Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam Nguyễn Thị Pha


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam Nguyễn Thị Pha": http://123doc.vn/document/569225-so-huu-cong-nghiep-doi-voi-nhan-hieu-theo-phap-luat-dan-su-viet-nam-nguyen-thi-pha.htm


Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật
dân sự Việt Nam

Nguyễn Thị Pha

Khoa Luật
Luận Văn Thạc sĩ ngành: Luật dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Quế Anh
Năm bảo vệ: 2011

Abtract: Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về hành vi xâm phạm quyền SHCN
(Sở hữu công nghiệp) đối với nhãn hiệu, đánh giá pháp luật hiện hành quy
định về hành vi này và thực trạng xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn
hiệu, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành
vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu: đưa ra khái niệm và phân tích
các đặc trưng của hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo
pháp luật dân sự Việt Nam; so sánh hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
nhãn hiệu với các hành vi vi phạm pháp luật khác có nhiều điểm tương đồng
với hành vi này; phân tích các quy định pháp luật về hành vi xâm phạm
quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo Bộ luật Dân sự 2005, Luật SHTT (Sở
hữu trí tuệ) 2005 và các văn bản liên quan; phân tích nội dung hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu; đánh giá quy định về xâm phạm
quyền SHCN đối với nhãn hiệu, thực trạng hành vi trên và đưa ra các đề
xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm quyền
SHCN đối với nhãn hiệu.

Keywords: Luật dân sự; Quyền sở hữu công nghiệp; Bảo hộ nhãn hiệu;
Pháp luật Việt Nam

Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàng ngày chúng ta tiếp cận với các thông tin về việc giả mạo và ăn cắp bản
quyền gây thiệt hại nhiều mặt cho toàn thế giới và Việt Nam Điều đó có nghĩa là
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu nói riêng đang trở thành một vấn nạn. Ở Việt Nam,
xâm phạm nhãn hiệu đang ngày càng tăng lên về số lượng và phức tạp về tính chất.
Trong khi đó, pháp luật điều chỉnh hành vi này còn nhiều hạn chế. Thêm nữa, xâm
phạm nhãn hiệu là một đề tài mới và khó nên có rất ít các công trình nghiên cứu
chuyên sâu, chuyên gia hay cơ chế tham vấn chính thức hỗ trợ cho việc áp dụng pháp
luật. Do đó, các chủ thể thiếu một công cụ pháp lý hiệu quả trong việc phòng, chống
xâm phạm nhãn hiệu. Vì vậy, nhằm tìm hiểu bản chất pháp lý và thực trạng hành vi
xâm phạm nhãn hiệu để tìm ra các giải pháp giúp cho việc hoàn thiện pháp luật về
hành vi này, tác giả đã lựa chọn đề tài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là một đề tài mới nên có ít công trình chuyên sâu về đề tài này mà chỉ xem
xét đề tài như một nội dung trong các đề tài lớn, một nội dung liên quan hoặc chỉ
nghiên cứu một phần của đề tài. Vì vậy, với cách tiếp cận mới có chiều rộng và chiều
sâu đã thể thấy tính mới vượt trội của đề tài, đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể áp
dụng vào việc nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ và thực thi quyền SHCN đối với
nhãn hiệu. Đó là các lý do chính thúc đẩy tác giả nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hành vi và thực trạng xâm phạm quyền
SHCN đối với nhãn hiệu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành
vi này. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra các mục tiêu cụ thể.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là một dạng hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự.
Phạm vi nghiên cứu: (1) Phân tích khái niệm, bản chất pháp lý của hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam trong tương
quan so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật các nước; (2) nghiên cứu thực tiễn
hành vi trên để phát hiện những bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi và đưa ra
phương hướng khắc phục.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng của Mác-Lênin và các phương pháp nghiên cứu khoa học.
6. Những điểm mới của luận văn
(1) Phân tích hệ thống khái niệm hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn
hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam; (2) so sánh những quy định của các điều ước
quốc tế và pháp luật của các nước nhằm mục đích làm rõ bản chất pháp lý của hành vi
trên; (3) phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về hành
vi xâm phạm nhãn hiệu và hiện trạng của hành vi này; (4) đưa ra được các phương
hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi trên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 3: Thực trạng hành vi xâm phạm và phương hướng hoàn thiện pháp luật về
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1. Khái niệm nhãn hiệu và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
1.1.1. Khái niệm nhãn hiệu và phân biệt nhãn hiệu với các đối tƣợng khác
1.1.1.1. Khái niệm nhãn hiệu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm nhãn hiệu cần được xem xét gắn với
nền sản xuất hàng hóa, theo các giai đoạn lịch sử, trường phái và hệ thống pháp luật
trên thế giới.
Các nhãn hiệu đầu tiên xuất hiện vào thời Cổ đại là dấu hiệu đơn giản dùng để
phân biệt hàng hóa của các chủ thể kinh doanh hơn là có giá trị về mặt kinh tế. Ở thời
hiện đại, nhãn hiệu được định nghĩa dựa vào nguồn gốc và chức năng phân biệt hoặc
chỉ dựa vào chức năng phân biệt (Đây là cách tiếp cận của Mục 1(1)(a) của Luật Mẫu
WIPO và là cách tiếp cận phổ biến trên thế giới và ưu việt hơn so với việc định nghĩa
dựa vào cả hai chức năng của nhãn hiệu).
Khoản 1, Điều 15, TRIPS, BTA, và USPTO đều đưa ra khái niệm về nhãn hiệu
rất rộng (thuật ngữ, tính phân biệt của nhãn hiệu, hình thức nhãn hiệu, khả năng ký
làm nhãn hiệu).
Với pháp luật Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu có sự thay đổi qua các thời kỳ. Giai
đoạn trước năm 1975, các văn bản dưới chế độ cũ đã quy định về "nhãn hiệu thương
phẩm" dùng cho thương phẩm mang tính chất của "nhãn hàng h hóa" nhưng chưa
chuẩn xác. Giai đoạn từ năm 1975-2004, các văn bản đều thống nhất quy định: "Nhãn
hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của
các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau". Giai đoạn từ năm 2005-nay, theo Luật
SHTT 2005, "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau" (Điều 4). Quy định trên về cơ bản là phù hợp với quy định
của TRIPS, BTA, các nước và là kết quả hệ thống hóa thành công các quy định pháp
luật về xâm phạm nhãn hiệu.
Từ các khái niệm trên, tác giả đưa khái niệm: nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể
nhìn thấy được dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau. Trong
đó, hình thức nhãn hiệu và chức năng của nhãn hiệu là hai yếu tố cơ bản xác định bản
chất nhãn hiệu và giúp phân biệt nó với các đối tượng khác.
1.1.1.2. Phân biệt nhãn hiệu với các đối tượng khác
Nhãn hiệu và tên thương mại (Điều 4, Luật SHTT 2005). Hai đối tượng này
thường bị nhầm lẫn vì đa số các tên thương mại được sử dụng để đăng ký làm nhãn
hiệu chính dạng chữ của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hai đối tượng này khác nhau
về hình thức (các dạng dấu hiệu của nhãn hiệu rất khác với dạng dấu hiệu là tên gọi
riêng của chủ thể kinh doanh) và chức năng (phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại
của các chủ thể kinh doanh khác với phân biệt các chủ thể kinh doanh).
Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý (Điều 4, Luật SHTT 2005). Hai đối tượng tương đồng
do chỉ dẫn địa lý có thể sử dụng để đăng ký nhãn hiệu dạng chữ. Tuy nhiên, hai đối
tượng này khác nhau về hình thức (các dạng dấu hiệu của nhãn hiệu là rất khác dạng
dấu hiệu là tên địa danh của chỉ dẫn) và chức năng (phân biệt hàng hóa cùng loại của
các chủ thể (hình thức hàng hóa) khác với phân biệt về hàng hóa cùng loại của các
khu vực địa lý khác nhau (chất lượng hàng hóa)).
Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp (Điều 4, Luật SHTT 2005 ). Điểm tương đồng
là một dấu hiệu ba chiều dùng cho hàng hóa có thể được dùng để đăng ký làm nhãn hiệu
và/hoặc kiểu dáng công nghiệp. Tuy nhiên, về hình thức, ngoài dạng ba chiều, nhãn hiệu
còn có các dạng dấu hiệu hai chiều. Về tiêu chuẩn bảo hộ, dấu hiệu là nhãn hiệu phải thể
hiện được tính chất phân biệt cho hàng hóa mang nó còn dấu hiệu là kiểu dáng phải
thể hiện được tính mới, sáng tạo của nó so với các kiểu dáng công nghiệp cùng loại
khác của chính chủ thể quyền hoặc của các chủ thể khác và có khả năng áp dụng công
nghiệp. Tính chất bảo hộ của nhãn hiệu là bảo hộ cho cả uy tín, tên tuổi (yếu tố bảo
đảm về chất lượng) của hàng hóa mang nhãn hiệu còn tính chất bảo hộ của kiểu dáng
là bảo hộ hình dáng bên ngoài của sản phẩm, không bảo hộ cho nội dung bên trong
của hàng hóa.
Nhãn hiệu và tên miền (Mục I.2.2 và II.2, Thông tư 09/2008/TT-BTTTT). Gây nhầm
lẫn giữa hai đối tượng này chính là phần "ký tự" là tên của tổ chức, cá nhân hoặc là tên
do họ đặt có thể đăng ký làm nhãn hiệu chữ và ngược lại, thêm nữa, tên miền luôn được
sử dụng kèm các "icon" dưới dạng các nhãn hiệu ba chiều. Trong khi pháp luật không có
cơ chế "bảo hộ kép" về việc dấu hiện được đăng ký làm tên miền cũng có thể được bảo
hộ là nhãn hiệu và ngược lại. Tuy nhiên, tên miền chỉ giới hạn ở các dấu hiệu dạng chữ ở
dạng hai chiều trong khi nhãn hiệu bao gồm rất nhiều các dấu hiệu chữ, hình, kết hợp
giữa chúng ở cả dạng ba chiều. Và tên miền dùng để định danh địa chỉ internet của
máy chủ còn nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, hàng hóa cùng loại của các chủ
thể khác nhau.
1.1.2. Phân loại nhãn hiệu
1.1.2.1. Phân loại dựa trên hình thức nhãn hiệu (đa số các nước): nhãn hiệu được
chia thành bốn nhóm nhỏ dựa trên trên thành phần của nhãn hiệu (chữ, hình và hỗn
hợp), không gian (hai chiều và ba chiều), khả năng nhận biết nhãn hiệu (nhìn thấy
được và không nhìn thấy được), màu sắc của nhãn hiệu (đen trắng và màu).
1.1.2.2. Phân loại dựa trên số lượng chủ sở hữu nhãn hiệu (Công ước Paris, BTA
và các nước): nhãn hiệu được chia thành nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu thông thường.
1.1.2.3. Phân loại dựa trên mục đích sử dụng nhãn hiệu (một số nước): nhãn hiệu
được chia thành nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu thông thường.
1.1.2.4. Phân loại dựa trên tính chất liên quan của nhãn hiệu (rất ít nước): nhãn hiệu
được chia thành nhãn hiệu chuỗi và nhãn hiệu thông thường.
1.1.2.5. Phân loại dựa trên mức độ được biết đến rộng rãi của nhãn hiệu (Công ước
Paris, TRIPS, BTA và các nước): nhãn hiệu được chia thành nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn
hiệu thông thường. Ngoài ra, cũng cần phải làm rõ khái niệm "nhãn hiệu được sử dụng rộng
rãi" hiện đang được sử dụng trên thực tế.
1.1.3. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu
Công ước Paris không quy định rõ về hành vi xâm phạm quyền SHTT. Đến
TRIPS, với việc sử dụng thuật ngữ "xâm phạm quyền SHTT" và các quy định về thực thi
quyền SHTT tại Điều 20, Phần III đã trở thành cơ sở quan trọng trong việc làm rõ bản
chất pháp lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Các nội dung trên cũng được thể hiện trong
Điều 11, Chương II, BTA và luật pháp các nước. Các nước theo hệ thống Common Law
(Mỹ, Anh) quy định mang tính chất rất khái quát về hành vi này, việc xác định hành vi
xâm phạm trong trường hợp cụ thể là theo phán quyết của tòa án trên cơ sở hệ thống
án lệ. Còn ở các nước theo hệ thống Civil Law (Pháp), hành vi này được quy định khá
đầy đủ trong luật.
Tại Việt Nam, Nghị định 197/HĐBT là văn bản đầu tiên quy định đúng bản chất
hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Các văn bản sau tiếp tục quy định về hành vi này đã trở
thành cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống xâm phạm nhãn
hiệu, tuy nhiên các quy định này vẫn có những hạn chế. Để khắc phục, Luật SHTT
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đã xây dựng được một hệ thống
quy phạm pháp luật SHTT thống nhất và hiệu quả. Điều 129, Luật SHTT 2005 định
nghĩa hành vi xâm phạm nhãn hiệu, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP và Nghị định
97/2010/NĐ-CP đã lần lượt làm rõ nội dung hành vi trên.
Các khái niệm liên quan: (1) Hành vi giả mạo nhãn hiệu: là hành vi xâm phạm
nhãn hiệu trong trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc khó có thể phân biệt với
nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại với hàng hóa, dịch vụ được
đăng ký theo nhãn hiệu; (2) Hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả về chất lượng
trong mối quan hệ với hành vi giả mạo nhãn hiệu. Đó là hành vi sản xuất, kinh doanh
hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng như bản chất tự
nhiên, tên gọi và công dụng của nó; (3) Hành vi sản xuất, kinh doanh "hàng nhái nhãn
hiệu": "hàng nhái nhãn hiệu" là hàng hóa tương tự gây nhầm lẫn với hàng thật nên
hành vi sản xuất và kinh doanh "hàng nhái" nhãn hiệu là một dạng hành vi xâm phạm
nhãn hiệu ở mức độ sử dụng dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo
hộ.
Từ điển trực tuyến wikipedia, Từ điển tiếng Việt 2001 và TS. Lê Nết đều có những sự
giải thích và định nghĩa hợp lý về hành vi xâm phạm nhãn hiệu.
Dưới góc độ nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm sau: xâm phạm quyền SHCN
đối với nhãn hiệu là việc sử dụng nhãn hiệu đang được bảo hộ không được sự đồng ý
của chủ thể quyền SHCN đối với nhãn hiệu và không thuộc các trường ngoại lệ pháp
luật cho phép sử dụng. Trong đó, đối tượng bị xâm phạm và yếu tố xâm phạm là hai
nội dung cơ bản thể hiện bản chất của hành vi và giúp phân biệt nó với các hành vi
khác.
1.1.4. Phân loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu
1.1.4.1. Phân loại dựa vào dạng hành vi xâm phạm: 06 nhóm hành vi tại Điều
129, Luật SHTT 2005.
1.1.4.2. Phân loại dựa vào luật điều chỉnh hành vi xâm phạm: 03 nhóm hành vi xâm
phạm nhãn hiệu theo luật dân sự, hành chính và hình sự.
1.2. Phân biệt hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu với các hành vi vi phạm pháp luật khác
1.2.1 Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thƣơng mại (Điều 129, Luật SHTT 2005)
Điểm chung: việc sử dụng dấu hiệu dưới dạng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây
nhầm lẫn với tên thương mại đã được bảo hộ và ngược lại. Điểm khác nhau: (1) Đối
tượng bị xâm phạm (Mục 1.1.1); (2) dấu hiệu xâm phạm của hành vi xâm phạm tên
thương mại là chỉ dẫn thương mại dạng chữ còn của hành vi xâm phạm nhãn hiệu lại là
dấu hiệu dạng chữ, hình hoặc kết hợp cả hai dưới dạng hai chiều trong tương quan với đối
tượng được bảo hộ.
1.2.2. Xâm phạm quyền sở sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý (Điều 129, Luật SHTT 2005)
Điểm chung: việc sử dụng dấu hiệu dưới dạng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây
nhầm lẫn với chỉ dẫn đã được bảo hộ và ngược lại. Điểm khác nhau: (1) Đối tượng bị
xâm phạm (Mục 1.1.1); (2) Về yếu tố xác định hành vi và phân loại hành vi xâm phạm
cũng có sự khác nhau. Hành vi xâm phạm nhãn hiệu được xác định dựa trên việc kết hợp
so sánh giữa dấu hiệu xâm phạm với nhãn hiệu và so sánh giữa hàng hóa xâm phạm với
hàng đăng ký kèm theo nhãn hiệu. Còn hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý dựa trên việc kết
hợp so sánh giữa dấu hiệu xâm phạm với chỉ dẫn địa lý và so sánh giữa chất lượng hoặc
nguồn gốc của hàng hóa xâm phạm với hàng hóa mang chỉ dẫn.
1.2.3. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với cạnh tranh
không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu (Điều 3, Luật Cạnh tranh 2004 và Điều
130, Luật SHTT 2005)
Điểm chung: là các hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới nhãn hiệu. Điểm khác
nhau: (1) Bản chất: hành vi xâm phạm nhãn hiệu là hành vi xâm phạm các độc quyền
của chủ thể quyền còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ là hành vi vi phạm
pháp luật liên quan tới nhãn hiệu; (2) yếu tố xác định hành vi: hành vi xâm phạm nhãn
hiệu dựa vào dấu hiệu xâm phạm và hàng hóa, dịch vụ xâm phạm cụ thể theo pháp
luật về nhãn hiệu còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh dựa vào tiêu chí "cạnh
tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh" chung chung theo
pháp luật về cạnh tranh.

Chƣơng 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
NHÃN HIỆU
2.1. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Hành vi này gồm 06 nhóm hành vi được thực hiện không được phép của chủ sở
hữu nhãn hiệu theo Điều 129, Luật SHTT 2005. Các nhóm trên được phân chia dựa
vào yếu tố xâm phạm trùng/tương tự gây nhầm lẫn và loại nhãn hiệu. Ở đây cần phải
làm rõ khái niệm "hành vi sử dụng dấu hiệu xâm phạm". Đây là hành vi sử dụng nhãn
hiệu theo quy định tại Điều 124, Luật SHTT 2005 không được sự đồng ý của chủ sở
hữu nhãn hiệu và không thuộc các trường hợp ngoại lệ pháp luật cho phép sử dụng.
2.1.1. Hành vi xâm phạm nhãn hiệu thông thƣờng
2.1.1.1. Sử dụng dấu hiệu trùng cho hàng hóa, dịch vụ trùng. Đây là hành vi sử
dụng dấu hiệu giống hệt hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày với
nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ cùng bản chất, chức năng và phương thức
thực hiện chức năng với hàng hóa, dịch vụ đăng ký theo nhãn hiệu. Hành vi trên là hành
vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (Điều 213, Luật SHTT 2005) và là
hành vi xâm phạm nhãn hiệu ở mức độ nghiêm trọng và khó phát hiện nhất. Ví dụ 1, hành
vi của Công ty TNHH & XNK Long Đỗ (Hà Nội) xâm phạm nhãn hiệu "INAX và hình"
của Inax Corporation (Nhật Bản) được bảo hộ theo Giấy chứng nhận 24690, ngày
28/07/1997 cho các sản phẩm Nhóm 11, 19 và 20. Ví dụ 2, hành vi của hộ kinh doanh cá
thể Nguyễn Thị Hồng (Hà Nội) xâm phạm nhãn hiệu "INAX" của Inax Corporation
(Nhật Bản) được bảo hộ theo Giấy chứng nhận 274, ngày 20/02/1986 cho các sản phẩm
Nhóm 11 và 19.
2.1.1.2. Sử dụng dấu hiệu trùng cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên có khả
năng gây nhầm lẫn. Đây là hành vi sử dụng dấu hiệu giống hệt hoặc khó phân biệt về
tổng thể cấu tạo và cách trình bày với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương
tự hoặc liên quan về bản chất, tính năng, công dụng, phương thức thực hiện chức năng
hoặc phương thức lưu thông trên thị trường đến mức gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng
hóa, dịch vụ. Đặc điểm trên do tính chất của hàng hóa, dịch vụ quyết định. Ví dụ 1, hành
vi của công ty TNHH công nghiệp Trường Sinh (Hà Nội) sử dụng dấu hiệu "TRƯỜNG
SINH" cho sản phẩm sữa đậu nành xâm phạm nhãn hiệu "TRƯỜNG SINH" được bảo
hộ theo Giấy chứng nhận 27280, ngày 15/6/1998 cho sản phẩm sữa đặc có đường và
sữa bột (Nhóm 29) của Công ty sữa TNHH Việt Nam Foremost. Ví dụ 2, hành vi của
Công ty TNHH Du lịch Thương mại & Dịch vụ Khám phá mới (TP. Hồ Chí Minh) sử
dụng dấu hiệu "BVKI và hình" cho việc quảng cáo dịch vụ du lịch xâm phạm nhãn
hiệu "BVKI và hình" của Công ty BUREAU VERITAS (Pháp) được bảo hộ theo
Đăng ký 791126, ngày 08/7/2002.
2.1.1.3. Sử dụng dấu hiệu tương tự cho hàng hóa, dịch vụ trùng có khả năng gây
nhầm lẫn. Đây là hành vi sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu về cấu tạo và cách
trình bày cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại với hàng hóa, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn
hiệu. Ở đây, dấu hiệu tương tự là yếu tố quyết định tính chất của nhóm, cũng là yếu tố rất
khó xác định. Ví dụ 1, hành vi sử dụng dấu hiệu "AQUAVISA và hình" của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh cho sản phẩm nước tinh khiết đóng chai (Hà Nội) xâm phạm nhãn hiệu
"AQUAFINA" được bảo hộ theo Giấy chứng nhận 41971, ngày 09/07/2002 của Pepsi Co,
Inc (Hoa Kỳ) cho các sản phẩm Nhóm 32. Ví dụ 2, hành vi sử dụng nhãn "BIA VIỆT
HÀN" trên sản phẩm bia của các cơ sở sản xuất bia (Hà Nội) xâm phạm nhãn hiệu " BIA
HÀ NỘI, HABECO và Hình " được bảo hộ theo Giấy chứng nhận 49309, ngày
20/06/2003 của Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội cho các sản phẩm bia
(Nhóm 32).
2.1.1.4. Sử dụng dấu hiệu tương tự cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan
có khả năng gây nhầm lẫn. Đây là trường hợp sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn
hiệu về cấu tạo và cách trình bày cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan với
hàng hóa, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn hiệu về bản chất, chức năng, cách thức thực
hiện chức năng, công dụng và phương thức lưu thông. Việc đánh giá tính chất "tương
tự gây nhầm lẫn" của nhóm này là khó khăn và mang tính chủ quan nhất trong các
nhóm hành vi xâm phạm tương đối. Ví dụ 1, hành vi của Công ty mỹ phẩm An Ho
HòaHà Nội) sử dụng dấu hiệu "EDENR & hình" cho sản phẩm trà chanh xâm phạm
nhãn hiệu "CLEAR & hình" được bảo hộ theo Giấy chứng nhận 35150, ngày
10/10/2000 của UNILEVER N.V (Anh và Hà Lan) cho các hàng hóa Nhóm 3. Ví dụ
2, hành vi của Công ty liên doanh Nhà máy rượu bia Hubico-Thăng Long (Đà Nẵng)
sử dụng dấu hiệu hình "Heineken " xâm phạm nhãn hiệu hình "Heineken" của Công
ty liên doanh Nhà máy bia Việt Nam được bảo hộ theo Đăng ký 746068, ngày
23/11/2000 cho các sản phẩm bia (Nhóm 32).
2.1.2. Hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng
Hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng có nội dung rất rộng. Đây là các hành vi
tương đối nên việc đánh giá rất phức tạp dựa vào việc có thể chứng minh việc sử dụng
trên có khả năng gây nhầm lẫn hay không. Đa số các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới đều
được Việt Nam bảo hộ dựa trên cơ sở cam kết quốc tế, thỏa thuận song phương hoặc
theo nguyên tắc có đi có lại, do đó việc chứng minh một hành vi xâm phạm nhãn hiệu
thuộc nhóm này sẽ dễ dàng hơn. Với các nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia, việc công nhận
sẽ khó hơn dựa trên việc nhãn hiệu phải được chứng minh thỏa mãn các tiêu chí của
Điều 75, Luật SHTT 2005 nên các hành vi xâm phạm nhóm đối tượng này cũng khó
xác định hơn.
2.1.2.1. Sử dụng dấu hiệu trùng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ có khả năng gây
nhầm lẫn. Đây là hành vi sử dụng dấu hiệu giống hệt hoặc khó phân biệt về tổng thể
cấu trúc và cách trình bày với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ nếu
việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn. Ví dụ 1, hành vi sử dụng dấu hiệu "McDonald"
cho các sản phẩm đồ ăn nhanh, dịch vụ ăn uống của một Công ty Australia (1992) được
coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng McDonald. Ví dụ 2, hành vi sử dụng dấu
hiệu TOYOTA đối với sản phẩm máy công cụ của một Công ty Nhật Bản được coi là
hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng TOYOTA. Ví dụ 3, hành vi sử dụng dấu hiệu
"Honda" cho sản phẩm kẹo của một hãng kẹo ở thành phố Hồ Chí Minh được coi là
hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng Honda. Ví dụ 4, hành vi sử dụng nhãn hiệu
"FPT" cho dịch vụ kinh doanh nhà nghỉ của Nhà nghỉ Sóng Hồng (Hà Nội) xâm phạm
nhãn hiệu nổi tiếng FPT của Công ty Cổ phần FPT.
2.1.2.2. Sử dụng dấu hiệu tương tự cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ có khả năng gây
nhầm lẫn. Đây là hành vi sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng về tổng thể
cấu trúc và cách trình bày cho các hàng hóa, dịch vụ nếu việc sử dụng có khả năng gây
nhầm lẫn. Ví dụ 1, sử dụng dấu hiệu TESC TOYOTA Đông Sài Gòn và hình cho các
hàng hóa và dịch vụ của Công Ty Cổ Phần Toyota Đông Sài Gòn (Tp. Hồ Chí Minh)
được coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng TOYOTA. Ví dụ 2, hành vi sử dụng
dấu hiệu "MC" cho các hàng hóa của Công ty cổ phần Sao Thái Dương (Hà Nội) được
coi là hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng MCDONALD.
Tuy nhiên, Khoản 2, Điều 125, Luật SHTT 2005 cùng loại trừ các trường hợp sử
dụng nhãn hiệu không phải là hành vi xâm phạm quyền để cân đối giữa quyền của chủ
sở hữu và những người liên quan trong xã hội.
2.2. Phƣơng thức xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu (Điều 5, Nghị định 105/2006/NĐ-CP)
2.2.1. Đối tƣợng bị xâm phạm
Đó là nhãn hiệu được bảo hộ (Điều 6, Luật SHTT 2005; Điều 5 và 6, Nghị định
105/2006/NĐ-CP). Quy định trên về cơ bản phù hợp với pháp luật của các nước theo
hệ thống pháp luật Civil Law, với các nước theo hệ thống Common Law (ví dụ Hoa
Kỳ) lại hơi khác, Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ dưới đây, việc xác định
đối tượng bị xâm phạm lại rất khác: (1) Tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đã được sử dụng
trước thời điểm nộp đơn sau khi nhãn hiệu được nộp đơn đăng ký; (2) sử dụng nhãn
hiệu trong thời gian 5 năm kể từ ngày văn bằng bảo hộ chấm dứt hiệu lực hoặc nhãn
hiệu không được sử dụng.
2.2.2. Yếu tố xâm phạm (Điều 11, Nghị định 105/2006/NĐ-CP)
2.2.2.1. Yếu tố xâm phạm nhãn hiệu thông thường: Chỉ có thể khẳng định có yếu
tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện: (1) Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng, tương tự gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ; (2) hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ
trùng, tương tự với hàng hóa, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn hiệu. Ở đây cần phải làm rõ
bốn khái niệm liên quan (Điều 11, Nghị định 105/2006/NĐ-CP và tác giả Lê Văn Kiều):
Dấu hiệu trùng là dấu hiệu giống hệt hay có cùng thành phần, cấu trúc, cách phát âm,
phiên âm, nghĩa, phong cách trình bày… với nhãn hiệu được bảo hộ. Dấu hiệu tương tự
gây nhầm lẫn là dấu hiệu có một số điểm trùng hoặc tương tự đến mức không dễ dàng
phân biệt với nhãn hiệu được bảo hộ về thành phần, cấu trúc, cách phát âm, phiên âm và
nghĩa. Hàng hóa, dịch vụ trùng là hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng
về bản chất, chức năng hoặc cùng kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi
bảo hộ. Hàng hóa, dịch vụ tương tự là hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ
tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và kênh tiêu thụ với
hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Trong đánh giá các nội dung này phải chú ý
các trường hợp cá biệt.
2.2.2.2. Yếu tố xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng: Điều 11, Nghị định 105/2006/NĐ-
CP xác định yếu tố xâm phạm được xác định dựa trên dấu hiệu và hàng hóa, dịch vụ
mang dấu hiệu trong tương quan so sánh với nhãn hiệu và hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu. Tuy nhiên, về mặt khoa học, đánh giá yếu tố xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng
thực chất chỉ dựa vào việc so sánh dấu hiệu xâm phạm với nhãn hiệu.
Quan điểm đánh giá việc sử dụng yếu tố xâm phạm nhãn hiệu có khả năng gây
nhầm lẫn: chỉ có thể coi là hành vi xâm phạm khi việc sử dụng dấu hiệu đó có khả năng
gây nhầm lẫn nhưng không nhất thiết là đã gây nhầm lẫn trên thực tế. Về mặt khoa học,
đánh giá yếu tố xâm phạm có khả năng gây nhầm lẫn và việc sử dụng yếu tố này có khả
năng gây nhầm lẫn hay không phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng với trình độ
nhận thức, điều kiện mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trung bình, nhận biết hàng hóa,
dịch vụ trong thời gian ngắn dựa trên cơ sở khả năng ghi nhớ về hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu. Thực tế tại các nước, một trong những tài liệu quan trọng giúp các bên chứng
minh có khả năng gây nhầm lẫn hay không chính là kết quả điều tra của nhóm khách
hàng liên quan, ví dụ, tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trên thực tế, quan điểm trên thường bị
các cơ quan chức năng Việt Nam hiểu sai hoặc ít được tôn trọng mà hầu như đều đánh
giá yếu tố xâm phạm có khả năng gây nhầm lẫn và việc sử dụng yếu tố này dựa trên
quan điểm quản lý hành chính hay dưới góc độ của bên thứ ba là chuyên gia trong
lĩnh vực giám định nhãn hiệu xâm phạm.
2.2.3. Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm (Điều 5, Nghị định 105/2006/NĐ-
CP)
Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu là người không phải là chủ thể quyền
SHCN đối với nhãn hiệu hoặc người được pháp luật cho phép thực hiện các hành vi. Chủ
thể quyền là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc là người được chủ sở hữu chuyển giao nhãn hiệu.
Người được pháp luật cho phép thực hiện hành vi được quy định tại tại Khoản 2, Điều
125, Luật SHTT 2005. Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm có thể là tổ chức hoặc cá
nhân.
2.2.4. Địa điểm thực hiện hành vi xâm phạm (Điều 5, Nghị định 105/2006/NĐ-
CP)
Hành vi xâm phạm phải xảy ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này rất rộng,
không chỉ bao gồm lãnh thổ truyền thống mà còn là "lãnh thổ" trên mạng internet là
giới hạn về đối tượng tác động của hành vi ở Việt Nam. Đây là quy định mới và phù
hợp với xu thế thời đại công nghệ thông tin hiện nay nhưng lại rất khó xác định. Về
mặt khoa học, có thể xác định "địa điểm" trên dựa trên các yếu tố như: (1) Hình thức
và nội dung của các phương tiện trên internet; (2) các công cụ quản trị mạng, điều tra
khách hàng, doanh số bán hàng
Trên cơ sở các tiêu chí xác định hành vi xâm phạm, Nghị định 97/2010/NĐ-CP đã
cụ thể hóa các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu bị xử phạt vi phạm
hành chính tại Điều 211, Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại 03 Điều: Điều 12-
nhóm các hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ để bán hàng hóa
giả mạo nhãn hiệu; Điều 13-nhóm các hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận
chuyển, tàng trữ để bán tem, nhãn, vật phẩm mang nhãn hiệu; Điều 11-nhóm các hành vi
xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu còn lại. So với quy định tại Điều 13-15, Nghị định
106/2006/NĐ-CP thì quy định trên có sự sửa đổi, bổ sung hợp lý.
2.3. Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu gây ra
Đây là các nội dung thuộc mặt khách quan cấu thành nên hành vi xâm phạm nên
có ý nghĩa trong việc đánh giá bản chất hành vi trên. Nhìn chung, việc xác định các
yếu tố này là rất phức tạp và khó khăn. Điều 45, TRIPS và Điều 12, Chương II, BTA
quy định về việc chủ thể quyền có quyền yêu cầu người xâm phạm bồi thường thỏa
đáng những thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, lợi nhuận mà người xâm phạm thu
được từ hành vi xâm phạm và các chi phí của người có quyền (bao gồm cả chi phí hợp
lý thuê luật sư). Điều 612, Chương V, Bộ luật Dân sự 1995 xác định bồi thường thiệt
hại do hành vi xâm phạm nhãn hiệu gây ra là một loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng về vật chất. Tiếp đó, Điều 204 và 205, Luật SHTT 2005 đã quy định về nguyên
tắc xác định thiệt hại và căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng phù hợp với các quy định của
TRIPS, BTA và tiến bộ hơn so với quy định tại Bộ luật Dân sự 1995.
2.3.1. Khái niệm thiệt hại
Điều 204, Luật SHTT 2005 và Điều 16, Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định:
"thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu là thiệt hại vật chất
bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ
hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại" và đưa ra 3 căn cứ
xác định tổn thất thực tế. Như vậy, thiệt hại do xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn
hiệu là những tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp về vật chất của chủ thể quyền do hành
vi xâm phạm trên gây ra.
2.3.2. Phân loại thiệt hại
Theo Điều 204, Luật SHTT 2005, dựa trên tiêu chí tính chất của thiệt hại vật chất,
thiệt hại do hành vi xâm phạm nhãn hiệu được chia thành bốn loại: các tổn thất về tài sản;
mức giảm sút về thu nhập và lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh doanh; và chi phí hợp lý
để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Dựa trên mối quan hệ giữa thiệt hại và hành vi xâm
phạm, thiệt hại được chia thành hai nhóm là: thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp.
2.3.2.1. Nhóm thiệt hại trực tiếp. Đây là những thiệt hại đã xảy ra và có thể dễ
dàng xác định trên thực tế dựa trên các bằng chứng dễ dàng thu thập. Về tổn thất về
tài sản (Mục B.I.1.4, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT): được xác định theo mức
độ giảm sút hoặc bị mất về giá trị tính được thành tiền của nhãn hiệu được bảo hộ. Giá
trị của nhãn hiệu được xác định theo một hoặc các căn cứ tại Điều 17, Nghị định
105/2006/NĐ-CP cũng chính là các phương thức định giá nhãn hiệu: (1) Giá chuyển
nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; (2) giá trị góp vốn
kinh doanh bằng nhãn hiệu; (3) giá trị nhãn hiệu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp;
(4) giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển nhãn hiệu, bao gồm các chi phí tiếp thị,
nghiên cứu, quảng cáo, lao động, thuế và các chi phí khác. Tuy nhiên, các phương thức
này hiện nay rất khó thực hiện tại Việt Nam vì chưa hình thành các điều kiện để có thể
thực hiện được. Về chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại (Điều 20, Nghị định
105/2006/NĐ-CP): là những chi phí thực tế, cần thiết, hợp lý mà chủ thể quyền đã dùng
để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do hành vi xâm phạm nhãn hiệu gây ra. Tuy nhiên, việc
đánh giá các chi phí theo tiêu chí trên không phải đơn giản nên phương pháp này cũng
khó áp dụng.
2.3.2.2. Nhóm thiệt hại gián tiếp. Đây là những thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế
nhưng có mối quan hệ nhân quả với hành vi xâm phạm và có thể xác định được thông
qua các suy đoán khoa học dựa trên các bằng chứng gián tiếp chứng minh có mối liên hệ
trên. So với nhóm trên, nhóm này khó chứng minh hơn vì dựa trên nguyên tắc suy đoán.
Về mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, bao gồm thu nhập, lợi nhuận bị giảm sút từ việc
sử dụng, khai thác trực tiếp nhãn hiệu và thu nhập, lợi nhuận giảm sút do chuyển giao
quyền sử dụng nhãn hiệu. Việc xác định thiệt hại trên thực tế tương đối khó khăn và và
phức tạp do nó chịu tác động bởi nhiều yếu tố rất khó xác định. Về tổn thất về cơ hội kinh
doanh (Điều 19, Nghị định 105/2006/NĐ-CP; Mục B.I.1.6, Thông tư 02/2008/TTLT):
Tổn thất về cơ hội kinh doanh là thiệt hại về giá trị tính được thành tiền của khoản thu
nhập đáng lẽ người bị thiệt hại có thể có được khi thực hiện các khả năng nêu trên
nhưng thực tế không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra.
2.3.3. Mức độ thiệt hại (Điều 204, Luật SHTT 2005 và Điều 16, Nghị định
105/2006/NĐ-CP)
Mức độ thiệt hại là mức độ tổn thất thực tế về vật chất do hành vi xâm phạm trực
tiếp gây ra cho chủ thể quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Mức độ thiệt hại sẽ quyết
định mức độ bồi thường đối với những thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền gây ra và
là cơ sở để quyết định phương thức và hình thức xử lý hành vi này.
2.3.4. Phƣơng thức xác định mức bồi thƣờng thiệt hại do xâm phạm nhãn
hiệu (Điều 205, Luật SHTT 2005 và Mục B.I.2, Thông tư 02/2008/TTLT)
Quy định trên thể hiện quan điểm tiến tới bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi xâm
phạm gây ra. Theo quy định trên, sẽ có bốn phương thức xác định thiệt hại do hành vi
xâm phạm nhãn hiệu dựa trên: (1) Thiệt hại thực tế của nguyên đơn; (2) lợi nhuận thu
được từ hành vi xâm phạm của bị đơn; (3) giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu; và
(4) luật định. Mỗi phương thức có ưu điểm và nhược điểm riêng. Ngoài ra, chi phí
hợp lý để thuê luật sư cũng là một khoản bồi thường thiệt hại bên cạnh các khoản bồi
thường thiệt hại trên. Đây là quy định tương đối rộng theo quy định rộng nhất của
TRIPS và BTA và nhiều nước, ví dụ Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Chƣơng 3
THỰC TRẠNG HÀNH VI XÂM PHẠM VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
3.1. Thực trạng và tác động của hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
3.1.1. Thực trạng hành vi xâm phạm
3.1.1.1. Thực trạng chung
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam luôn là nước nằm trong tốp 10 quốc gia có nạn
xâm phạm quyền SHTT nói chung và xâm phạm nhãn hiệu nói riêng cao nhất thế
giới. Ở trong nước, hành vi xâm phạm nhãn hiệu ngày càng tăng lên về số lượng, tính
chất, mức độ của hành vi, địa điểm diễn ra hành vi, hàng hóa mang dấu hiệu xâm
phạm.
Về số lượng, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện mỗi ngày trên cả nước xảy ra
166 vụ liên quan hàng lậu, hàng giả, trung bình một tháng có khoảng trên 5.000 vụ liên
quan đến hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng bị xử lý. Khoảng từ 60-80% là các vụ
xâm phạm nhãn hiệu. Và hàng nhái, hàng giả đang gia tăng với tốc độ năm sau gấp 2,5
lần so năm trước. Số liệu từ các cơ quan hữu quan như Cục SHTT, Thanh tra Bộ Khoa
học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Hải quan, Tòa án và Công an kinh tế trong các
Bảng 2.1-2.3, Biểu đồ 2.1 và các báo cáo, hội thảo đã chứng tỏ hành vi xâm phạm nhãn
hiệu đang ngày càng tăng lên trong các năm. Bên cạnh đó, số vụ xâm phạm được phát
hiện và xử lý chiếm số lượng ít so với số vụ việc diễn ra trên thực tế càng chứng tỏ sự
hoạt động kém hiệu quả của các cơ quan thực thi quyền SHTT. Về tính chất, mức độ của
hành vi xâm phạm nhãn hiệu, hành vi này ngày càng phát triển phức tạp, mang tính tổ
chức, hệ thống, do tất cả các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia. Hành vi xâm
phạm phát triển từ hành vi nhập khẩu hàng hóa xâm phạm để buôn bán tại tại Việt Nam
sang hành vi sản xuất hàng hóa xâm phạm để buôn bán tại Việt Nam hoặc xuất khẩu
(Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nước hoa và mỹ phẩm giả xuất vào Châu Âu cao
nhất năm 2005). Đa phần các hành vi là vi phạm có tổ chức và thường xuyên tái phạm.
Về tốc độ xuất hiện sản phẩm xâm phạm, nếu trước đây, sau khi sản phẩm mới ra đời,
phải trên nửa năm sau mới có hàng giả, hàng nhái, thì nay chỉ khoảng nửa tháng hàng giả,
hàng nhái đã xuất hiện ngoài thị trường. Ví dụ, khi mẫu xe máy WAVE 125 của Honda
Motor Ltd. (Nhật Bản) còn đang được lên kế hoạch sản xuất thì đã có mẫu xe giả (kiểu
dáng và nhãn hiệu WAVE 125) trên thị trường. Về địa điểm diễn ra hành vi xâm phạm,
ngày nay hành vi này đã lan tràn khắp các địa phương, vùng miền và khu vực trong cả
nước. Xuất hiện ngày càng nhiều địa phương, khu vực trong cả nước là nơi chuyên sản
xuất, kinh doanh mặt hàng xâm phạm nhãn hiệu. Và ngay cả một số ít cửa hàng được các
hãng ủy nhiệm cũng bán hàng xâm phạm nhãn hiệu. Về hàng hóa xâm phạm nhãn hiệu,
có thể thấy ở tất cả các loại mặt hàng với tỉ lệ hàng giả có mức tương tự gây nhầm lẫn cao
ngày càng chiếm ưu thế.
3.1.1.2. Các dạng hành vi xâm phạm: (1) Xâm phạm nhãn hiệu chủ yếu là xâm
phạm nhãn hiệu thông thường. Tuy nhiên, các nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi lại có
xu hướng bị xâm phạm nhiều hơn vì do tính chất đặc thù của loại nhãn hiệu này: (2)
xâm phạm nhãn hiệu chủ yếu là xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa (gần 100%); (3) hàng
hóa xâm phạm chủ yếu là hàng giả nhãn hiệu nên hành vi xâm phạm chủ yếu là hành
vi giả nhãn hiệu (60-80% và đang tăng lên); (4) trong các hành vi xâm phạm nhãn
hiệu hàng hóa, chủ yếu là các hành vi xâm phạm các nhãn hiệu của hàng hóa tiêu
dùng và hàng hóa có giá cả trung bình; (5) các hành vi xâm phạm nhãn hiệu chủ yếu ở
nhóm sản xuất, buôn bán hàng hóa xâm phạm và các hành vi liên quan đến các hành
vi trên (90%), còn lại là thuộc nhóm gắn dấu hiệu xâm phạm nhãn hiệu lên phương
tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, bảng hiệu.
3.1.2. Tác động của hành vi xâm phạm
Hành vi xâm phạm nhãn hiệu nói riêng và xâm phạm quyền SHTT nói chung
đang trở thành một hiện tượng "toàn cầu h hóa" phát triển mạnh mẽ về quy mô và tính
chất. Các hành vi này chủ yếu tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống kinh tế - xã
hội của các nước. Nhận định của các tổ chức quốc tế và GS Trần Hữu Dũng cũng đã
chứng tỏ điều này. Tại Việt Nam, tác động của hành vi cũng tương tự. Về tác động về
kinh tế, xâm phạm nhãn hiệu gây thiệt hại cho các chủ thể quyền SHCN đối với nhãn
hiệu, nhà nước thất thu thuế, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư… Về tác động về xã
hội, xâm phạm nhãn hiệu làm ảnh hưởng sâu sắc tới quyền lợi của người tiêu dùng,
hình thành tâm lý thích "hàng hiệu giá rẻ" và thái độ coi thường pháp luật bảo hộ nhãn
hiệu…
Các nguyên nhân cơ bản: (1) Pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
nhãn hiệu còn hạn chế; (2) pháp luật về bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu còn nhiều
hạn chế; (3) các nguyên nhân khác: Sự hạn chế trong: nhận thức về xâm phạm nhãn hiệu;
quy định pháp luật liên quan đến hành vi xâm phạm nhãn hiệu; hoạt động của các cơ
quan thực thi.
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu
3.2.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định về hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Các quy định về nhãn hiệu: Sửa đổi, bổ sung các quy định không hợp lý về tiêu
chuẩn bảo hộ nhãn hiệu, tính chất trùng, tương tự của nhãn hiệu, mối quan hệ giữa nhãn
hiệu với các đối tượng tương đồng và tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng; Bổ sung quy
định về nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi để bảo hộ cho nhãn hiệu khi nó chưa trở thành
nhãn hiệu nổi tiếng.
Các quy định về khái niệm, phương thức xác định, tính chất, mức độ thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu gây ra: khái niệm hành vi xâm
phạm cần được sửa đổi theo hướng khái quát hơn, cần xác định các nguyên tắc xác
định hành vi trong các trường hợp, hành vi này cần được phân biệt rõ với các hành vi
vi phạm pháp luật khác, các yếu tố cấu thành hành vi xâm phạm, tính chất, mức độ
thiệt hại do hành vi xâm phạm cần được quy định cụ thể, rõ ràng
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
Cần được tiến hành đồng bộ bao gồm cả các quy định về thực thi quyền và phối hợp
thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Trước mắt, cần rà soát các quy định pháp
luật, phát hiện và phân hóa các hạn chế của pháp luật để giải quyết theo lộ trình các
nội dung đó, các vướng mắc có tính chất cấp thiết cần được tháo gỡ trước. Ví dụ, quy
định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến xâm phạm nhãn hiệu, mức
phạt, thủ tục hành chính xử phạt và xét xử vụ án xâm phạm nhãn hiệu, quy định về
phối hợp thực thi theo Quyết định 127/2001/QĐ-TTg và Chương trình hành động
168/CTHđ
3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
3.2.2.1. Tăng cường truyền thông, tập huấn, hội thảo và đào tạo pháp luật về hành vi
xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu: (1) Phát triển và mở rộng các kênh truyền
thông, chú trọng các hoạt động truyền thông theo Ban chỉ đạo và Chương trình hành động
quốc gia; (2) duy trì, phát triển các hệ thống thông tin miễn phí và xây dựng thêm hệ
thống thông thi chung giữa các cơ quan hữu quan liên quan đến nhãn hiệu; (3) đưa môn
học SHTT vào các trường đại học thuộc khối kỹ thuật, tăng thời lượng giảng dạy, chú
trọng phần nội dung về xâm phạm nhãn hiệu tại các trường đang giảng dạy và có phương
pháp giảng dạy phù hợp với thời lượng giảng dạy ít
3.2.2.2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến hành vi xâm phạm quyền
SHCN đối với nhãn hiệu: (1) Công văn 208/TCT-CS cầu được sửa đổi theo hướng
tăng thêm tỉ lệ chi chí cho việc phát triển và bảo vệ nhãn hiệu của doanh nghiệp trong
chi phí được khấu trừ để tính thuế thu nhập doanh nghiệp; (2) thông tư liên tịch giữa
các bộ hữu quan cần được ban hành để hình thành cơ chế hợp tác chung trong việc
bảo vệ và chống xâm phạm đối với nhãn hiệu trong các trường hợp nó được sử dụng
đăng ký dưới tên doanh nghiệp và tên miền, hình thành cơ sở dữ liệu chung để hỗ trợ
công tác tra cứu thông tin liên quan đến các đối tượng; (3) các quy định điều chỉnh
hành vi sử dụng hàng hóa xâm phạm nhãn hiệu của người tiêu dùng cần nghiêm khắc
hơn.
3.2.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu: (1)
Nâng cao năng lực của cơ quan thực thi thông qua việc nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ cho các cán bộ thực thi và tăng thêm tỉ lệ cán bộ chuyên trách; (2)
tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ quan thực thi, ưu tiên các mục quan
trọng.

KẾT LUẬN
Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực thực thi quyền SHCN, tác giả nhận thức rất
sâu sắc về vấn đề xâm phạm nhãn hiệu. Quá trình thực hiện Luận văn này cũng là quá
trình tác giả kiểm nghiệm và đánh giá những gì mình nhận thức được dựa trên kinh
nghiệm thực tế dưới góc độ luật pháp, lý luận được điều chỉnh như thế nào. Điều đó vừa
giúp tác giả làm nâng cao nhận thức của bản thân về xâm phạm quyền SHCN đối với
nhãn hiệu vừa giúp đưa ra các kiến nghị phù hợp, hữu ích đối với công tác hoạch định
chính sách, xây dựng pháp luật của nhà nước, bảo vệ nhãn hiệu của chủ thể quyền và thực
thi quyền SHCN đối với nhãn hiệu của các cơ quan thực thi.
Qua quá trình nghiên cứu, tác giả rút ra một số kết luận sau:
1- Xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu là việc sử dụng nhãn hiệu đang
được bảo hộ không được sự đồng ý của chủ thể quyền SHCN đối với nhãn hiệu và
không thuộc các trường hợp ngoại lệ pháp luật cho phép sử dụng. Cần nhìn nhận hành
vi xâm phạm dưới góc độ khái quát như vậy để tránh việc quy định dàn trải. Đồng
thời, việc đánh giá hành vi này trong nhiều trường hợp cá biệt là không giống nhau
nên cần xác định các nguyên tắc chung trong việc đánh giá hành vi.
2- Hiện trạng xâm phạm nhãn hiệu lâu nay cần được nhìn nhận đúng bản chất, tính
chất, mức độ, xu hướng phát triển và tác động của hành vi. Đó là hành vi vi phạm pháp
luật gắn với quá trình phát triển công nghiệp hoá và nền kinh tế thị trường với tính chất,
mức độ nghiêm trọng, xu hướng phát triển ngày càng tăng về số lượng, tính chất hành vi
và có nhiều tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam hiện
nay.
3- Các nhân tố tác động đến hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu
cần được đánh giá đúng mức và được sử dụng như các kênh cơ bản tác động tới hành vi
xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Nhận thức của xã hội về hành vi xâm phạm là
nhân tố đầu tiên nhưng quy định của pháp luật và hoạt động của cơ quan thực thi là các
nhân tố cơ bản tác động đến hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Vì vậy, để tác động vào hành
vi cũng phải tác động đồng bộ lên tất cả các nhân tố này. Để hiệu quả, việc tác động
cần đặt theo lộ trình, các nội dung nào cần thiết nhất và có khả năng thực hiện nhất
trong mỗi nhóm sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Những nội dung được tác giả nghiên cứu, ở góc độ nào đó có thể chưa phải là đầy đủ,
trọng vẹn, các nhận định có thể chưa sắc sảo, nhưng với tinh thần nghiêm túc trong
nghiên cứu khoa học, luận văn này luôn hướng tới việc đạt được các mục tiêu mà phần
đầu luận văn đã đặt ra. Đồng thời, với việc mong muốn trở thành chuyên gia nghiên cứu
trong lĩnh vực xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tác giả mong rằng trong các
công trình sau mình sẽ có điều kiện làm sáng tỏ các khía cạnh khác của vấn đề này.
Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả may mắn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là người hướng dẫn nghiên cứu khoa học,
TS. Nguyễn Thị Quế Anh, một trong những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về SHTT tại
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vì vậy, kết thúc luận văn này, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội và TS. Nguyễn Thị Quế Anh đã giúp tác giả hoàn thành
công trình này.

Reference:
1. Đặng Mai Anh (2008), Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
ở Việt Nam hiện nay, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Thiên Bình (2009), "Ứng phó với hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ",
Doanh nhân & pháp luật, 10(1), tr. 131-133.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2008), Thông tư số 01/2008/TT-BKHCN, ngày
25/02 hướng dẫn việc cấp, thu hồi Thẻ giám định viên sở hữu công nghiệp và
Giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp,
Hà Nội.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2008), Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT, ngày
24/12 hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, Hà Nội.
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (2008), Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT ngày
24/12 Quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam ".vn", Hà
Nội.
6. Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ (2000),
Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCN ngày 27/4
hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội.
7. Bộ Y tế (2004), Quyết định số 1906/2004/QĐ-BYT ngày 28/5 của Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định về nhập khẩu song song thuốc phòng và chữa bệnh cho người,
Hà Nội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét