Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

Tài liệu Luận văn: NGHIÊN CỨU QUY LUẬT THAY ĐỔI GIÁ CỦA CÁC CỔ PHIẾU THUỘC NGÀNH HÀNG THỰC PHẨM TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Luận văn: NGHIÊN CỨU QUY LUẬT THAY ĐỔI GIÁ CỦA CÁC CỔ PHIẾU THUỘC NGÀNH HÀNG THỰC PHẨM TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. doc": http://123doc.vn/document/1036847-tai-lieu-luan-van-nghien-cuu-quy-luat-thay-doi-gia-cua-cac-co-phieu-thuoc-nganh-hang-thuc-pham-tren-so-giao-dich-chung-khoan-thanh-pho-ho-chi-minh-doc.htm


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

























Cần Thơ, ngày tháng năm 2009.
Giáo viên hướng dẫn
TS. Trương Đông Lộc.
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
























Cần Thơ, ngày tháng năm 2009.
Giáo viên phản biện.
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 1: Kết quả chạy mô hình OLS của cổ phiếu AGF 30
Bảng 2: Kết quả chạy mô hình GARCH của cổ phiếu AGF 31
Bảng 3: Kết quả chạy mô hình OLS của cổ phiếu BBC 33
Bảng 4: Kết quả chạy mô hình GARCH của cổ phiếu BBC 34
Bảng 5: Kết quả chạy mô hình OLS của cổ phiếu CAN 36
Bảng 6: Kết quả chạy mô hình GARCH của cổ phiếu CAN 37
Bảng 7: Kết quả chạy mô hình OLS của cổ phiếu NKD 39
Bảng 8: Kết quả chạy mô hình GARCH của cổ phiếu NKD 40
Bảng 9: Kết quả chạy mô hình OLS của cổ phiếu VNM 42
Bảng 10: Kết quả chạy mô hình GARCH của cổ phiếu VNM 43
Bảng 11: Tóm tắt kết quả nghiên cứu 44
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Sơ đồ tổ chức Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM 22
Hình 2: Biểu đồ giá cổ phiếu AGF 29
Hình 3: Biểu đồ giá cổ phiếu BBC 32
Hình 4: Biểu đồ giá cổ phiếu CAN 35
Hình 5: Biểu đồ giá cổ phiếu NKD 38
Hình 6: Biểu đồ giá cổ phiếu VNM 41
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1. Sự cần thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1. Không gian 2
1.3.2. Thời gian 2
1.4. Cấu trúc của luận văn 2
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1. Phương pháp luận 3
2.1.1. Một số khái niệm 3
2.1.2. Các chỉ số thường gặp 5
2.2. Lược khảo tài liệu 7
2.3. Phương pháp nghiên cứu 7
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 7
2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu 7
Chương 3: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
VÀ CÁC CỔ PHIẾU ĐƯỢC NGHIÊN CỨU 10
3.1. Tổng quan TTCK Việt Nam 10
3.1.1. Sự ra đời của TTCK Việt Nam 10
3.1.2. Chức năng cơ bản của TTCK 11
3.1.3. Các chủ thể tham gia TTCK 12
3.1.4. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK Việt Nam 15
3.1.5. Cấu trúc TTCK 16
3.2. Sở giao dịch chứng khoán TPHCM 17
3.2.1 Quyền hạn và nghĩa vụ 17
3.2.2. Quá trình hình thành và phát triển 19
3.2.3. Điều kiện công ty cổ phần được niêm yết cổ phiếu trên SGDCK
thành phố Hồ Chí Minh 23
3.3. Tổng quan các cổ phiếu được nghiên cứu trong đề tài 23
3.3.1. Cổ phiếu AGF 23
3.3.2. Cổ phiếu BBC 24
3.3.3. Cổ phiếu CAN 25
3.3.4. Cổ phiếu NKD 26
3.3.5. Cổ phiếu VNM 27
Chương 4: QUY LUẬT THAY ĐỔI GIÁ CỦA CÁC CỔ PHIẾU
THUỘC NGÀNH HÀNG THỰC PHẨM 29
4.1. Quy luật thay đổi giá của cổ phiếu AGF 29
4.2. Quy luật thay đổi giá của cổ phiếu BBC 32
4.3. Quy luật thay đổi giá của cổ phiếu CAN 35
4.4. Quy luật thay đổi giá của cổ phiếu NKD 38
4.5. Quy luật thay đổi giá của cổ phiếu VNM 41
Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY
SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TTCK VIỆT NAM 46
5.1. Những hạn chế của quy luật thay đổi giá và TTCK VN 46
5.2. Một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững TTCK VN 47
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
6.1. Kết luận 49
6.2. Kiến nghị 49
 Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm
GVHD: TS. Trương Đông Lộc 1 SVTH: Lê Trương Linh Thoại
Chương 1
GIỚI THIỆU

1.1. Sự cần thiết của đề tài
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp phát triển đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của nền kinh tế. Do đó, Việt Nam cần có chính sách huy động tối đa
mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Chính vì thế, việc
thành lập thị trường chứng khoán (TTCK) ở Việt Nam là một tất yếu khách quan,
nhất là khi Việt Nam bước vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Sau hơn tám năm hoạt động, TTCK đã phát huy được các chức năng của
mình đối với nền kinh tế, đồng thời có được những bước phát triển vượt bậc, đưa
Việt Nam trở thành một quốc gia năng động. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của
Trương Đông Lộc (2006) về TTCK ở Việt Nam thì đây vẫn là một thị trường không
hiệu quả tức là giá các cổ phiếu có thể dự báo được hay nói cách khác, nó tuân theo
những quy luật nhất định. Chẳng hạn như ảnh hưởng của ngày trong tuần đến giá cổ
phiếu; giá cổ phiếu trên thị trường OTC thường rẻ hơn trước khi được niêm yết…
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các hiện tượng mang tính quy luật
như nghiên cứu của Boudreaux (1995) về ảnh hưởng của tháng đến thị trường chứng
khoán ở 7 quốc gia: Đan Mạch, Pháp, Đức, Na-uy, Singapore/Maylasia, Tây Ban
Nha và Thụy Sĩ; nghiên cứu của Rosenberg (2004) về ảnh hưởng của tháng đến lợi
nhuận cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của
em thì ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về các quy luật được công bố. Vì vậy,
việc đưa ra một nghiên cứu về quy luật thay đổi giá là thật sự cần thiết bởi vì khi
hiểu được quy luật này, các nhà đầu tư sẽ có định hướng chính xác hơn trong việc
đầu tư của mình, do đó hạn chế được những rủi ro đáng tiếc. Với ý nghĩa thiết thực
như thế, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ
phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh”.
 Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm
GVHD: TS. Trương Đông Lộc 2 SVTH: Lê Trương Linh Thoại
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực
phẩm.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu sự phát triển của TTCK Việt Nam.
- Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực
phẩm trên sàn HOSE.
- Đề ra một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của
TTCK Việt Nam.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Không gian
Nghiên cứu 5 cổ phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm được niêm yết tại sở
giao dịch chứng khoán TPHCM.
1.3.2. Thời gian
Số liệu thu thập là giá các cổ phiếu từ lúc được niêm yết đến hết ngày
31/12/2008.
1.4. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam và các cổ phiếu
được nghiên cứu.
Chương 4: Quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực
phẩm.
Chương 5: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững TTCK
Việt Nam.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị.
 Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm
GVHD: TS. Trương Đông Lộc 3 SVTH: Lê Trương Linh Thoại
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong chương hai tác giả sẽ nêu một số khái niệm về các thuật ngữ chuyên
dụng nhằm giúp người đọc hiểu được ý nghĩa của các thuật ngữ này; đồng thời cách
thức thu thập số liệu và phương pháp xử lý số liệu cũng được tác giả mô tả một cách
cụ thể. Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài sẽ được trình bày
khái quát thông qua phần lược khảo tài liệu.
2.1. Phương pháp luận
2.1.1. Một số khái niệm
Thị trường chứng khoán: là nơi mua bán các loại giấy tờ có giá (còn gọi là
chứng khoán) một cách có tổ chức trong một hệ thống luật chặt chẽ. Thị trường
chứng khoán là nơi tập hợp những tổ chức chuyên nghiệp gọi là định chế tài chính
(công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng giám sát ) để vận hành và tổ chức các
hoạt động đặc biệt tạo ra cách dẫn và kênh dẫn an toàn từ người có vốn nhàn rỗi gọi
là nhà đầu tư đến nơi cần các lượng vốn lớn và dài hạn trong toàn xã hội.
Sở giao dịch chứng khoán: là nơi cung cấp địa điểm cho TTCK hoạt động.
Ở đây người mua và người bán sẽ gặp nhau cũng giống như chúng ta muốn mua
hàng thì phải đến chợ để mua. Có thể nói, hầu hết các giao dịch chủ yếu của TTCK
đều diễn ra tại sở giao dịch chứng khoán.
Chứng khoán: là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát
hành. Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại
chứng khoán khác.
Vốn của công ty cổ phần được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần.
Lưu ký chứng khoán: là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu,
trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán
vào hệ thống lưu ký. Chứng khoán đã lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký
 Nghiên cứu quy luật thay đổi giá của các cổ phiếu thuộc ngành hàng thực phẩm
GVHD: TS. Trương Đông Lộc 4 SVTH: Lê Trương Linh Thoại
chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của
nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ
chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được
giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán, nó như một bước
khởi đầu nhằm tiện lợi và đơn giản hóa các thủ tục về sau.
Cổ phiếu: là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu
cổ phần của người nắm giữ cổ phiếu trong công ty. Người sở hữu cổ phiếu là cổ
đông của công ty cổ phần. Cổ phiếu được chia thành hai loại là cổ phiếu ưu đãi và
cổ phiếu phổ thông.
Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu mà người sở hữu nó được hưởng cổ tức cố định
hàng năm, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Cổ đông
sở hữu cổ phiếu này sẽ được ưu tiên chia lợi tức trước và được ưu tiên chia tài sản
trong trường hợp công ty bị phá sản. Tuy nhiên, các cổ đông này sẽ bị hạn chế về
quyền lợi đó là không được quyền biểu quyết để quyết định chiến lược của công ty
tại đại hội đồng cổ đông.
Cổ phiếu phổ thông: đây là loại cổ phiếu mang tính rủi ro cao. Cổ tức của cổ
phiếu phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Cổ đông sở hữu cổ
phiếu này là người sau cùng được phân chia tài sản còn lại trong trường hợp công ty
bị phá sản. Tuy nhiên, các cổ đông này được xem là người chủ sở hữu công ty và
được quyền biểu quyết đối với các quyết định lớn của công ty.
Cổ tức: là khoản tiền hàng năm công ty cổ phần phân phối cho cổ đông như
là một khoản lãi. Việc chi trả cổ tức do hội đồng quản trị quyết định. Nếu trong năm,
công ty có lợi nhuận, thì cổ tức được trích ra từ khoản lợi nhuận đó. Trong một số
trường hợp công ty không có lợi nhuận trong năm, nhưng công ty vẫn chi trả cổ tức
từ khoản vay ngân hàng.
Tính thanh khoản: tính thanh khoản (tính lỏng) của một chứng khoán là khả
năng chuyển đổi chứng khoán đó sang tiền mặt trong một thời gian ngắn và không
có rủi ro sút giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó. Tính lỏng của chứng khoán thể
hiện qua việc chứng khoán đó được mua bán, trao đổi trên thị trường.

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

Tài liệu Tiểu luận “Phát triển phân phối mỹ phẩm Janssen Cosmeceutical tại thị trường Việt Nam” pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Tiểu luận “Phát triển phân phối mỹ phẩm Janssen Cosmeceutical tại thị trường Việt Nam” pptx": http://123doc.vn/document/1037927-tai-lieu-tieu-luan-phat-trien-phan-phoi-my-pham-janssen-cosmeceutical-tai-thi-truong-viet-nam-pptx.htm


Table of Contents
1. Company description
2. Industry Analysis
3. Products & Related Services
4. The Target Market
5.The Competition
6.Marketing Plan & Sales Strategy
7.Operations
8.Management & Organization
9.Long-Term Development & Exit Plan
10. Financial Data & Projections
11. Appendices
5
1.COMPANY DESCRIPTION
Công ty Janseen Cosmeceutical GmbH, được thành lập từ năm 1990 với trụ sở tọa lạc tại Aachen
– Đức. Từ năm 1990, Elka và Walther Janssen đã thống nhất cộng tác để phát triển một loạt các
sản phẩm chăm sóc da, đáp ứng những đòi hỏi về: chất lượng cao và hiệu quả trong việc cải
thiện cấu tạo da và hỗ trợ tương tác thông qua điều trị tại các thẩm mỹ viện. Từ kết quả nghiên
cứu thành công của nhà sinh vật học- dược sĩ tiến sĩ Roland đã tạo ta một dòng sản phẩm chăm
sóc da đáp ứng đầy đủ nhu cầu làm đẹp và điều trị các bệnh lý về da. Năm 1995, công ty
JANSSEN COSMECEUTICA được thành lập dưới hình thức công ty gia đình có trụ sở chính
đặt tại Aachen- CHLB Đức. Từ năm 1996, các dòng sản phẩm chăm sóc ra đời với thương hiệu
Janssen COSMECEUTICAL.
Sứ mệnh của Janssen cosmeceutical là tạo ra các dòng mỹ phẩm để mang lại sự hài lòng và tin
tưởng cho khách hàng. Chất lượng- hiệu quả - an toàn luôn là tiêu chí hàng đầu trong việc nghiên
cứu các dòng sản phẩm gần gũi với thiên nhiên và phù hợp với người tiêu dùng. Janssen
Cosmeceutical là dòng sản phẩm thiên nhiên, cao cấp và đặc trị … được thiết kế với những thành
phần có tính chọn lọc cao, chuyên nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu Chăm sóc - làm đẹp cho từng
loại da và từng trình trạng da.
Bốn tiêu chí mà Janssen Cosmeceutical lựa chọn cho sản phẩm:
• Chất lượng sản phẩm – được xây dựng bởi sự phát triển của trình độ khoa học tiên tiến.
• Hoạt động sản xuất được kiểm tra nghiêm ngặt.
• Phát triển các phương pháp chăm sóc da chuyên nghiệp.
• Phát triển các dòng sản phẩm chăm sóc chuyên nghiệp cho mọi đối tượng khách hàng tại
nhà và tại salon.
Janseen Cosmeceutical đạt được tất cả các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Âu Châu và Quốc Tế
về chất lượng, an toàn sức khỏe (ISO 9001:2000, GMP, FDA, OSHA)
• Iso 9001:2000 chứng nhận về việc đảm báo chất lượng sản phẩm, qui trình sản xuất và
quản lý.
• OSHA : Chứng nhận an toàn sức khỏe đối với người tiêu dùng.
• FDA: chứng nhận của cục quản lý dược Hoa Kỳ.
• Cosmetic GMP: Giấy thực hành quản lý sản xuất tốt về mỹ phẩm do Viện phân
tích và kiểm soát thực phẩm hóa chất Aachen – Đức cấp.
• Cục quản lý dược việt nam: chứng nhận về chất lượng sản phẩm của cục quản lý dược
Việt Nam.
Cho đến nay Hệ thống phân phối đã trải rộng tại hơn 80 quốc gia trên thế giới: Châu Âu, Châu
Á, Châu Úc và Châu Mỹ. Kế hoạch của Công ty Janseen Cosmeceutical GmbH sẽ phân phối
dòng mỹ phẩm Janssen đến các nước trên thế giới, và Việt Nam một trong những mục tiêu mà
công ty hướng đến.
6
2. INDUSTRY ANALYSIS
Với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, phẫu thuật thẩm mỹ ngành
công nghiệp sắc đẹp luôn được đánh giá là ngành gặt hái những khoản lợi nhuận kếch xù.
Việt Nam là quốc gia có kết cấu dân số trẻ, hơn thế nữa cùng với thu nhập người dân ngày càng
nâng cao, do đó những người có nhu cầu thẩm mỹ thường là tầng lớp có thu nhập ổn định, cao
trong xã hội. Nhu cầu làm đẹp luôn là nhu cầu tự nhiên và cần thiết ở mọi người. Việc đầu tư vào
ngành công nghiệp sắc đẹp ở Việt Nam hứa hẹn nhiều triển vọng do trong nước chưa có một
công ty hoặc tổ chức nào thực sự chuyên môn và có thương hiệu mạnh trong lĩnh vực này. Vì
vậy các công ty mỹ phẩm khi gia nhập vào thị trường cần có một chiến lược marketing phù hợp
với các nhân tố môi trường ở Việt Nam, nghiên cứu kĩ đối thủ cạnh tranh cũng như là hành vi
tiêu dùng của khách hàng.
Theo Hiệp hội Hóa mỹ phẩm TP.HCM, những năm gần đây doanh số mỹ phẩm bán ra trên thị
trường Việt Nam tăng trưởng từ 30%-50%, đã hấp dẫn các doanh nghiệp trong nước và nước
ngoài đẩy mạnh đầu tư và cạnh tranh. Trên thị trường nội địa, mỹ phẩm ngoại vẫn đang áp đảo.
Tính trung bình từ năm 2001-2006, theo số liệu của Euromonitor, thị trường mỹ phẩm Việt Nam
tăng trưởng 14%/năm. Trong số đó từ 90-95% thị phần của các sản phẩm mỹ phẩm quốc tế tập
trung ở những thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Các sản phẩm có nhãn hiệu trên
thị trường Việt nam là L’ Oreal, Estee Lauder, Clinique, Maybelline New Yorks, Lancôme,
Clarin, Oriflame, Ponds, Olays, Nivea, Rohto Những tên tuổi đang chiếm thị phần nhiều nhất ở
Việt Nam là Unilever, Procter&Gamble, Colgate-Palmolive, Johnson&Johnson, L'Oreal, UNZA,
Shiseido, DeBon…
Theo Nhật báo Nikkei (Nhật Bản) đánh giá thị trường mỹ phẩm Việt Nam có nhiều tiềm năng,
nhu cầu lớn, phát triển đột phá với doanh thu năm 2009 ước hơn 120 triệu USD.
Thị trường mỹ phẩm ở Việt Nam có thể chia làm ba dòng: cao cấp, phổ thông và bình dân. Các
nhãn hiệu cao cấp có: Clinique, Clarins, Kosé, Kanebo, Ohui… được kiểm nghiệm ở các Viện
nghiên cứu Pháp, Nhật và Thụy Sĩ sản xuất bằng công nghệ hiện đại. Mỗi dòng sản phẩm khi
tung ra thị trường được phân chia cực nhỏ theo từng mức độ phụ hợp với từng loại da hoặc tình
trạng da trong các mùa. Một bộ mỹ phẩm thường có hơn chục sản phẩm, từ bước làm sạch với
sữa rửa mặt, tẩy trang, nước hoa hồng cho đến chăm sóc, đặc trị và bảo vệ với kem dưỡng, chống
nhăn, trị nám, mặt nạ dưỡng da, kem chống nắng và trang điểm…
Các nhà phân tích cho rằng do nhóm người dưới 30 tuổi chiếm tới hơn 50% dân số Việt Nam,
doanh số tiêu thụ các sản phẩm làm đẹp và chăm sóc sức khỏe sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong
thời gian tới. Hiện các sản phẩm nước ngoài chiếm gần 90% thị phần các sản phẩm làm đẹp và
chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam và dự kiến sẽ tiếp tục tăng khoảng 15%/năm trong những năm
tới. Tuy thị trường tiềm năng nhưng đến 90% các sản phẩm làm đẹp và chăm sóc sức khoẻ ở
Việt Nam đều thuộc các thương hiệu nước ngoài.Ngày càng có nhiều khách hàng tìm đến các sản
phẩm cao cấp, bởi bên cạnh tâm lý: “Tiền nào của nấy”, việc sử dụng mỹ phẩm còn mang một
tính chất khác – thể hiện đẳng cấp. Vì thế, các nhãn hiệu cao cấp không ngừng nghiên cứu và
cho ra đời những sản phẩm ngày càng chất lượng, độc đáo hơn nhằm hài lòng “thượng đế”, cũng
như từng bước chinh phục nấc thang đẳng cấp.
Khác với dòng sản phẩm cao quý, mỹ phẩm chống lão hóa thuộc dòng phổ thông thường tập
trung vào đối tượng khách hàng bậc trung lưu, có thu nhập ổn định, chủ yếu là giới văn phòng,
công chức với các nhãn hiệu khá quen thuộc như: Nivea, Olay, Ponds… Nếu muốn mua sản
phẩm thuộc dòng cao cấp, người tiêu dùng phải chi tiền triệu, thì với sản phẩm thuộc dòng phổ
thông, họ chỉ cẩn chi khoảng 100.000 – 200.000 đồng. Sản phẩm loại này cũng rất đa dạng, được
chia nhỏ theo từng độ tuổi, từng loại da, từng bộ phận và từng dạng bào chế. Với sản phẩm bắt
7
mắt, giá cả phải chăng, chất lượng uy tín, dòng sản phẩm này đã thu hút một số lượng lớn người
tiêu dùng. Một lý do đặc biệt nữa là có hãng vừa bán sản phẩm cho nữ giới, vừa tạo việc làm cho
chính họ. Ví dụ như nhóm sản phẩm bán hàng trực tiếp, với hai nhãn hiệu đang cạnh tranh sát
nút là Oriflame và Avon. Xuất hiện vào năm 2003 (Oriflame) và 2005 (Avon), khi cách thức bán
hàng trực tiếp còn rất mới mẻ với thị trường Việt Nam, đến nay các nhãn hiệu này đã có đội ngũ
tư vấn viên lên đến hàng chục ngàn người. Điều này có nghĩa là khách hàng của họ còn lớn hơn
con số này rất nhiều. Chống lão hóa da đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, có thể sánh ngang
với ăn và mặc của đủ loại đối tượng.
Ngoài ra, dòng mỹ phẩm chống lão hóa thuộc hàng bình dân, phục vụ cho những đối tượng có
thu nhập thấp thường có xuất xứ từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malayxia…Trong khi đó,
các thương hiệu mỹ phẩm sản xuất trong nước chỉ nổi lên vài tên tuổi như Lan Hảo, Ngọc Lan –
bác sĩ Khuông, Thorakao… Giá thành của dòng mỹ phẩm này khá rẻ, với mức từ 10.000 trở lên
cho một sản phẩm. Tuy không còn xa lạ với thị trường Việt Nam, nhưng lợi thế sân nhà vẫn
không giúp các nhãn hiệu trong nước thu hút được người tiêu dùng. Mỗi năm người Việt Nam bỏ
ra gần 35 tỷ đồng cho việc mua sắm mỹ phẩm, nhưng khoảng 60 – 70% chi phí này tập trung vào
các hãng sản xuất mỹ phẩm nước ngoài, còn mỹ phẩm Việt Nam chỉ khiêm tốn với thị phần là
27%. Mặc dù được đánh già là thị trường tiềm năng, nhưng các doanh nghiệp trong nước lại
đang mất dần thế cạnh tranh. Với sự đổ bộ của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam ngày càng
nhiều, người tiêu dùng càng có thêm cơ hội lựa chọn và hưởng dịch vụ tốt hơn, song cũng là
thách thức lớn với ngành công nghiệp mỹ phẩm trong nước. Nhiều công ty đã chọn là làm nhà
phân phối chứ không có chiến lược phát triển sản xuất mong chiếm để giành lại thị phần trong
nước.
Ưu thế kinh doanh của Janssen
- Sản phẩm cao cấp, thiên nhiên đã được kiểm định bởi các tổ chức có kiểm nghiệm trên thế
giới GMP, OSHA, FDA, Iso 9001: 2000 và cục quản lý dược Việt Nam.
- Nhiều dòng sản phẩm cao cấp chuyên nghiệp dành cho các nhu cầu khác nhau: chăm sóc,
điều trị và làm đẹp.
- Thị hiếu tiêu dùng, lựa chọn các dòng sản phẩm cao cấp có chất lượng và thương hiệu.
- Nhu cầu thị trường: quan tâm đến việc làm đẹp đặc biệt về điều trị da.
- Lợi nhuận cao.
- Chi phí đầu tư: không cao, chỉ phải bỏ vốn lớn đầu tư ban đầu.
8
3. PRODUCTS & RELATED SERVICES
Sản phẩm Janssen Cosmeceutical
Janssen Cosmeceutical là dòng sản phẩm thiên nhiên, cao cấp và đặc trị, được thiết kế với
những thành phần có tính chọn lọc cao, chuyên nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu Chăm sóc - làm
đẹp cho từng loại da và từng trình trạng da phục vụ cho các nhu cầu làm đẹp cho nữ giới và nam
giới.
Đặc tính nổi bật của sản phẩm
• Không chứa dược phẩm hay hóa chất độc hại.
• Là thành quả ứng dụng của những nghiên cứu sinh học mới nhất trên thế giới.
• Là sản phẩm đáp ứng được yêu cầu điều trị chi tiết về da và sức khỏe toàn thân.
• Là sản phẩm không chứa Dầu khoáng, Lanolin, màu nhân tạo, hương thơm nhân tạo,
Formaldehyde, SD Alcohol, Hydroquinone, Serum Protein, Thành phần gây mụn, Corticoid.
• Là sản phẩm không chỉ phục vụ cho các loại da mà chăm sóc cho từng điều kiện da khác
nhau. Sản phẩm có tác dụng điều trị tăng sắc tố, sửa chữa, điều chỉnh, bù đắp hư hại, tổn thương
trên da, bảo vệ da chống lại sự mất nước, làm dịu làm lành, có tính che khuyết điểm, trang điểm.
• Là sản phẩm chứa thành phần hoạt tính chiết xuất từ thiên nhiên; thảo mộc, đất sét phún
thạch, bùn biển…kết hợp thành phần điều trị truyền thống với những ứng dụng công nghệ sinh
học mới. Chứa thành phần phân tử nhỏ dễ thấm vào da, Sản phẩm có độ pH Acid tác dụng chăm
sóc, bảo vệ, cung cấp năng lượng, mang lại vẻ đẹp và sinh lực cho da và cơ thể.
• Là sản phẩm được thiết kế cho những yêu cầu điều trị về da phát sinh trong quá trình
sống; do Stress, luôn bận rộn và môi trường ô nhiễm. Sản phẩm cung cấp những tác dụng sửa
chữa, điều trị và duy trì kết quả lâu dài.
• JANSSEN sử dụng những hương thơm tự nhiên lấy từ thảo mộc và tinh dầu thơm từ thực
vật. Janssen Cosmeceutical không có chứa các thành phần gây hại cho da như:
MINERAL OIL - DẦU KHOÁNG là thành phần lấy từ dầu mỏ dùng trong công nghệ bôi trơn,
là phân tử lớn gây tắt nghẽn lỗ nang lông gây mụn, mang lại cảm giác nặng nề, tác hại lâu dài
trên da. JANSSEN sử dụng những tinh dầu thiên nhiên chiết xuất từ thảo mộc và các acid béo tốt
cho da và sức khỏe.
CORTICOID Là dược phẩm chống viêm rất mạnh, sử dụng gây tác hại lớn với da như làm mỏng
da do ức chế sự sinh sản tế bào, làm teo da, lão hoá da, giãn mao mạch gây tân mạch, giảm sức
đề kháng gây nhiễm trùng da, làm rối loạn hoạt động của tuyến nhờn gây tăng sinh tiết nhờn và
gây mụn.
Ngược lại, JANSSEN sử dụng chiết xuất Vitamin C để bảo vệ, tái tạo da đồng thời giúp Da
chống lại quá trình Oxihoá của các gốc tự do.
HYDROQUINONE Là dược chất tẩy trắng da có khả năng gây ra da nhạy cảm, dễ gây kích ứng
da. Rất dễ bị Oxi hoá gây đổi màu sậm, sử dụng trên da gây dị ứng, gây sạm, nám, mụn, bắt nắng
nghiêm trọng và biến chứng rối loạn sắc tố da dạng hoa giấy.
LANOLINE Là chất cung cấp dầu có nguồn gốc từ tuyến bã nhờn của da cừu, gây kích ứng, dị
ứng, là một trong những mầm móng quan trong trong việc gây tắc nghẽn lỗ nang lông, gây nên
mụn trên da.
ARTIFICAL COLOUR – MÀU NHÂN TẠO Là thành phần gây dị ứng mạnh, gây mụn với
nhiều loại da vì đa số màu sắc trong mỹ phẩm có nguồn gốc từ nhựa than – chất hoàn toàn độc
hại cho da, đặc biệt là da nhạy cảm.
Thay vào những mùi thơm nhân tạo JANSSEN sử dụng những thành phần chất thảo mộc có màu
tự nhiên.
9
COMEDOGENIC INGREDENTS - HỢP CHẤT GÂY MỤN Là thành phần phổ biến gây nên
phản ứng sinh mụn, làm tổn hại nghiêm trong đến tế bào da. Thành phần này đã bị cấm sử dụng
trên thế giới trong công nghệ làm mỹ phẩm.
FRAGANCE - HƯƠNG THƠM NHÂN TẠO Là thành phần gây dị ứng, viêm và rát da, sử
dụng trên da làm da rất nhạy cảm với ánh sáng, dễ bắt nắng, gây nên tình trạng tăng sắc tố trên
da.
ALCOHOL Đây là thành phần hoá học sử dụng rất phổ biến trong các sản phẩm phổ thông, hoá
chất này làm khô da nghiêm trọng, làm mất đi lớp MNF là lớp bảo vệ tự nhiên cần thiết trên bề
mặt da.
Thay vào đó JANSSEN sử dụng chiết xuất thực vật, đất sét Kaolin và bùn biển từ thiên nhiên có
tác dụng hấp thu dầu và làm tươi mới da.
COLLAGEN ĐỘNG VẬT Là thành phần Collagen lấy từ sụn, xương, mô liên kết của động vật,
là thành phần dễ gây kích ứng và bị khuyến cáo không được dùng vì khả năng mang theo mầm
bệnh từ động vật.
JANSSEN sử dụng các Collagen Peptiides là Collagen tổng hợp có tác dụng như Collagen động
vật.
SERUM PROTEIN – HUYẾT TƯƠNG Là thành phần của máu, chứa những Protein nuôi dưỡng
như Globuline, Albumine, nhưng bị khuyến cáo cấm sử dụng trong sản phẩm bôi và chích vì khả
năng lây truyền bệnh truyền nhiễm.
FORMALDEHYDE Là chất bảo quản phổ biến hầu hết trong mỹ phẩm, thành phần độc hại này
gây hại rất lớn đến sức khoẻ, đặc biệt chúng làm cho da trở nên khô rát,sẩn đỏ ngứa và gây ung
thư da.
JANSSEN sử dụng Vitamin E thiên nhiên làm hợp chất chống oxy hoá trong bảo quản sản phẩm.
Phân loại sản phẩm
Janseen Cosmeceutical được “thiết kế” chăm sóc và làm đẹp cho từng loại da – tình trạng da.
Với 187 sản phẩm trong 22 nhóm được phân làm 7 dòng sản phẩm phục vụ cho việc Chăm sóc -
làm đẹp tại Beauty Salon và tại nhà.
Phân loại các nhóm sản phẩm theo các dòng sản phẩm cho mặt – thân và spa thư giãn.
1.The Secrets of beauty – Facial Care
1.1.Cleansing Secrets: Cleansing for all skin types – Sản phẩm rửa mặt dành cho mọi loại da
Ultime Secrets: Basic care for all skin types - Chăm sóc Da thường & Da khô
1.3.Sensitive Secrets: For irritable and hyper sensitive skin - Chăm sóc, làm đẹp cho - Da Nhạy
cảm & Dị ứng
1.4.Pure Secrets: Counteracting Oily And Impure Skin - Chăm sóc, làm đẹp cho - Da nhờn và
mụn
1.5. Mixed Secrets: Balancing Care For Mixed Condition Skin - Chăm sóc, làm đẹp
cho – Da hỗn hợp
1.6. Supreme Secrets: Supreme Care For Mature And Demanding Skin - Chăm sóc, làm đẹp
cho – Da lão hóa
1.7. White Secrets: Created For Mild Skin De-Pigmentation - Chăm sóc, làm đẹp và làm trắng
da
2.Luxury Skin Care (3 họ sản phẩm)
2.1.OPUS BELLE for ladies - Chăm sóc làm đẹp cho phụ nữ trên 40 tuổi
2.2.Skin Add Ins: Monodosed High-Quality Active Substances Capsules - Đặc trị cho các tình
trạng da
2.3.Dr. Roland Sacher: The daily care ritual - Chăm sóc, làm đẹp cao cấp
10
3.Body Care & Wellness (2 họ sản phẩm)
3.1.OPUS GRATIA for body – Chăm sóc, phục hồi, giữ gìn đường nét của cơ thể.
3.2. Secrets of Paradise
4.Special Care (2 họ sản phẩm)
4.1. Skin Store: A Special Care Process For Stressed Skin - Dòng mỹ phẩm Chăm sóc, phục
hồi da hư tổn
4.2. Sun Secrets: Sun Care For All Types Of Skin - Dòng mỹ phẩm chăm sóc, chống nắng
PRE SUN
SUN PROTECTION
WATERPROOF
AFTER SUN
5.Professional Care (5 họ sản phẩm)
5.1. Skin excel: the ampoule for every day - Dòng mỹ phẩm chăm sóc đặc trị
5.2. Dermafleece Collagen Mask – Mask Collagen làm đẹp da
5.3. Phytogen Powder Mask - Mask Phytogen làm đẹp da
5.4. Phytogen Special Mask - Mask Phytogen điều trị chuyên sâu
5.5. Massage Fleece mask - Mask điều trị da
6.Men Skin Care (1 họ sản phẩm)
OPUS EST for gentlemen - Dòng mỹ phẩm Chăm sóc, làm đẹp cho nam giới
7.Make up &Camouflage ( 2 họ sản phẩm)
7.1. Secret Look Foundation - Kem nền trang điểm
7.2. Perfect Blend - Kem che khuyết điểm chuyên nghiệp
Sản phẩm Janssen có hai dòng sử dụng tại salon (Pro) và sử dụng tại nhà (Home Care)
Việc đóng gói sản phẩm được thực hiện tại Đức, với những qui định nghiêm ngặt theo các tiêu
chuẩn đóng gói quốc tế. Qui cách và mẫu mã các sản phẩm hàng retail đẹp, đối với hàng Pro thì
chủ yếu dung tích lớn sử dụng tại salon chai, bình nhựa cao cấp có vòi, không đẹp lắm. Sản
phẩm dùng tại nhà có dung tích nhỏ từ 10ml – 15ml – 30ml, tại các salon sản phẩm dùng tại
salon có dung tích lớn.
Dịch vụ
Bên cạnh đó chúng tôi xây dựng một beauty salon chăm sóc da với các liệu trình dành cho phái
nữ và phái nam. Trung tâm salon chuyên về dịch vụ chăm sóc và điều trị da được đầu tư có qui
mô để đánh giá chất lượng và các qui trình ứng dụng của dòng sản phẩm Janssen trước khi giới
thiệu và phân phối đến các đại lý.
Tiêu chí xây dựng beauty salon:
- Được xem là trung tâm thử nghiệm sản phẩm và các ứng dụng sản phẩm vào các qui trình
chăm sóc da để tư vấn, giới thiệu cho các đại lý.
- Mô hình spa mẫu, xây dựng thiết kế theo phong cách chuyên nghiệp của Châu Âu, để có
mô hình mẫu giúp đại lý bước đầu xây dựng salon.
- Hỗ trợ các đại lý trong các chương trình tư vấn, huấn luyện giới thiệu sản phẩm.
- Khai thác, sử dụng toàn bộ sản phẩm Janssen trong các liệu trình, chăm sóc cho khách
hàng.
- Trung tâm tư vấn da, quảng bá hình ảnh của Janssen trực tiếp đến khách hàng.
- Đào tào nguồn lực, am hiểu về sản phẩm và qui trình chăm sóc da để từng bước mở rộng
thị phần của Janssen tại các khu vực.
Các qui trình ứng dụng dòng sản phẩm:
• Qui trình chăm sóc da mặt: chăm sóc, điều trị các vấn đề về da…
11
• Qui trình massage thư giãn
• Qui trình chăm sóc chân
• Qui trinh chăm sóc làm đẹp toàn thân
• Qui trình chăm sóc da dành cho nam
Ngoài ra tùy thuộc vào thị trường và nhu cầu sử dụng, công ty sẽ nghiên cứu và đưa ra những
liệu trình mới phù hợp với các yêu cầu của khách hàng.
Cơ hội kinh doanh
Cùng với xu thế phát triển của thế giới, nhu cầu làm đẹp của mọi lứa tuổi ngày càng cao, người
ta muốn tìm đến các dòng sản phẩm cao cấp, thiên nhiên mang lại vẻ đẹp tự nhiên cho cả phái
yếu và phái mạnh. Dòng sản phẩm Janssen Cosmeceutical kết hợp hài hòa các tiêu chí khách
hàng mong muốn, thể hiện kì vọng của công ty trong chiến lược xâm nhập và phát triển sản
phẩm và dịch vụ spa kết hợp tại thị trường Việt Nam.
12
4. THE TARGET MARKET
Theo thống kê của Hiệp hội Mỹ phẩm TP.HCM, doanh số tiêu thụ hàng mỹ phẩm của Việt Nam
trong năm 2009 ước đạt 120 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 2004, và hứa hẹn sẽ còn tăng
nhanh trong thời gian tới do số người dưới 35 tuổi chiếm hơn 60% dân số. Điều này cho thấy,
khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn không ảnh hưởng đến ngành mỹ phẩm Việt Nam!
Về thị hiếu sản phẩm, đa số khách hàng Việt Nam yêu thích các mỹ phẩm có nguồn gốc thiên
nhiên từ nước ngoài, và ưa chuộng những sản phẩm có mùi dịu nhẹ, màu sắc tươi mới, nhẹ
nhàng, không quá chói, quá loè loẹt. Và theo kết quả khảo sát của tập đoàn quảng cáo tiếp thị số
1 châu Á - Grey tại 16 nước châu Á cho thấy có đến 77% người tiêu dùng trong nước ưa chuộng
các thương hiệu nước ngoài, trong khi đó con số này trung bình toàn châu Á là 40%.
Ông Marco Saladini - Đại diện Thương vụ Ý tại Việt Nam cho rằng, thị trường mỹ phẩm Việt
Nam là một thị trường bỏ ngỏ đầy quyến rũ, đang thu hút khá nhiều hãng mỹ phẩm nước ngoài
đầu tư vào (Theo DNVN).
Định vị chiến lược marketing & phân khúc khách hàng
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Tốc độ phát triển kinh tế
hàng năm của VN nói chung và Tp. HCM nói riêng dao động trong khoảng 6 - 6,5% là mức tăng
trưởng của nền kinh tế Việt Nam năm 2010 vừa được các tổ chức nghiên cứu kinh tế dự báo
ngày 13/04/2010. Thậm chí, Ngân hàng Thế giới (WB), trong dự báo về kinh tế Việt Nam năm
2010 đã cho rằng, tỷ lệ tăng trưởng 6,5% đối với Việt Nam là trong tầm tay. Các chuyên gia WB
cũng lạc quan nhận định, Việt Nam đang ra khỏi suy thoái với vị thế tốt hơn nhiều so với các
nước. Chúng tôichia khách hàng chính của mỹ phẩm Janssen thành 2 phân khúc chính:
1 - Những người phụ nữ hiện đại, thành đạt: khách hàng tiềm năng của dòng mỹ phẩm cao cấp.
Họ ngày càng độc lập về tài chính, có xu hướng lập gia đình trễ hơn vì thế số tiền họ rất sẵn lòng
đầu tư để chăm sóc cho bản thân.
2 - Thị trường mỹ phẩm còn ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ dòng sản phẩm chăm sóc da dành
cho nam giới. Xu hướng này cũng đang bắt đầu xuất hiện tại VN với các thương hiệu Clarins,
Shiseido…
Dự đoán xu hướng thị trường trong tương lai
Với sự phục hồi mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng kinh tế, cùng với thu nhập sẽ còn tăng các nhân
viên văn phòng sẽ chịu nhiều áp lực hơn, ngoài ra khí hậu ngày càng thất thường ảnh hưởng rất
lớn đến làn da. Do đó nhu cầu sử dụng mỹ phẩm cao cấp để dưỡng da và làm đẹp sẽ còn rất
nhiều cơ hội phát triển.
Quan niệm làm đẹp gắn liền với các dòng mỹ phẩm từ thiên nhiên
Đã qua rồi cái thời làm đẹp nhờ "công nghệ hiện đại" bằng những sản phẩm nhân tạo được sản
xuất từ hóa chất, người ta đang có khuynh hướng quay trở lại với thế giới thiên nhiên. Các khái
niệm như Bio (sinh học), Eco (sinh thái), Organic (hữu cơ) sẽ trở nên quen thuộc với mọi người
hơn qua các loại mỹ phẩm chăm sóc da, chăm sóc tóc Mỹ phẩm chăm sóc da không chỉ đơn
thuần là phục hồi làn da, giúp tái sinh tế bào da mà còn có khả năng giảm mệt mỏi, căng thẳng
bởi tác động của mùi hương thiên nhiên. Về điều này thì sản phẩm Janssen hoàn toàn đáp ứng
các yêu nhu cầu làm đẹp từ mỹ phẩm thiên nhiên.
Mặt khác, quan niệm về một làn da trắng cũng dần thay đổi theo cảnh báo có liên quan đến căn
bệnh ung thư da, bởi việc tẩy da cũng là một trong những yếu tố gây bệnh. Xu hướng sử dụng
mỹ phẩm chăm sóc da hiện nay được thực hiện theo "tác động kép" là giảm độ bóng nhờn cho
Đa số khách hàng Việt Nam yêu thích các mỹ phẩm có nguồn gốc thiên nhiên từ nước ngoài
13
da, duy trì độ ẩm cần thiết và tạo cho làn da mịn màng. Hoặc các sản phẩm vừa dưỡng da vừa
điều trị như sản phẩm chống nhăn, chống mụn
Quan niệm làm đẹp cho cả nam giới và nữ giới
Với quan niệm đẹp và tự tin hơn trong mắt đối tác, nam giới ngày càng có xu hướng sử dụng mỹ
phẩm chuyên biệt riêng dành chon nam. Đây cũng là một thị trường hứa hẹn tiềm năng trong
tương lai.
14

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Đề tài " Localization of modules for a semisimple Lie algebra in prime characteristic " pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề tài " Localization of modules for a semisimple Lie algebra in prime characteristic " pdf": http://123doc.vn/document/1038976-tai-lieu-de-tai-localization-of-modules-for-a-semisimple-lie-algebra-in-prime-characteristic-pdf.htm


948 ROMAN BEZRUKAVNIKOV, IVAN MIRKOVI
´
C, AND DMITRIY RUMYNIN
0.0.1. Sections 1 and 2 deal with algebras of differential operators D
X
.
Equivalence D
b
(mod
fg
(U
0
))

=
−→ D
b
(mod
c
(D
B
)) and its generalizations are
proved in Section 3. In Section 4 we specialize the equivalence to objects with
the χ-action of the Frobenius center Z
Fr
. In Section 5 we relate D-modules
with the χ-action of Z
Fr
to O-modules on the Springer fiber B
χ
. This leads
to a dimension formula for g-modules in terms of the corresponding coherent
sheaves in Section 6, here we also spell out compatibility of our functors with
translation functors. Finally, in Section 7 we calculate the rank of the K-group
of the Springer fiber, and thus of the corresponding category of g-modules.
0.0.2. The origin of this study was a suggestion of James Humphreys that
the representation theory of U
0
χ
should be related to geometry of the Springer
fiber B
χ
. This was later supported by the work of Lusztig [Lu] and Jantzen
[Ja1], and by [MR].
0.0.3. We would like to thank Vladimir Drinfeld, Michael Finkelberg,
James Humphreys, Jens Jantzen, Masaharu Kaneda, Dmitry Kaledin,
Victor Ostrik, Cornelius Pillen, Simon Riche and Vadim Vologodsky for various
information over the years; special thanks go to Andrea Maffei for pointing out
a mistake in example 5.3.3(2) in the previous draft of the paper. A part of the
work was accomplished while R.B. and I.M. visited the Institute for Advanced
Study (Princeton), and the Mathematical Research Institute (Berkeley); in
addition to excellent working conditions these opportunities for collaboration
were essential. R.B. is also grateful to the Independent Moscow University
where part of this work was done.
0.0.4. Notation. We consider schemes over an algebraically closed field k of
characteristic p>0. For an affine S-scheme X
q
→ S, we denote q

O
X
by O
X/S
,
or simply by O
X
. For a subscheme Y of X the formal neighborhood FN
X
(Y)
is an ind-scheme (a formal scheme), the notation for the categories of modules
on X supported on Y is introduced in 3.1.7, 3.1.8 and 4.1.1. The Frobenius
neighborhood Fr N
X
(Y) is introduced in 1.1.2. The inverse image of sheaves is
denoted f
−1
and for O-modules f

(both direct images are denoted f

). We
denote by T
X
and T

X
the sheaves of sections of the (co)tangent bundles TX
and T

X.
1. Central reductions of the envelope D
X
of the tangent sheaf
We will describe the center of differential operators (without divided pow-
ers) as functions on the Frobenius twist of the cotangent bundle. Most of the
material in this section is standard.
LOCALIZATION IN CHARACTERISTIC P
949
1.1. Frobenius twist.
1.1.1. Frobenius twist of a k-scheme. Let X be a scheme over an
algebraically closed field k of characteristic p>0. The Frobenius map of
schemes X→X is defined as the identity on topological spaces, but the pull-
back of functions is the p
th
power: Fr

X
(f)=f
p
for f ∈O
X
(1)
= O
X
. The
Frobenius twist X
(1)
of X is the k-scheme that coincides with X as a scheme
(i.e. X
(1)
= X as a topological space and O
X
(1)
= O
X
as a sheaf of rings), but
with a different k-structure: a ·
(1)
f
def
= a
1/p
· f, a ∈ k,f∈O
X
(1)
. This makes
the Frobenius map into a map of k-schemes X
Fr
X
−→ X
(1)
. We will use the twists
to keep track of using Frobenius maps. Since Fr
X
is a bijection on k-points,
we will often identify k-points of X and X
(1)
. Also, since Fr
X
is affine, we may
identify sheaves on X with their (Fr
X
)

-images. For instance, if X is reduced
the p
th
power map O
X
(1)
→(Fr
X
)

O
X
is injective, and we think of O
X
(1)
as a
subsheaf O
p
X
def
= {f
p
,f∈O
X
} of O
X
.
1.1.2. Frobenius neighborhoods. The Frobenius neighborhood of a sub-
scheme Y of X is the subscheme (Fr
X
)
−1
Y
(1)
⊆ X; we denote it Fr N
X
(Y )or
simply X
Y
. It contains Y and O
X
Y
= O
X

O
X
(1)
O
Y
(1)
= O
X

O
p
X
O
p
X
/I
p
Y
=
O
X
/I
p
Y
·O
X
for the ideal of definition I
Y
⊆O
X
of Y .
1.1.3. Vector spaces. For a k-vector space V the k-scheme V
(1)
has a
natural structure of a vector space over k; the k-linear structure is again given
by a ·
(1)
v
def
= a
1/p
v, a ∈ k,v∈ V . We say that a map β : V →W between
k-vector spaces is p-linear if it is additive and β(a · v)=a
p
· β(v); this is the
same as a linear map V
(1)
→W . The canonical isomorphism of vector spaces
(V

)
(1)

=
−→ (V
(1)
)

is given by α→α
p
for α
p
(v)
def
= α(v)
p
(here, V
∗(1)
= V

as a
set and (V
(1)
)

consists of all p-linear β : V →k). For a smooth X, canonical
k-isomorphisms T

(X
(1)
)=(T

X)
(1)
and (T (X))
(1)

=
−→ T(X
(1)
) are obtained
from definitions.
1.2. The ring of “crystalline” differential operators D
X
. Assume that X
is a smooth variety. Below we will occasionally compute in local coordinates:
since X is smooth, any point a has a Zariski neighborhood U with ´etale coor-
dinates x
1
, ,x
n
; i.e., (x
i
) define an ´etale map from U to A
n
sending a to 0.
Then the dx
i
form a frame of T

X at a; the dual frame ∂
1
, ,∂
n
of T
X
is
characterized by ∂
i
(x
j
)=δ
ij
.
Let D
X
= U
O
X
(T
X
) denote the enveloping algebra of the tangent Lie al-
gebroid T
X
; we call D
X
the sheaf of crystalline differential operators. Thus
D
X
is generated by the algebra of functions O
X
and the O
X
-module of vec-
tor fields T
X
, subject to the module and commutator relations f ·∂ = f∂,
950 ROMAN BEZRUKAVNIKOV, IVAN MIRKOVI
´
C, AND DMITRIY RUMYNIN
∂·f − f·∂ = ∂(f ),∂∈T
X
,f∈O
X
, and the Lie algebroid relations ∂

·∂




·∂

=[∂

,∂

],∂

,∂

∈T
X
. In terms of a local frame ∂
i
of vector fields we
have D
X
= ⊕
I
O
X
·∂
I
. One readily checks that D
X
coincides with the ob-
ject defined (in a more general situation) in [BO, §4], and called there “PD
differential operators”.
By the definition of an enveloping algebra, a sheaf of D
X
modules is just
an O
X
module equipped with a flat connection. In particular, the standard
flat connection on the structure sheaf O
X
extends to a D
X
-action. This action
is not faithful: it provides a map from D
X
to the “true” differential operators
D
X
⊆End
k
(O
X
) which contain divided powers of vector fields; the image of
this map is an O
X
-module of finite rank p
dim X
; see [BO] or 2.2.5 below.
For f ∈O
X
the p
th
power f
p
is killed by the action of T
X
, hence for any
closed subscheme Y ⊆ X we get an action of D
X
on the structure sheaf O
X
Y
of the Frobenius neighborhood.
Being defined as an enveloping algebra of a Lie algebroid, the sheaf of
rings D
X
carries a natural “Poincar´e-Birkhoff-Witt” filtration D
X
= ∪D
X,≤n
,
where D
X,n+1
= D
X,≤n
+ T
X
·D
X,≤n
, D
X,≤0
= O
X
. In the following Lemma
parts (a,b) are proved similarly to the familiar statements in characteristic
zero, while (c) can be proved by a straightforward use of local coordinates.
1.2.1. Lemma. a) There is a canonical isomorphism of the sheaves of
algebras:gr(D
X
)

=
O
T

X
.
b) O
T

X
carries a Poisson algebra structure, given by {f
1
,f
2
} =[
˜
f
1
,
˜
f
2
]
mod D
X,≤n
1
+n
2
−2
,
˜
f
i
∈D
X,≤n
i
, f
i
=
˜
f
i
mod D
X,≤n
i
−1
∈O
T

X
, i =1, 2.
This Poisson structure coincides with the one arising from the standard
symplectic form on T

X.
c) The action of D
X
on O
X
induces an injective morphism D
X,≤p−1
→
End(O
X
).
We will use the familiar terminology, referring to the image of d ∈D
X,≤i
in D
X,≤i
/D
X,≤i−1
⊂O
T

X
as its symbol.
1.3. The difference ι of p
th
power maps on vector fields. For any vector
field ∂ ∈T
X
, ∂
p
∈D
X
acts on functions as another vector field which one
denotes ∂
[p]
∈T
X
.For∂ ∈T
X
set ι(∂)
def
= ∂
p
− ∂
[p]
∈D
X
. The map ι lands in
the kernel of the action on O
X
; it is injective, since it is injective on symbols.
1.3.1. Lemma. a) The map ι : T
X
(1)
→D
X
is O
X
(1)
-linear, i.e., ι(∂)+
ι(∂

)=ι(∂ + ∂

) and ι(f∂)= f
p
·ι(∂),∂,∂

∈T
X
(1)
,f∈O
X
(1)
.
b) The image of ι is contained in the center of D
X
.
LOCALIZATION IN CHARACTERISTIC P
951
Proof.
1
For each of the two identities in (a), both sides act by zero on
O
X
. Also, they lie in D
X,≤p
, and clearly coincide modulo D
X,≤p−1
. Thus the
identities follow from Lemma 1.2.1(c).
b) amounts to: [f,ι(∂)] = 0, [∂

,ι(∂)] = 0, for f ∈O
X
, ∂,∂

∈T
X
. In both
cases the left-hand sides lie in D
X,≤p−1
: this is obvious in the first case, and
in the second one it follows from the fact that the p
th
power of an element in
a Poisson algebra in characteristic p lies in the Poisson center. The identities
follow, since the left-hand sides kill O
X
.
Since ι is p-linear, we consider it as a linear map ι : T
X
(1)
→D
X
.
1.3.2. Lemma. The map ι : T
X
(1)
→D
X
extends to an isomorphism of
Z
X
def
= O
T

X
(1)
/X
(1)
and the center Z(D
X
). In particular, Z(D
X
) contains
O
X
(1)
.
Proof.Forf ∈O
X
we have f
p
∈ Z(D
X
), because the identity ad(a)
p
=
ad(a
p
) holds in an associative ring in characteristic p, which shows that [f
p
,∂]
= 0 for ∂ ∈T
X
. This, together with Lemma 1.3.1, yields a homomorphism
Z
X
→ Z(D
X
). This homomorphism is injective, because the induced map on
symbols is the Frobenius map ϕ → ϕ
p
, Z = O
T

X
(1)
→O
T

X
. To prove that it
is surjective it suffices to show that the Poisson center of the sheaf of Poisson
algebras O
T

X
is spanned by the p
th
powers. Since the Poisson structure arises
from a nondegenerate two-form, a function ϕ ∈O
T

X
lies in the Poisson center
if and only if dϕ = 0. It is a standard fact that a function ϕ on a smooth variety
over a perfect field of characteristic p satisfies dϕ = 0 if and only if ϕ = η
p
for
some η.
Example.IfX = A
n
, so that D
X
= kx
i
,∂
i
 is the Weyl algebra, then
Z(D
X
)=k[x
p
i
,∂
p
i
].
1.3.3. The Frobenius center of enveloping algebras. Let G be an algebraic
group over k, g its Lie algebra. Then g is the algebra of left invariant vector
fields on G, and the p
th
power map on vector fields induces the structure
of a restricted Lie algebra on g. Considering left invariant sections of the
sheaves in Lemma 1.3.2 we get an embedding O(g
∗(1)
)
ι
g
→ Z(U(g)); we have
ι
g
(x)=x
p
− x
[p]
for x ∈ g. Its image is denoted Z
Fr
(the “Frobenius part” of
the center).
From the construction of Z
Fr
we see that if G acts on a smooth variety
X then g→ Γ(X, T
X
) extends to U(g)→ Γ(X, D
X
) and the constant sheaf
(Z
Fr
)
X
= O(g
∗(1)
)
X
is mapped into the center Z
X
= O
T

X
(1)
. The last map
comes from the moment map T

X→ g

.
1
Another proof of the lemma follows directly from Hochschild’s identity (see [Ho, Lemma
1]).
952 ROMAN BEZRUKAVNIKOV, IVAN MIRKOVI
´
C, AND DMITRIY RUMYNIN
Ug is a vector bundle of rank p
dim(
g
)
over g
∗(1)
.Anyχ ∈ g

defines a
point χ of g
∗(1)
and a central reduction U
χ
(g)
def
= U(g)⊗
Z
Fr
k
χ
.
1.4. Central reductions. For any closed subscheme Y⊆T

X one can
restrict D
X
to Y
(1)
⊆ T

X
(1)
; we denote the restriction
D
X,Y
def
= D
X

O
T

X
(1)
/X
(1)
O
Y
(1)
/X
(1)
.
1.4.1. Restriction to the Frobenius neighborhood of a subscheme of X.
A closed subscheme Y→X gives a subscheme T

X|Y ⊆ T

X, and the corre-
sponding central reduction
D
X

O
T

X
(1)
O
(T

X|Y )
(1)
= D
X

O
X
(1)
O
Y
(1)
= D
X

O
X
O
X
Y
,
is just the restriction of D
X
to the Frobenius neighborhood of Y . Alternatively,
this is the enveloping algebra of the restriction T
X
|X
Y
of the Lie algebroid T
X
.
Locally, it is of the form ⊕
I
O
X
Y

I
. As a quotient of D
X
it is obtained by
imposing f
p
= 0 for f ∈I
Y
. One can say that the reason we can restrict Lie
algebroid T
X
to the Frobenius neighborhood X
Y
is that for vector fields (hence
also for D
X
), the subscheme X
Y
behaves as an open subvariety of X.
Any section ω of T

X over Y ⊆ X gives ω(Y )⊆ T

X|Y , and a further
reduction D
X,ω(Y )
. The restriction to ω(Y )⊆ T

X|Y imposes ι(∂)=ω, ∂
p
,
i.e., ∂
p
= ∂
[p]
+ ω, ∂
p
,∂∈T
X
. So, locally, D
X,ω(Y )
= ⊕
I∈{0,1, ,p−1}
n
O
X
Y

I
and ∂
p
i
= ∂
[p]
i
+ ω, ∂
i

p
= ω, ∂
i

p
.
1.4.2. The “small” differential operators D
X,0
. When Y is the zero section
of T

X (i.e., X = Y and ω = 0), we get the algebra D
X,0
by imposing in D
X
the relation ι∂ = 0, i.e., ∂
p
= ∂
[p]
,∂∈T
X
(in local coordinates ∂
i
p
= 0). The
action of D
X
on O
X
factors through D
X,0
since ∂
p
and ∂
[p]
act the same on
O
X
. Actually, D
X,0
is the image of the canonical map D
X
→D
X
from 1.2 (see
2.2.5).
2. The Azumaya property of D
X
2.1. Commutative subalgebra A
X
⊆D
X
. We will denote the centralizer
of O
X
in D
X
by A
X
def
= Z
D
X
(O
X
), and the pull-back of T

X
(1)
to X by
T
∗,1
X
def
= X×
X
(1)
T

X
(1)
.
2.1.1. Lemma. A
X
= O
X
·Z
X
= O
T
∗,1
X/X
.
Proof. The problem is local so assume that X has coordinates x
i
. Then
D
X
= ⊕O
X

I
and Z
X
= ⊕O
X
(1)

pI
(recall that ι(∂
i
)=∂
i
p
). So, O
X
·Z
X
=
LOCALIZATION IN CHARACTERISTIC P
953
⊕O
X

pI

=
←− O
X

O
X
(1)
Z
X
, and this is the algebra O
X

O
X
(1)
O
T

X
(1)
of
functions on T
∗,1
X. Clearly, Z
D
X
(O
X
) contains O
X
·Z
X
, and the converse
Z
D
X
(O
X
)⊆⊕O
X

pI
was already observed in the proof of Lemma 1.3.2.
2.1.2. Remark. In view of the lemma, any D
X
-module E carries an action
of O
T
∗,1
X
; such an action is the same as a section ω of Fr


1
X
) ⊗End
O
X
(E).
As noted above E can be thought of as an O
X
module with a flat connection;
the section ω is known as the p-curvature of this connection. The section ω is
parallel for the induced flat connection on Fr


1
X
) ⊗End
O
X
(E).
2.2. Point modules δ
ζ
. A cotangent vector ζ =(b, ω) ∈ T

X
(1)
(i.e., b ∈
X
(1)
and ω ∈ T

a
X
(1)
) defines a central reduction D
X,ζ
= D
X

Z
X
O
ζ
(1)
. Given
a lifting a ∈ T

X of b under the Frobenius map (such a lifting exists since k is
perfect and it is always unique), we get a D
X
-module δ
ξ
def
= D
X

A
X
O
ξ
, where
we have set ξ =(a, ω) ∈ T
∗,(1)
X. It is a central reduction of the D
X
-module
δ
a
def
= D
X

O
X
O
a
of distributions at a, namely δ
ξ
= δ
a

Z
X
O
ζ
. In local coor-
dinates at a, 1.4.1 says that D
X,ζ
has a k-basis x
J

I
,I,J∈{0, 1, ,p− 1}
n
with x
p
i
= 0 and ∂
p
i
= ω, ∂
i

p
.
2.2.1. Lemma. Central reductions of D
X
to points of T

X
(1)
are matrix
algebras. More precisely, in the above notations,
Γ(X, D
X,ζ
)

=
−→ End
k
(Γ(X, δ
ξ
)).
Proof. Let x
1
, ,x
n
be local coordinates at a. Near a,
D
X
= ⊕
I∈{0, ,p−1}
n

I
·A
X
;
hence δ
ξ

=

I∈{0, ,p−1}
n
k∂
I
. Since x
i
(a)=0,
x
k
·∂
I
= I
k
·∂
I−e
k
and ∂
k
·∂
I
=


I+e
k
if I
k
+1<p,
ω(∂
i
)
p
·∂
I−(p−1)e
k
if I
k
= p − 1.

.
Irreducibility of δ
ξ
is now standard and x
i
’s act on polynomials in ∂
i
’s by
derivations; so for 0 = P =

I∈{0, ,p−1}
n
c
I

I
∈ δ
ξ
and a maximal K with
c
K
=0,x
K
·P is a nonzero scalar. Now multiply with ∂
I
’s to get all of δ
ξ
.
Thus δ
ξ
is an irreducible D
X,ζ
-module. Since dim D
X,ζ
= p
2 dim(X)
= (dim δ
ξ
)
2
we are done.
Since the lifting ξ ∈ T
∗,(1)
X of a point ζ ∈ T

X
(1)
exists and is unique,
we will occasionally talk about point modules associated to a point in T

X
(1)
,
and denote it by δ
ζ
, ζ ∈ T

X
(1)
.
2.2.2. Proposition (Splitting of D
X
on T
∗,1
X). Consider D
X
as an
A
X
-module (D
X
)
A
X
via the right multiplication. Left multiplication by D
X
954 ROMAN BEZRUKAVNIKOV, IVAN MIRKOVI
´
C, AND DMITRIY RUMYNIN
and right multiplication by A
X
give an isomorphism
D
X

Z
X
A
X

=
−→ E nd
A
X
((D
X
)
A
X
).
Proof. Both sides are vector bundles over T
∗,1
X = Spec(A
X
); the
A
X
-module (D
X
)
A
X
has a local frame ∂
I
,I∈{0, ,p − 1}
dim X
; while
x
J

I
,J,I∈{0, ,p − 1}
dim X
is a local frame for both the Z
X
-module
D
X
and the A
X
-module D
X

Z
X
A
X
. So, it suffices to check that the map
is an isomorphism on fibers. However, this is the claim of Lemma 2.2.1,
since the restriction of the map to a k-point ζ of T
∗,1
X is the action of
(D
X

Z
X
A
X
)⊗
A
X
O
ζ
= D
X

Z
X
O
ζ
= D
X,ζ
on (D
X
)
A
X

A
X
O
ζ
= δ
ζ
.
2.2.3. Theorem. D
X
is an Azumaya algebra over T

X
(1)
(nontrivial if
dim(X) > 0).
Proof. One of the characterizations of Azumaya algebras is that they
are coherent as O-modules and become matrix algebras on a flat cover [MI].
The map T
∗,1
X→T

X
(1)
is faithfully flat; i.e., it is a flat cover, since the
Frobenius map X→X
(1)
is flat for smooth X (it is surjective and on the formal
neighborhood of a point given by k[[x
p
i
]]→k[[x
i
]]). If dim(X) > 0, then D
X
is nontrivial, i.e. it is not isomorphic to an algebra of the form End(V ) for
a vector bundle V , because locally in the Zariski topology of X, D
X
has no
zero-divisors, since gr(D
X
)=O
T

X
; while the algebra of endomorphisms of a
vector bundle of rank higher than one on an affine algebraic variety has zero
divisors.
2.2.4. Remarks.(1) A related Azumaya algebra was considered in [Hur].
(2) One can give a different, somewhat shorter proof of Theorem 2.2.3
based on the fact that a function on a smooth k-variety has zero differential
if and only if it is a p
th
power, which implies that any Poisson ideal in O
T

X
is induced from O
T

X
(1)
. This proof applies to a more general situation of the
so called Frobenius constant quantizations of symplectic varieties in positive
characteristic, see [BeKa, Prop. 3.8].
(3) The statement of the theorem can be compared to the well-known fact
that the algebra of differential operators in characteristic zero is simple: in
characteristic p it becomes simple after a central reduction. Another analogy
is with the classical Stone – von Neumann Theorem, which asserts that L
2
(R
n
)
is the only irreducible unitary representation of the Weyl algebra: Theorem
2.2.3 implies, in particular, that the standard quantization of functions on the
Frobenius neighborhood of zero in A
2n
k
has unique irreducible representation
realized in the space of functions on the Frobenius neighborhood of zero in A
n
k
.
LOCALIZATION IN CHARACTERISTIC P
955
(4) The class of the Azumaya algebra in the Brauer group can be described
as follows. In [MI, II.4.14] one finds the following exact sequence of sheaves
in ´etale topology available for any smooth variety M over a perfect field of
characteristic p:
0 →O

M
Fr
−→ O

M
dlog
−→ Ω
1
M,cl
C−1
−→ Ω
1
M
→ 0,
where Fr : f → f
p
, C is the Cartier operator and Ω
1
M,cl
is the sheaf of closed
1-forms. This exact sequences produces a map H
0

1
M
) → H
2
(O

M
). One can
check that applying the map to the canonical 1-form on M = T

X one gets
the class of the Azumaya algebra D
X
.
2.2.5. Splitting on the zero section. By a well known observation
2
the
small differential operators, i.e., the restriction D
X,0
of D
X
to X
(1)
⊆ T

X
(1)
,
form a sheaf of matrix algebras. In the notation above, this is the observation
that the action map (Fr
X
)

D
X,0

=
−→ E nd
O
X
(1)
((Fr
X
)

O
X
) is an isomorphism by
2.2.1. Thus Azumaya algebra D
X
splits on X
(1)
, and (Fr
X
)

O
X
is a splitting
bundle. The corresponding equivalence between Coh
X
(1)
and D
X,0
modules
sends F∈Coh
X
(1)
to the sheaf Fr

X
F equipped with a standard flat connection
(the one for which pull-back of a section of F is parallel).
2.2.6. Remark. Let Z ⊂ T

X
(1)
be a closed subscheme, such that the
Azumaya algebra D
X
splits on Z (see Section 5 below for more examples of
this situation); thus we have a splitting vector bundle E
Z
on Z such that
D
X
|
Z

=
−→ End(E
Z
). It is easy to see then that E
Z
is a locally free, rank one
module over A
X
|
Z
, thus it can be thought of as a line bundle on the preimage
Z

of Z in T
∗(1)
X under the map Fr × id : X ×
X
(1)
T

X
(1)
→ T

X
(1)
. In the
particular case when Z maps isomorphically to its image
¯
Z in X the scheme
Z

is identified with the Frobenius neighborhood of
¯
Z in X. The action of D
X
equips the resulting line bundle on Fr N(
¯
Z) with a flat connection. The above
splitting on the zero-section corresponds to the trivial line bundle O
X
with the
standard flat connection.
2.3. Torsors. A torsor

X
π
→ X for a torus T defines a Lie algebroid

T
X
def
= π

(T

X
)
T
with the enveloping algebra

D
X
def
= π

(D

X
)
T
. Let t be the Lie
algebra of T. Locally, any trivialization of the torsor splits the exact sequence
0→t ⊗O
X


T
X
→T
X
→ 0 and gives

D
X

=
D⊗ Ut. So the map of the constant
sheaf U(t)
X
into

D
X
, given by the T -action, is a central embedding and

D
X
is
a deformation of D
X

=

D
X

S(
t
)
k
0
over t

. The center O
T


X
(1)
of D

X
gives
a central subalgebra (π

O
T


X
(1)
)
T
= O

T

X
(1)
of

D
X
. We combine the two
into a map from functions on

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

to Z(

D
X
) (the map t

→ t
∗(1)
is
the Artin-Schreier map AS; the corresponding map on the rings of functions
2
The second author thanks Paul Smith from whom he has learned this observation.
956 ROMAN BEZRUKAVNIKOV, IVAN MIRKOVI
´
C, AND DMITRIY RUMYNIN
S(t
(1)
) → S(t) is given by ι(h)=h
p
− h
[p]
,h∈ t
(1)
). Local trivializations
again show that this is an isomorphism and that

D
X
is an Azumaya algebra
on

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

, which splits on X×
X
(1)
(

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

).
In particular, for any λ ∈ t

, specialization D
λ
X
def
=

D
X

S(
t
)
k
λ
is an
Azumaya algebra on the twisted cotangent bundle
T

AS(λ)
X
(1)
def
=

T

X
(1)
×
t
∗(1)
AS(λ),
which splits on T
∗,(1)
AS(λ)
X
def
= X×
X
(1)
T

AS(λ)
X
(1)
. For instance, if λ = d(χ)isthe
differential of a character χ of T then AS(λ)=0;thusT

AS(λ)
X = T

X.In
this case D
λ
X
is identified with the sheaf
O
χ
D
X

=
O
χ
⊗D
X
⊗O
χ
−1
of differential
operators on sections of the line bundle O
χ
on X, associated to

X and χ.
By a straightforward generalization of 2.1, 2.2,

A
X
def
= O

X
(1)

T

X
(1)
×
t

(1)
t

embeds into

D
X
. As in 2.2, for a point ζ =(a, ω; λ)ofX×
X
(1)

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

we
define the point module δ
ζ
=

D
X


A
X
O
ζ
.Ifζ
(1)
=(ω, λ) is the corresponding
point of

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

then we have

D
X

Z(

D
X
)
O
ζ
(1)

=
−→ End
k

ζ
).
We finish the section with a technical lemma to be used in Section 5.
2.3.1. Lemma. Let ν = d(η) be an integral character. Define a morphism
τ
ν
from

T

X
(1)
×
t
∗(1)
t

to itself by τ
ν
(x, λ)=(x, λ + ν). Then the Azumaya
algebras

D
X
and τ

ν
(

D
X
) are canonically equivalent.
Proof. Recall that to establish an equivalence between two Azumaya al-
gebras A, A

on a scheme Y (i.e. an equivalence between their categories of
modules) one needs to provide a locally projective module M over A⊗
O
Y
(A

)
op
such that A

=
−→ End
(A

)
op
(M), A


=
−→ End
A
(M). The sheaf π

(D

X
)
T,η
of sec-
tions of π

(D

X
) which transform by the character η under the action of T
carries the structure of such a module.
3. Localization of g-modules to D-modules on the flag variety
This crucial section extends the basic result of [BB], [BrKa] to positive
characteristic.
3.1. The setting. We define relevant triangulated categories of g-modules
and D-modules and functors between them.
3.1.1. Semisimple group G. Let G be a semisimple simply-connected
algebraic group over k. Let B = T · N be a Borel subgroup with the unipotent
radical N and a Cartan subgroup T . Let H be the (abstract) Cartan group of
G so that B gives isomorphism ι
b
=(T

=
−→ B/N

=
H). Let g, b, t, n, h be the
corresponding Lie algebras. The weight lattice Λ = X

(H) contains the set
LOCALIZATION IN CHARACTERISTIC P
957
of roots Δ and of positive roots Δ
+
. Roots in Δ
+
are identified with T -roots
in g/b via the above “b-identification” ι
b
. Also, Λ contains the root lattice Q
generated by Δ, the dominant cone Λ
+
⊆ Λ and the semi-group Q
+
generated
by Δ
+
. Let I ⊆ Δ
+
be the set of simple roots. For a root α ∈ Δ let α→ˇα ∈
ˇ
Δ
be the corresponding coroot.
Similarly, ι
b
identifies N
G
(T )/T with the Weyl group W ⊆ Aut(H). Let
W
aff
def
= W  Q ⊆ W

aff
def
= W  Λ be the affine Weyl group and the extended
affine Weyl group. We have the standard action of W on Λ, w : λ → w(λ)=
w·λ, and the ρ-shift gives the dot-action w : λ → w•λ = w•
ρ
λ
def
= w(λ + ρ) − ρ
which is centered at −ρ, where ρ is the half sum of positive roots. Both actions
extend to W

aff
so that μ ∈ Λ acts by the pμ-translation. We will indicate the
dot-action by writing (W, •), this is really the action of the ρ-conjugate
ρ
W of
the subgroup W ⊆ W

aff
.
Any weight ν ∈ Λ defines a line bundle O
B,ν
= O
ν
on the flag variety
B

=
G/B, and a standard G-module V
ν
def
=H
0
(B, O
ν
+
) with extremal weight ν.
Here ν
+
denotes the dominant W -conjugate of ν (notice that a dominant
weight corresponds to a semi-ample line bundle in our normalization). We
will also write O
ν
instead of π

(O
ν
) for a scheme X equipped with a map
π : X →B(e.g. a subscheme of

g

).
We let N⊂g

denote the nilpotent cone, i.e. the zero set of invariant
polynomials of positive degree.
3.1.2. Restrictions on the characteristic p. Let h be the maximum of
Coxeter numbers of simple components of G.IfG is simple then h = ρ, ˇα
0
+1
where ˇα
0
is the highest coroot. We mostly work under the assumption p>h,
though some intermediate statements are proved under weaker assumptions; a
straightforward extension of the main Theorem 3.2 with weaker assumptions
on p is recorded in the sequel paper [BMR2]. The main result is obtained for a
regular Harish-Chandra central character, and the most interesting case is that
of an integral Harish-Chandra central character; integral regular characters
exist only for p ≥ h, hence our choice of restrictions
3
on p.
Recall that a prime is called good if it does not coincide with a coefficient
of a simple root in the highest root [SS, §4], and p is very good if it is good
and G does not contain a factor isomorphic to SL(mp) [Sl, 3.13]. We will need
a crude observation that p>h⇒ very good ⇒ good.
For p very good g carries a nondegenerate invariant bilinear form; also g
is simple provided that G is simple [Ja, 6.4]. We will occasionally identify g
and g

as G-modules. This will identify the nilpotent cones N in g and g

.
3
The case p = h is excluded because for G =SL(p), p = h is not very good and
g


=
g

as
G-modules.

Tài liệu Luận văn: Phát triển mô hình cửa hàng tiện ích ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Luận văn: Phát triển mô hình cửa hàng tiện ích ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay pdf": http://123doc.vn/document/1039612-tai-lieu-luan-van-phat-trien-mo-hinh-cua-hang-tien-ich-o-viet-nam-trong-giai-doan-hien-nay-pdf.htm



5
3. Các loại hình kinh doanh bán lẻ.
3.1. Các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại.
Ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những mô hinh kinh doanh bán lẻ khác
nhau. Sự đa dạng của các mô hình cũng như đặc trưng của một mô hình cũng thể
hiện sự khác nhau ở từng quốc gia. Điều này được quyết định bởi đặc trưng của
mỗi nền kinh tế. Nhìn chung có thể phân kinh doanh bán lẻ ra thành các loại
hình như sau:
Đầu tiên là đại siêu thị (hyper market): là loại hình kinh doanh với diện
tích bán hàng khoảng trên 2500m2, với ít nhất 35% diện tích dành cho những
sản phẩm không thiết yếu. Đại siêu thị thường ở vị trí xa trung tâm hoặc đóng
vai trò trung tâm trong một khu mua sắm hay trung tâm mua sắm.
Thứ hai là các siêu thị ( super market): siêu thị được dùng nhiều nhất để
chỉ một diện tích bán hàng từ 400m2 đến 2500m2 với ít nhất 70% hàng hóa là
thực phẩm và các hàng hóa thường xuyên khác.
Thứ ba là các trung tâm thuơng mại (department store): là một nơi bán
hàng với diện tích bán hàng thường từ 2500m2 trở lên bán chủ yếu là các hàng
hóa phi thực phẩm và có ít nhất năm nhóm ngành hàng bố trí trong các khu vực
khác nhau, thông thường là ở các tầng khác nhau.
Trong trung tâm thương mại thường bày bán các mặt hàng cao cấp, giá
đắt và ngay cả các siêu thị bên trong các department store cũng có giá đắt hơn
các siêu thị thông thường.
Thứ tư là các trung tâm mua sắm (shopping mall): đặc điểm nổi bật của
loại hình này là có diện tích rất rộng, rộng hơn cả đại siêu thị hay trung tâm
thương mại. Bên trong trung tâm mua sắm thường có cả đại siêu thị, siêu thị,
trung tâm thương mại, rạp chiếu phim, siêu thị chuyên doanh…với rất nhiều dãy
nhà mà người tiêu dùng muốn đi hết các khu vực cũng phải mất cả ngày.
Thứ năm đó là loại hình cửa hàng tiện ích: là một loại cửa hàng nhỏ, diện
tích khoảng trên 50m2 chuyên bày bán các loại hàng thiết yếu phục vụ hàng
ngày cho người tiêu dùng.

6
Loại hình này thường được coi như là cánh tay kéo dài của các siêu thị,
đại siêu thị, len lỏi vào các khu dân cư để phục vụ người tiêu dùng một cách
nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả nhất.
Thứ sáu là loại hình cửa hàng chuyên doanh: cửa hàng này chỉ kinh doanh
duy nhất một loại mặt hàng hay nhóm hàng. Chẳng hạn như cửa hàng điện thoại
di động, cửa hàng chuyên doanh thực phẩm, cửa hàng điện máy…
3.2. Loại hình kinh doanh bán lẻ truyền thống.
Khác với các loại hình kinh doanh hiện đại thì kinh doanh bán lẻ truyền
thống kém đa dạng hơn mà chủ yếu gồm hai loại sau:
Thứ nhất: Chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản
phẩm, hàng hóa khác nhau. Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản
phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản
phẩm khác. Chợ thường được hình thành và xây dựng tại những nơi đông dân
cư, thường là những nơi trung tâm, đầu mối giao thông. Chợ kinh doanh theo
kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thường đông vào các ngày cuối
tuần.
Thứ hai là cửa hàng tạp hóa: là một cửa hàng nhỏ do các hộ kinh doanh cá
thể làm chủ. Cửa hàng tạp hóa bán các loại hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu
hàng ngày của người dân.
II. Mô hình cửa hàng tiện ích
1. Khái niệm
Như trên đã định nghĩa: cửa hàng tiện ích là một cửa hàng nhỏ, diện tích
khoảng trên 50m2, chuyên bày bán các loại mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu
hàng ngày cho người tiêu dùng một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất.
Đây là một phân khúc mới của thị trường bán lẻ mà nhiều nước trên thế
giới đã từng phát triển qua cách đây 12-13 năm. Qui mô nhỏ, đầu tư không lớn
nhưng mô hình cửa hàng tiện lợi có lợi thế là phục vụ nhanh và chu đáo.
2. Đặc trưng
Từ định nghĩa rút ra ở trên có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản sau:

7
Thứ nhất, diện tích nhỏ, đặt gần khu dân cư, ở những nơi tiện đường giao
thông.
Thứ hai, mặt hàng bày bán đa dạng phục vụ những nhu cầu thiết yếu của
người dân.
Thứ ba, cách trưng bày hàng hóa hiện đại, khoa học, tiện lợi cho người
mua.
Thứ tư, mở cửa thời gian tối đa trong ngày, có thể mở cửa 24h và suốt 7
ngày trong tuần.
Thứ năm, cách thức phục vụ hiện đại, thuận tiện bất kể thời gian, giao
hàng tận nhà cho khách hàng.
Thứ sáu, giá cả thường cao hơn so với các loại hình phân phối truyền
thống do cộng thêm các yếu tố tiện ích.
Thứ bảy, đối tượng phục vụ: phục vụ cho những khách hàng có ít thời
gian, có thu nhập tương đối, có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thời gian mà vẫn
đảm bảo số lượng, chất lượng, an toàn và vệ sinh.
Như vậy, cửa hàng tiện lợi về cơ bản bày bán các mặt hàng phục vụ mọi
nhu cầu thiết yếu của người dân giống như loại hình cửa hàng tạp hóa truyền
thống, nếu có thể thay thế được các cửa hàng tạp hóa thì sẽ thu được thắng lợi
lớn do thị trường cực kỳ rộng lớn.
3. Những ưu, nhược điểm của cửa hàng tiện ích so với các loại hình bán lẻ
khác
3.1. Những ưu điểm
Trước hết phải khẳng định rằng ưu thế lớn nhất, vượt trội nhất của các cửa
hàng tiện ích so với các kênh khác đó chính là yếu tố tiện ích, tiết kiệm thời
gian.
Đối với các kênh phân phối hiện đại như đại siêu thị, siêu thị và trung tâm
mua sắm thì cửa hàng tiện ích có một số đặc điểm ưu thế hơn như:
Đầu tư ít vốn: việc mở một cửa hàng tiện ích đơn giản hơn rất nhiều so
với mở một siêu thị hay đại siêu thị do vấn đề về mặt bằng vì một cửa hàng tiện

8
ích chỉ cần mặt bằng rộng khoảng 50m2 là có thể mở được trong khi một siêu thị
cần ít nhất là 400m2 chính vì thế sẽ thu hồi vốn được nhanh hơn.
Vị trí: Cũng vì thuận lợi hơn trong vấn đề mặt bằng nên các cửa hàng tiện
ích sẽ dễ dàng được mở ở gần khu dân cư hơn đáp ứng tốt hơn những nhu cầu
tức thời của người tiêu dùng.
Giá cả cạnh tranh hơn do đầu tư ít hơn và chi phí thấp hơn. Đây là một
đặc điểm hết sức quan trọng.
Cách thức phục vụ của cửa hàng tiện ích chu đáo hơn đối với khách hàng.
Điều này là đương nhiên vì một cửa hàng tiện ích nhỏ hơn với khối lượng khách
hàng ít hơn sẽ dễ dàng quan tâm đến khách hàng của họ hơn so với một siêu thị
hay đại siêu thị với lượng khách hàng đông hơn gấp nhiều lần.
Việc mở cửa với thời gian tối đa trong ngày cũng trở thành một lợi thế
của cửa hàng tiện ích khi mà các siêu thị, đại siêu thị hay các trung tâm thương
mại cũng chỉ mở cửa từ 7h sáng đến 9h đêm.
Đối với các kênh truyền thống thì cửa hàng tiện ích sang trọng hơn, hàng
hóa chất lượng hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hơn, cách trình bày bắt
mắt và khoa học hơn trong khi chợ hay các cửa hàng truyền thống thì luôn ồn
ào, lộn xộn hơn, thiếu tính thẩm mỹ hơn và đặc biệt hàng hóa không được đảm
bảo về chất lượng , an toàn.
Cửa hàng tiện ích đáp ứng nhu cầu mọi lúc, mọi nơi của người dân: Cũng
như siêu thị, trung tâm thương mại, các kênh phân phối truyền thống chỉ mở
cửa vào một thời gian nhất định trong ngày. Chợ thường chỉ mở cửa từ 5h sáng
còn cửa hàng tạp hoá cũng chỉ thường mở cửa từ 7h sáng đến 22h đêm.
Vị trí cũng là lợi thế của cửa hàng tiện ích so với kênh truyền thống. Điều
này được thể hiện rõ khi khách hàng có nhu cầu mua nhanh một thứ đồ thì thay
vì việc phải mất công gửi xe vào chợ mua hàng vừa mất thời gian vừa mất chi
phí họ sẽ ghé vào một cửa hàng tiện ích ngay bên đường và mua một cách nhanh
chóng, tiện lợi.

9
3.2. Nhược điểm.
Tuy có những ưu điểm hơn so với các loại hình kinh doanh khác, nhưng
cửa hàng tiện ích cũng có một số nhược điểm so với các kênh phân phối hiện đại
khác cũng như các kênh phân phối truyền thống:
Đối với các kênh phân phối hiện đại:
Do diện tích hẹp hơn nên vấn đề đa dạng hóa các loại mặt hàng không thể
sánh bằng các siêu thị được.
Đối tượng khách hàng sẽ hẹp hơn: đối với những khách hàng có thời gian
họ sẽ thích đi siêu thị với hàng hoá phong phú đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ
hơn là đi mua ở cửa hàng tiện ích. Không những thế đi siêu thị còn để ngắm
hoặc tham gia các tiện ích khác như: trò chơi điện tử…, nhiều người còn coi
việc đi siêu thị là hình thức giải trí cùng bạn bè người thân mỗi dịp cuối tuần.
Những điều này không thể thực hiện khi đi vào cửa hàng tiện ích.
Đối với các kênh truyền thống:
Giá cả ở cửa hàng tiện ích luôn cao hơn so với các kênh truyền thống như
chợ hay cửa hàng tạp hóa do phải cộng thêm các yếu tố tiện ích.
Đối với cửa hàng tạp hóa: Vốn đầu tư cho một cửa hàng tiện lợi lớn hơn
nhiều so với một cửa hàng tạp hóa, việc đào tạo nhân công, chăm sóc khách
hàng hay trang bị thiết bị hiện đại cũng tốn rất nhiều chi phí.
Đối với chợ: cửa hàng tiện lợi có không gian hẹp hơn và chắc chắn sẽ có
ít sự lựa chọn hơn cho khách hàng đặc biệt là đối với những loại mặt hàng rau,
củ, quả, thịt tươi sống
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hoạt động và phát triển của cửa hàng tiện
ích
4.1. Các nhân tố về khách hàng.
Thói quen tiêu dùng: là cách tiêu dùng được cố định dần dần từ hoàn cảnh
sống như: chỗ ở, đi lại, quy hoạch dân cư…đặc biệt là tính cách của người tiêu
dùng. Ví dụ: thói quen đi lại vào ban đêm, thói quen đi mua đồ ở chợ vào mỗi
sáng…Thói quen tiêu dùng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc

10

kinh doanh mô hình cửa hàng tiện ích nói riêng và đối với bất kỳ một hình thức,
một loại hình kinh doanh nào nói chung.
Nhu cầu tiêu dùng của người dân: một cửa hàng tiện ích chỉ có thể thành
công khi nó đáp ứng tốt những nhu cầu phù hợp với thói quen tiêu dùng của
khách hàng - đối tượng mà nó nhắm đến, có như vậy mới có thể thu hút ngày
càng đông khách hàng đến với mình. Do vậy kinh doanh cửa hàng tiện ích phải
luôn luôn tìm hiểu kỹ, nghiên cứu kỹ và tìm hiểu xem dịch vụ mình cung ứng có
phù hợp với thói quen và nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng hay không, từ
đó có thể có những biện pháp thay đổi mình hoặc tác động làm thay đổi thói
quen và nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nếu có thể. Khi đó cũng cần phải
nghiên cứu thật kỹ xem có thể thay đổi trong vòng bao lâu và bằng cách nào.
Thu nhập: thu nhập của người dân cao hay thấp cũng là một yếu tố rất
quan trọng, thu nhập sẽ ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng tiêu dùng của khách
hàng, do đó nếu thu nhập thấp khách hàng sẽ không sẵn sàng chi thêm cho
những khoản tiện ích và việc kinh doanh cửa hàng tiện ích sẽ gặp nhiều khó
khăn.
4.2. Những yếu tố về môi trường.
Môi trường quy hoạch: nơi ở như thế nào, có quy củ hay không có ảnh
hưởng rất lớn đến việc kinh doanh cửa hàng tiện ích. Một địa điểm quy hoạch
quy củ chẳng hạn như các khu chung cư không có sự xuất hiện lộn xộn của các
gánh hàng rong, các loại cửa hàng cóc thì cửa hàng tiện ích sẽ có cơ hội tốt để
phát triển hơn là những nơi có quá nhiều các loại hàng quán, hàng rong xuất
hiện. Đó là vấn đề về cạnh tranh và vấn đề thói quen tiêu dùng của người dân.
Sự phát triển của các loại hình kinh doanh bán lẻ khác – các đối thủ cạnh
tranh: siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại…Thị trường bán lẻ như một
miếng bánh ngọt có giới hạn được chia nhỏ thành nhiều phần cho nhiều loại
hình kinh doanh bán lẻ khác nhau, loại hình này được miếng lớn ắt loại hình
khác sẽ được miếng nhỏ hơn, cũng có thể các loại hình này cùng kết hợp với
nhau để làm cho chiếc bánh đó nở phồng lên, do vậy các loại hình khác phát
triển ra sao có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của cửa hàng tiện ích.
11

Yếu tố thuộc về nền kinh tế: một nền kinh tế phát triển hay kém phát triển
rõ ràng cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của loại hình kinh doanh cửa hàng
tiện ích. Cửa hàng tiện ích là một loại hình kinh doanh hiện đại, thích hợp phát
triển ở những nền kinh tế hiện đại, có lối sống văn minh, hiện đại và năng động.
Các yếu tố về khoa học – kỹ thuật: khoa học kỹ thuật phát triển một mặt
tạo điều kiện cho loại hình kinh doanh cửa hàng tiện ích có điều kiện thuận lợi
để có thể nâng cao tính tiện ích trong dịch vụ của mình mặt khác giúp các doanh
nghiệp có thể quản lý cửa hàng cũng như chuỗi cửa hàng một cách hiệu quả hơn
từ đó tạo điều kiện để kinh doanh cửa hàng tiện ích một cách hiệu quả.
Yếu tố luật pháp: những vấn đề về chính sách, định hướng phát triển cho
nền kinh tế như thế nào, những quy định về đăng ký kinh doanh có đơn giản hay
không, thủ tục ra sao, thời gian nhanh hay chậm… tạo điều kiện thuận lợi hay
rào cản cho việc kinh doanh.
4.3. Những yếu tố xuất phát từ doanh nghiệp
Đặc điểm hàng hóa doanh nghiệp bày bán: tính đa dạng của hàng hóa,
chất lượng của hàng hóa, vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn…có tốt không, giá cả
hàng hóa ra sao, có phù hợp với đối tượng khách hàng mà cửa hàng muốn nhắm
tới hay không. Tất cả những yếu tố đó có ý nghĩa quyết định tới việc giữ chân
khách hàng, tạo ra khách hàng trung thành cho cửa hàng, giúp cửa hàng có thể
tồn tại lâu bền trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Cách thức trưng bày hàng hóa, thiết kế cửa hàng cũng là một yếu tố quan
trọng. Đây là hình ảnh đầu tiên tạo nên ấn tượng đối với khách hàng. Nếu như
chất lượng hàng hóa có thể tạo nên khách hàng trung thành cho cửa hàng thì
hình ảnh bắt mắt và thân thiện, phù hợp với tâm lý khách hàng sẽ rất hiệu quả
trong việc thu hút khách hàng ngay lần đầu tiên xuất hiện. Đây là điều kiện tiên
quyết đối với việc kinh doanh của cửa hàng.
Dịch vụ: một trong những thế mạnh nổi trội nhất của cửa hàng tiện ích đó
là dịch vụ tận tình, chu đáo, mang lại sự tiện ích nhất đối với khách hàng. Dó đó
cung cách, thái độ phục vụ của nhân viên là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng cạnh tranh của cửa hàng.
12

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
một cửa hàng tiện ích. Tuy nhiên, ở mỗi cửa hàng khác nhau, và ở từng điều
kiện thời gian, không gian khác nhau thì mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố là
khác nhau. Nhiệm vụ của người kinh doanh là phải xác định được đâu là yếu tố
quyết định nhất đối với doanh nghiệp của mình trong từng thời điểm cụ thể để
có những bước đi đúng đắn.
5. Điều kiện ứng dụng mô hình cửa hàng tiện ích
Qua sự phân tích các nhân tố ảnh hưởng ở trên, ta có thể rút ra một cách
ngắn gọn những điều kiện ứng dụng mô hình cửa hàng tiện ích tốt nhất như sau:
Vị trí: cửa hàng tiện ích sẽ phát triển tốt ở những nơi đông dân cư, mật độ
người qua lại lớn, tiện đường giao thông như: gần chợ, gần công viên, bến tàu
xe, mặt đường…hoặc những nơi có quy hoạch hiện đại, văn minh, quy củ, nơi
vắng bóng những loại cửa hàng nhỏ, hàng rong…
Khách hàng: cửa hàng tiện ích sẽ phát triển tốt khi người dân có thu nhập
cao, đủ điều kiện chi trả cho những tiện ích cộng thêm, những người bận rộn, có
ít thời gian dành cho mua sắm, và có phong cách tiêu dùng hiện đại.
Thị trường: cửa hàng tiện ích đặc biệt phù hợp cho những thị trường hiện
đại, nền kinh tế sôi động, nhịp độ nhanh. Cũng sẽ rất tốt nếu cửa hàng tiện ích
được xây dựng ở những nơi mà thị trường bán lẻ còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu
tính liên kết, tiềm năng lớn trong khi vẫn còn rất nhiều lỗ hổng thị trường. Khi
đó, cửa hàng tiện ích đóng vai trò lấp chỗ trống thị trường.
Tùy vào từng nơi mà mỗi điều kiện trên được thỏa mãn ở những mức độ
khác nhau. Nếu như nơi nào thỏa mãn được càng nhiều những điều kiện trên thì
cửa hàng tiện ích sẽ rất có triển vọng phát triển.
13

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG KINH DOANH CỬA HÀNG
TIỆN ÍCH Ở VIỆT NAM
I. Khái quát thị trường bán lẻ Việt Nam
1. Thực trạng phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay.
Thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều ưu điểm cũng như nhược điểm còn
tồn tại. Nhìn chung, có thể thấy một số đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, quy mô thị trường Việt Nam còn nhỏ so với một số nước xét theo
tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn như doanh thu bán
lẻ hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc cũng như Ấn Độ lớn hơn rất nhiều lần
của Việt Nam.

Bảng 2: Quy mô thị trường bán lẻ theo doanh thu.
Đơn vị tính: tỷ USD.
Năm
Việt Nam Trung Quốc Ấn Độ
2004 26 628 180
2005 32 670 215
2006 37 754 305
2007 45 848 320
2008 58 955 353
Nguồn: A. T. Kearney
Thứ hai, thị trường bán lẻ Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao. Tuy xét
về tổng mức doanh thu bán lẻ và diện tích mặt bằng bán lẻ thì thị trường bán
lẻ Việt Nam vẫn là thị trường có quy mô nhỏ nhưng phát triển rất nhanh,
tiềm năng lớn, có sức hấp dẫn đối với cả các nhà đầu tư trong nước lẫn các
nhà đầu tư nước ngoài.

14

Bảng 3: Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá
thực tế và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Năm Tổng mức bán lẻ
và doanh thu dịch
vụ (tỷ đồng)
Tốc độ tăng trưởng
doanh thu bán lẻ và
dịch vụ (%)
Tốc độ tăng
trưởng
GDP(%)
2000 220410.6 9,7 6.79
2001 245315.0 11.3 6.89
2002 280884.0 14.5 7.08
2003 333809.3 18.84 7.34
2004 398524.5 19.39 7.79
2005 480293.5 20.52 8.44
2006 596267.1 24.15 8.23
2007 739007.6 23.94 8.48
2008 968100.0 31.1 6.23
Nguồn: tổng cục thống kê
Từ bảng số liệu ta thấy trong vòng 5 năm kể từ 2001 đến 2005, tổng mức
bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của nước ta đạt 1737,8 tỷ đồng, tốc độ
tăng trưởng bình quân là : 2001- 2005: tăng 18,3 %/năm.
2006- 2008: tăng 25%/năm.
Tốc độ tăng trưởng của thị trường bán lẻ luôn luôn cao hơn rất nhiều so với
tốc độ tăng trưởng của GDP cho thấy mức hấp dẫn của thị trường là rất lớn.
Những con số tăng trưởng cao này bị tác động không nhỏ bởi trượt giá, xong
nếu trừ đi trượt giá, tốc độ tăng trưởng vẫn ở mức ấn tượng, khoảng 10- 15%
năm 2008.

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Nghiên cứu giải pháp bảo vệ xâm nhập mạng không dây


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Nghiên cứu giải pháp bảo vệ xâm nhập mạng không dây": http://123doc.vn/document/1040593-nghien-cuu-giai-phap-bao-ve-xam-nhap-mang-khong-day.htm


5

1.2.6. Một số chuẩn khác
Ngoài các chuẩn phổ biến trên, IEEE còn lập các nhóm
làm việc độc lập để bổ sung các quy định vào các chuẩn
802.11a, 802.11b, và 802.11g nhằm nâng cao tính hiệu quả,
khả năng bảo mật và phù hợp với các chuẩn cũ như: IEEE
802.11c, IEEE 802.11d, IEEE 802.11e, IEEE 802.11f, …
1.3. Cấu trúc và mô hình mạng WLAN
1.3.1. Cấu trúc cơ bản của mạng WLAN
Mạng sử dụng chuẩn 802.11 gồm có 4 thành phần chính :
 Hệ thống phân phối (Distribution System - DS)
 Điểm truy cập (Access Point)
 Tần số liên lạc vô tuyến (Wireless Medium)
 Trạm (Stations)

Hình 1.1 – Cấu trúc cơ bản của một mạng WLAN.
1.3.2. Các mô hình mạng WLAN
Mô hình mạng độc lập IBSS hay còn gọi là mạng Ad-
hoc: Các trạm (máy tính có hỗ trợ card mạng không dây) tập
6

trung lại trong một không gian nhỏ để hình thành nên kết nối
ngang cấp (peer-to-peer) giữa chúng.
Mô hình mạng cơ sở: các Client liên lạc với nhau thông
qua Access Point (AP). AP là điểm trung tâm quản lý mọi sự
giao tiếp trong mạng. Để giao tiếp với nhau các Client phải gửi
các Frame dữ liệu đến AP, sau đó AP sẽ gửi đến máy nhận.
Mô hình mạng mở rộng: Nhiều mô hình BSS kết hợp với
nhau gọi là mô hình mạng ESS. Là mô hình sử dụng từ 2 AP
trở lên để kết nối mạng. Khi đó các AP sẽ kết nối với nhau
thành một mạng lớn hơn, phạm vi phủ sóng rộng hơn, thuận lợi
và đáp ứng tốt cho các Client di động.
Một số mô hình mạng WLAN khác: Mô hình Roaming,
Mô hình khuyếch đại tín hiệu, Mô hình Point to Point, Mô hình
Point to Multipoint
1.4. Đánh giá ưu, nhược điểm và thực trạng mạng WLAN
hiện nay
1.4.1. Ưu điểm
 Khả năng lưu động cải thiện hiệu suất và dịch vụ
 Cài đặt đơn giản
 Giảm bớt giá thành sở hữu
 Tính linh hoạt
 Khả năng mở rộng
7

1.4.2. Nhược điểm
Ngoài rất nhiều sự tiện lợi và những ưu điểm được đề cập
ở trên thì cũng có các nhược điểm như:
 Bảo mật: Môi trường kết nối là không khí nên khả năng
bị tấn công là rất cao.
 Phạm vi: nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu người dùng
 Độ tin cậy: tín hiệu bị nhiễu, bị giảm do tác động của
các thiết bị khác
 Tốc độ chậm
1.4.3. Thực trạng mạng WLAN hiện nay
Chúng ta có thể dễ dàng kết nối mạng không dây tại
nhiều địa điểm như: trường học, văn phòng,… hoặc ngay tại
gia đình bằng nhiều thiết bị hiện đại như : laptop, PDA Tuy
nhiên, vẫn còn một số tồn tại như :
 Không thay đổi mật khẩu của nhà sản xuất
 Không kích hoạt các tính năng mã hóa
 Không kiểm tra thường xuyên chế độ bảo mật
 Kích hoạt phương pháp bảo mật cấp thấp hoặc không
kích hoạt.




8

Chương 2 – BẢO MẬT TRONG WLAN
2.1. Sơ lược về bảo mật trong mạng không dây WLAN
Bất cứ một mạng nào, cả không dây lẫn có dây, đều có
những lỗ hổng về mặt kỹ thuật cho phép tin tặc có thể xâm
nhập vào hệ thống để ăn cắp thông tin hay phá hoại, do đó trên
thực tế sẽ không có một mạng nào được xem là bảo mật tuyệt
đối. Vì vậy, người ta thường phải sử dụng nhiều kỹ thuật bảo
mật đi kèm với các mạng để bảo đảm tính an toàn cho mạng.
Đối với mạng không dây có thể sử dụng các phương pháp mã
hóa để bảo đảm tính bí mật của thông tin, sử dụng các cơ chế
chứng thực để kiểm tra tính hợp pháp của người dùng.
2.1.1. Vai trò của bảo mật mạng không dây WLAN
Vì mạng Wireless truyền và nhận dữ liệu dựa trên sóng
vô tuyến và vì AP phát sóng lan truyền trong bán kính cho
phép nên bất cứ thiết bị nào có hỗ trợ truy cập Wireless đều có
thể bắt sóng này. Cho nên rủi ro thông tin bị các Hacker “mũ
đen” đánh cắp hoặc nghe trộm rất cao.
Vì dữ liệu được truyền qua sóng vô tuyến nên tính bảo
mật của WLAN cần giải quyết các vấn đề sau đây:
 Ngăn chặn thông tin người dùng bị tấn công khi thực
hiện quá trình đàm phán xác thực thông tin truy cập vào mạng.
 Sau khi chứng thực hoàn tất, phải bảo đảm an toàn riêng
tư dữ liệu được truyền đi giữa máy khách và điểm truy cập.
9

 Kiểm tra chắc chắn rằng người dùng được phép truy cập
vào mạng.
2.1.2. Mô hình chung của bảo mật mạng không dây WLAN

 Device Authorisation: xác thực thiết bị theo địa chỉ MAC
 Encryption: hỗ trợ WEP, 3DES, TLS
 Authentication: xác thực quyền truy nhập
 Firewall: quản lý lưu lượng chung
 VPN: cho phép client thiết lập phiên VPN
2.2. Những đe dọa an ninh mạng
2.2.1. Những nguy hiểm cho an ninh mạng
Bảo mật có thể được định nghĩa như là sự giữ gìn để
tránh khỏi việc người khác làm những gì mà người sử dụng
không muốn. Các nguy hiểm an ninh có thể đến từ các hacker,
những kẻ đột nhập, một tổ chức, người trong nội bộ.
10

2.2.2. Một số kiểu tấn công WLAN cơ bản
 Tấn công bị động: không để lại một dấu vết nào chứng tỏ
đã có sự hiện diện của hacker trong mạng vì hacker không thật
sự kết nối với AP để lắng nghe các gói tin truyền trên đoạn
mạng không dây.
 Tấn công chủ động: có thể được sử dụng để truy cập vào
server và lấy được những dữ liệu có giá trị hay sử dụng đường
kết nối Internet của doanh nghiệp để thực hiện những mục đích
phá hoại hay thậm chí là thay đổi cấu hình của hạ tầng mạng.
Bằng cách kết nối với mạng không dây thông qua AP, hacker
có thể xâm nhập sâu hơn vào mạng hoặc có thể thay đổi cấu
hình của mạng.
 Tấn công chèn ép (Jamming)
Jamming là một kỹ thuật được sử dụng đơn giản chỉ để
làm hỏng (shut down) mạng không dây của người sử dụng
bằng cách gây nghẽn tín hiệu RF.
 Tấn công thu hút (Man-in-the-middle Attack): là kiểu tấn
công mà hacker sử dụng một AP để đánh cắp các node di động
bằng cách gửi tín hiệu RF mạnh hơn AP hợp pháp đến các
node đó. Các node di động nhận thấy có AP phát tín hiệu RF
tốt hơn nên sẽ kết nối đến AP giả mạo này, truyền dữ liệu có
thể là những dữ liệu nhạy cảm đến AP giả mạo và hacker có
toàn quyền xử lý.
11

2.3. Kiến trúc mạng
2.3.1. Kiến trúc mạng WLAN điển hình

2.3.2. Kiến trúc mạng WLAN với giải pháp tường lửa vô
tuyến
Kiến trúc mạng có thể bị thay đổi bằng cách bổ sung một
tường lửa nhận thực vô tuyến điều chỉnh truy nhập tới LAN
bằng cách chỉ cho phép người sử dụng qua sau khi họ đã nhận
thực.

2.4. Các phương thức bảo mật trong WLAN
12

2.4.1. Các giao thức bảo mật chủ yếu
 WEP: là một giao thức nhằm bảo vệ sự trao đổi thông
tin chống lại sự nghe trộm, chống lại những kết nối mạng
không được phép cũng như chống lại việc thay đổi hoặc làm
nhiễu thông tin truyền. WEP sử dụng stream cipher (Mật mã)
RC4 cùng với một mã 40 bit và một số ngẫu nhiên 24 bit
(initialization vector – IV) để mã hóa thông tin.
Giải thuật WEP thực chất là giải thuật giải mã hóa RC4.
Nó được xem như là một giải thuật đối xứng vì sử dụng cùng
khóa cho mật mã hóa và giải mật mã UDP (Protocol Data Unit)
văn bản gốc. Mỗi khi truyền, văn bản gốc XOR theo bit với
một luồng khóa (keystream) giả ngẫu nhiên để tạo ra một văn
bản được mật mã.
Ưu điểm của WEP
- Mật mã hóa mạnh, đáng tin cậy. Việc khôi phục khóa bí
mật rất khó khăn. Khi độ dài khóa càng dài thì càng khó để
khôi phục.
- Tự đồng bộ hóa. Không cần giải quyết mất các gói. Mỗi
gói chứa đựng thông tin cần để giải mã nó.
- Hiệu quả: do triển khai ở cả phần cứng hoặc phần mềm
và chi phí triển khai thấp
Nhược điểm của WEP
13

- Không có cơ chế xác thực tập trung hay xác thực dựa trên
người dùng.
- Không hỗ trợ quản lý khóa, tức là không có cơ chế sinh
khóa và phân phát khóa tự động.
- Không có cơ chế xác thực lẫn nhau, chỉ mạng mới xác
thực được người dùng, còn người dùng không thể xác thực
được mạng. Kết quả các AP giả mạo có thể đóng vai một AP
hợp lệ và thu thập dữ liệu từ máy và người dùng.
- Không có cơ chế ngăn chặn truyền lại.
- Dùng lại IV
 WPA
WPA sử dụng thuật toán RC4 nhưng mã hoá đầy đủ 128
bit và dành ra 64 bit cho chứng thực để tạo ra sự bảo mật tốt
hơn. Năm 2004 giải pháp TKIP (Temporal Key Integrity
Protocol-Toàn vẹn khóa tạm thời) được IEEE đưa vào WPA
nhằm vá những vấn đề bảo mật trong cài đặt mã dòng RC4.
TKIP dùng hàm băm (hashing) IV để chống lại việc giả mạo
gói tin, nó cũng cung cấp phương thức để kiểm tra tính toàn
vẹn của MIC (Message Integrity Check- bản tin phi tuyến) để
đảm bảo tính chính xác của gói tin. TKIP của WPA sử dụng
khóa động bằng cách đặt cho mỗi frame một chuỗi số riêng để
chống lại dạng tấn công giả mạo. Bởi WPA thay đổi khoá liên
14

tục nên hacker không bao giờ thu thập đủ dữ liệu mẫu để tìm ra
mật khẩu.
Ưu điểm của WPA
- Việc sử dụng TKIP đã làm cho WPA có sức bảo mật tốt
hơn do các khóa khi truyền tin được thay đổi liên tục.
- Do hỗ trợ việc kiểm tra tính toàn vẹn nên dữ liệu được
bảo vệ tốt hơn trên đường truyền.
- Việc tích hợp với các máy chủ xác thực RADIUS để cho
phép quản lý, kiểm toán và khai thác mạng WLAN một cách
an toàn cao.
- Dễ dàng nâng cấp các thiết bị phần cứng như card mạng
và AP đơn giản bằng cách thay đổi phần mềm điều khiển giúp
cho chi phí nâng cấp không đáng kể.
Nhược điểm của WPA.
- Với WPA Personal thì có thể việc sử dụng hàm thay đổi
khoá TKIP, được sử dụng để tạo ra các khoá mã hoá nếu bị
phát hiện hacker có thể đoán được khoá khởi tạo hoặc một
phần của mật khẩu và họ có thể xác định được toàn bộ mật
khẩu, do đó có thể giải mã được dữ liệu.
- Khi sử dụng WPA-PSK thì việc cài đặt trở nên phức tạp,
không phù hợp cho người dùng gia đình điển hình.