phụ của một bên thứ ba. Tuy nhiên, những phương
thức này không phổ biến ở Nhật vì Nhật không có sẵn cơ sở hạ tầng cần thiết để cung cấp loại tăng
cường tín dụng này. Do đó, việc chứng khoán hóa tài sản của Nhật cho đến nay vẫn dựa vào việc
tăng cường tín dụng bên trong.
Trong một số giao dịch khác gần đây mà có tăng cường tín dụng của bên thứ ba thì dịch vụ
này do ngân hàng cung cấp. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã làm giảm xếp hạng tín dụng
của ngân hàng, do đó làm giảm khả năng cung cấp tăng cường tín dụng của họ.
Các công ty bảo hiểm lại không phải gánh chịu những ảnh hưởng xấu như vậy. Cơ quan
lập pháp Nhật cho phép các công ty bảo hiểm cung cấp bảo lãnh thanh toán các khoản nợ và chứng
khoán. Sự tham gia của các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực chứng khoán hóa sẽ mở cửa lĩnh vực
này cho rất nhiều khởi tạo mới.
Trên thực tế, MBIA-AMBAC International, một trong những nhà bảo lãnh bảo hiểm tài
chính chuyên môn lớn nhất trên thế giới đã hình thành nên một liên minh chiến lược với hai trong
số những công ty bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất Nhật Bản: Mitsui Marine and Fire Insurance
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 9
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
Co.Ltd. và Yasuda Fire Marine Insurance Co.Ltd. Các liên minh này sẽ cung cấp loại tăng cường
tín dụng cần thiết cho hoạt động chứng khoán hóa và mang những lợi ích của chứng khoán hóa tới
cho những công ty Nhật Bản.
3. Hàn Quốc
Trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, một số giao dịch chứng khoán hóa
đã được nhắc đến ở Hàn Quốc nhưng không có gì đáng chú ý xảy ra. Các hoạt động trên thị
trường chứng khoán bắt đâu tăng dần lên từ năm 1999. Một trong những giao dịch đáng chú ý nhất
đã diễn ra vào tháng 12/1998 do Korean Exim Bank tiến hành. Ngân hàng này tham gia vào việc
tài trợ cho các hoạt động ở nước ngoài của các công ty Hàn Quốc và có những khoản tiền có thể
thu được trong hoạt động ngoại hối. Ngân hàng này đã chứng khoán hóa những khoản có thể thu
được (dưới dạng những giấy cam kết thanh toán - promissory note - do khách hàng của nó lập) trị
giá 265 triệu USD. Những bản cam kết có chất lượng cao nhất được xếp hạng AAA. Vào tháng
2/1999 Industrial Bank of Korea cũng chứng khoán hóa những khoản có thể thu được từ cho vay
quốc tế trong một giao dịch trị giá 106 triệu USD. Giao dịch này được FSA, một công ty bảo hiểm
bảo lãnh.
Một trong những nguyên nhân chính của việc quy mô hoạt động chứng khoán hóa ở Hàn
Quốc diễn ra thấp trước cuộc khủng hoảng tài chính là luật pháp của nước này. Năm 1998, Hàn
Quốc đã ban hành Luật chứng khoán hóa những khoản có tài sản bảo đảm. Luật này chủ yếu điều
chỉnh hoạt động chứng khoán hóa của các tổ chức tài chính. Luật này bao trùm một phạm vi rất
rộng. Các tổ chức tài chính ở đây bao gồm các tổ chức tài chính do Chính phủ sáng lập như
Korean Development Bank, Korean Exim Bank, Industrial Bank of Korea, các công ty bảo hiểm,
các công ty chứng khoán .
SPV, người nắm giữ những khoản có thể thu được trong tương lai sẽ được tổ chức như
một công ty trách nhiệm hữu hạn. Nghiệp vụ kinh doanh duy nhất của tổ chức này là nắm giữ
những khoản có thể thu được. Chức năng cung cấp dịch vụ là làm đại diện cho người khởi tạo
nhưng việc quản lý các tài sản được chứng khoán hóa . lại nằm dước sự kiểm soát của SPV.Từ
năm 1962, Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) được thành lập với mục đích chủ yếu khi
đó là xử lý tài sản tồn đọng của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Tuy nhiên, đến năm 1997, do tình
hình khủng hoảng của hệ thống ngân hàng tài chính tại Hàn Quốc nên KAMCO được giao nhiệm
vụ sử lý tài sản tồn đọng của các định chế tài chính Hàn Quốc. KAMCO được đặt dưới sự giám
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 10
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
sát tài chính Hàn Quốc. Sau hơn 3 năm, KAMCO đã mua được 98,3 nghìn tỷ và bán được 47,4
nghìn tỷ won tài sản tồn đọng của các định chế tài chính. Nền kinh tế phục hồi, giá tài sản, đặc biệt
là bất động sản tăng lên nên KAMCO có thể bán với giá cao hơn giá mua vào (trong năm 1999
KAMCO có lãi ròng 9.643 tỷ won).
Ủy ban giám sát tài chính Hàn Quốc (Financial Supervisory Commission-FSC) duy trì
quyền kiểm soát đối với hoạt động chứng khoán hóa của các công ty Hàn Quốc. Theo đó, người
khởi tạo dự định tiến hành chứng khoán hóa thì phải đăng ký kế hoạch của họ với FSC. FSC có
quyền từ chối hoặc yêu cầu người khởi tạo sửa đổi kế hoạch. Việc chuyển nhượng những khoản có
thể thu được của người khởi tạo cũng phải được đăng ký với FSC.
Hệ thống luật pháp chung của Hàn Quốc cũng có thể yêu cầu thông báo cho con nợ trong
bất kỳ một lần chuyển nhượng các khoản có thể thu được. Quy định này về cơ bản vẫn không thay
đổi thậm chí ngay cả theo luật chứng khoán hóa. Luật này cũng đòi hỏi phải thông báo cho con nợ
hay có được sự chấp thuận của con nợ.
4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nghiên cứu khả năng áp dụng biện pháp chứng khoán hóa các khoản cho vay trong hệ
thống các NHTM Việt Nam, một việc hết sức quan trọng là các ngân hàng phải nghiên cứu hoạt
động này ở các quốc gia trên thế giới và thông qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình.
Việc nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động chứng khoán hóa của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc
rút ra một số điểm nổi bật sau:
4.1. Rủi ro phát sinh và tác động của rủi ro đến nền kinh tế là rất lớn
Rủi ro này xuất phát từ chính phương pháp, cách thức tạo khủng hoảng. Theo đó cuộc
khủng hoảng thị trường bất động sản và nợ xấu phát sinh làm khủng hoảng thị trường tín dụng bất
động sản tại Mỹ trong thời gian qua chỉ là bề nổi của vấn đề. Bản chất sâu xa của cuộc khủng
hoảng này xuất phát từ chính cách thức tạo khủng hoảng – Đó là nghiệp vụ chứng khoán hóa.
Thông qua nghiệp vụ này, các NHTM cho vay bất động sản đã có thể chuyển rủi ro của hoạt động
này sang cho tổ chức khác (tổ chức thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ bất động sản).
Chính điều này đã kích thích các NHTM mở rộng và tăng trưởng tín dụng bất động sản
quá mức và rủi ro xuất hiện mang tính tất yếu khi thị trường bất động sản biến động và khủng
hoảng.
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 11
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
4.2. Các NHTM cần tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc và điều kiện tín dụng trong mọi trường
hợp
Đảm bảo các khoản cho vay nói chung và cho vay bất động sản nói riêng có chất lượng.
Khủng hoảng tín dụng bất động sản dẫn tới nhiều định chế tài chính trung gian như: các NHTM;
các tổ chức tài chính lớn; các công ty chứng khoán hóa .tại Mỹ gặp phải vấn đề về thanh khoản;
kinh doanh thua lỗ xuất phát từ chính việc xem nhẹ hoạt động cho vay và qúa “tự tin” vào sự phát
triển của thị trường bất động sản (thị trường bất động sản của Mỹ liên tục tăng trưởng tốt trong
một thời gian dài). Hậu quả là khi thị trường điều chỉnh mạnh, các khoản cho vay bất động sản bắt
đầu phát sinh nợ xấu, và tạo ra hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tài chính của
Mỹ.
+ Chất lượng tín dụng bất động sản là yếu tố quyết định. Các NHTM trong nước cần có
quy định, quy chế chặt chẽ về cho vay lĩnh vực này nhằm hạn chế tối đa rủi ro do biến động thị
trường. Mặt khác khai thác và sử dụng vốn hợp lý chỉ sử dụng vốn trung dài hạn để cho vay và cho
vay phù hợp với năng lực, khả năng tài chính của mỗi đơn vị.
4.3. Phát triển và ứng dụng kỹ thuật chứng khoán hóa cần chuẩn bị kỹ lưỡng và có bước đi
thích hợp
Rõ ràng hiệu ứng từ khủng hoảng thị trường bất động sản Mỹ và hệ thống tài chính
nước này có sức lan toả lớn hơn rất nhiều bởi kỹ thuật chứng khoán hóa, thông qua đó nó tác động
đến toàn bộ hệ thống tài chính (đối với thị trường tín dụng; đối với tổ chức phát hành; đối với thị
trường chứng khoán .). Mặc dù hệ thống pháp luật của Mỹ đối với thị trường tài chính nói chung
và đối với kỹ thuật chứng khoán hóa nói riêng đã rất đầy đủ (từ quy định về cơ chế hoạt động;
đến hệ thống các tổ chức có liên quan như tỏ chức định mức tín nhiệm; tổ chức phát hành; thị
trường bất động sản; thị trường chứng khoán phát triển đạt mức hoàn thiện). Đây là bài hoc kinh
nghiệm về xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đầy đủ - yêu cầu mang tính kỹ thuật và quyết
định đến việc phát triển và ứng dụng kỹ thuật chứng khoán hóa.
+ Chỉ thực hiện phát triển công cụ này khi hội tụ đủ các điều kiện và phù hợp với trình
độ phát triển của thị trường tài chính và nền kinh tế. Trong đó đảm bảo khai thác đúng vai trò ý
nghĩa của công cụ này là giúp người dân mua được nhà, chứ không phải để tái tài trợ cho
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 12
Nhóm 01 – Lớp Ngân hàng Đêm 6 – K20 GVHD: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
những người không có khả năng tài chính như các Công ty tài chính Mỹ đã thực hiện trong thời
gian qua.
4.4. Cần phải tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi
Môi trường pháp lý thuận lợi là một trong các yếu tố quyết định sự thành công của AMC
(Asset Management Company – Công ty quản lý tài sản). AMC cần có các quyền pháp lý mạnh
hơn các doanh nghiệp hay ngân hàng bình thường. Ví dụ: con nợ không có quyền can thiệp vào
quyết định mua bán nợ tồn đọng của AMC, cán bộ của AMC được pháp luật bảo vệ khi ra quyết
định mua bán nợ tồn đọng đúng quy định, AMC được quyền chỉ định người quản lý đặc biệt đối
với con nợ .
Tại Hàn Quốc, KAMCO được coi như một doanh nghiệp nhưng nó không những chịu sự
điều tiết của luật doanh nghiệp mà còn chịu sự điều tiết của một số luật đặc biệt và quy định khác,
ví dụ như luật KAMCO, luật chứng khoán có tài sản bảo đảm .Những luật và quy định đặc biệt
này đều nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho KAMCO.
Việc Nhật Bản điều chỉnh các quy định của mình theo hướng thuận lợi hơn đã tạo điều
kiện cho hoạt động chứng khoán hóa tài sản phát triển. Trong các báo cáo đánh giá các giao dịch
chứng khoán hóa của Nhật Bản, Standard & Poor cho rằng triển vọng chứng khoán hóa của nước
này là rất lớn và một trong những lý do chính cho sự phát triển đó là những quy định mới của Nhật
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này.
4.5. Nên thành lập một AMC tập trung
Với thị trường tài sản chưa phát triển như ở Việt Nam thì chúng ta nên áp dụng mô hình
AMC tập trung do nếu có nhiều AMC xử lý nợ của các ngân hàng khác nhau thì bản thân các
AMC phải cạnh tranh nhau để bán được tài sản tồn đọng. Hệ quả là giá bán tài sản có thể thấp
hơn, tài sản tồn đọng có thể nằm lại AMC lâu hơn. Ngoài ra việc tạo nguồn vốn cho các AMC
riêng lẻ là khó khăn. Nếu các ngân hàng phải tự lập AMC để xử lý nợ, thiếu sự hỗ trợ của Chính
phủ trong việc tạo nguồn vốn thì sẽ rất khó tạo nguồn vốn cho AMC vì bản thân các ngân hàng
cũng đang gặp khó khăn. Ngoài ra trong trường hợp các tài sản có tính đồng nhất cao (ví dụ, chủ
yếu là bất động sản, hay chủ yếu là đất đai .) thì có thể có giải pháp chung xử lý các tài sản và sẽ
thực hiện thông qua một định chế chung là AMC tập trung.
Đề tài số 01: Chứng khoán hóa các khoản cho vay 13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét