LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đề án thực trạng và biện pháp khác phục lạm phát ở Việt Nam": http://123doc.vn/document/542538-de-an-thuc-trang-va-bien-phap-khac-phuc-lam-phat-o-viet-nam.htm
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa. Các nhà
doanh nghiệp thấy rằng khi lạm phát khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sán
xuất sẽ gặp rủi ro cao. Do có nhiều người tham gia vào quá trình lưu thông nên lĩnh vực
này trở nên hỗn loạn. Tiền vừa ở trong tay người bán xong lại nhanh chóng bị đẩy ra
khỏi kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tăng vọt thúc đẩy lạm phát gia tăng. Người giầu
thùa tiền dùng tiền vơ vét, thu gom hàng hóa, tài sản làm mất cân đối cung- cầu hàng
hóa, giá cả hàng hóa tăng lên làm lạm phát gia tăng
Tác động đến lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số
người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống ngân hàng, do lượng
tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với sự
sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những
người đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi vay, họ là những
người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền. Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng
không còn bình thường nữa mà lâm vào khủng hoảng. Chức năng kinh doanh tiền tệ bị
hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát chẳng có
ai tích trữ tiền mặt. Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, hệ thống
ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định mà lãi suất thực = lãi suất
danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, vậy muốn giữ lãi suất ổn định thì lãi suấy danh nghĩa cùng
một tỉ lệ với tỷ lệ lạm phát.
Trong khi đó người đi vay lại thấy có lợi lớn nhờ sự mất giá nhanh chóng của
đồng tiền nên đi vây nhiều hơn. Do vậy hoạt động của ngân hàng không còn cân bằng
nữa. Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế bởi khi có lạm phát không ai muốn tích
trữ tiền dưới hình thức tiền mặt nữa.
Tác động đến cán cân ngân sách - chính của Nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa, khi lạm
phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá hủy do biến động giá cả làm cho thị
trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém.
Đồng thời, lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủ sức
cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi, an sinh xã hội…các ngành, các lĩnh vực
dự định được chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có. Một khi ngân
sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội
sẽ không có điều kiện thực hiện được.
5
Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đế mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tuy
nhiên không nên chỉ nhìn nhận mặt tiêu cực của vấn đề, ở đây cũng vậy, cần thấy rằng,
lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều kiện thuận lợi góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bên cạnh những tác hại không đáng kể. Vì vậy, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ
nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế, kể cả nền kinh tế thị trường
phát tiển. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
3. Phân loại lạm phát
Có nhiều cách khác nhau để phân loại lạm phát. Dựa trên các tiêu thức khác nhau
sẽ có cách phân loại khác nhau
Căn cứ vào định lượng:
- Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10%/năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ này
nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động được ổn
định. Những tác động của lạm phát này là không đáng kể vì vậy nó thường được các
nước duy trì để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Lạm phát phi mã: Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
con số trong một năm. Lạm phát này sẽ làm cho giá cả tăng nhanh chóng, gây biến
động lớn về kinh tế. Lúc này người dân tich trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động sản và
không cho vay với mức lãi suất bình thường, ngân hàng không huy động được vốn,…
Lạm phát này ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập, là mối đe dọa đối với sự ổn
định của nền khinh tế- xã hội.
- Siêu lạm phát: 3 con số 1 năm, lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng lên với
tốc độ rất nhanh. Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã. Lạm phát này
làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng: tiền lương thực tế
giảm mạnh, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng, hoạt động
sản xuất kinh doanh lâm vào tình trạng bị rối loạn, mất phương hướng
Căn cứ vào định tính
- Lạm phát cân bằng: giá cả tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất hưởng đến đời sống hàng ngày của người
lao động và đến nền kinh tế nói chung.
- Lạm phát không cân bằng: Giá cả tăng không tương ứng với thu nhập thực tế của
người lao động
6
- Lạm phát dự đoán trước được: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời
ký tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có thể dự đoán
trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo. Về mặt tâm lý, người dân đã quen với
tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước, nên lạm phát này không gây ảnh
hưởng đến đời sống – kinh tế.
- Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước đến giờ chưa xuất hiện.
Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích
nghi. Từ đó, loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của
người dân vào chính quyền có phần giảm sút.
4. Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo ( Demand pull – inflation):
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung - cầu. Nguyên nhân dẫn đến việc
tăng cầu hoặc hàng hóa dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm
tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá
mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công
suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự ra tăng của cầu. Sự mất
cân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầu kém
xuất hiện.
Lạm phát do chi phí đẩy( cost push- inflation):
Lạm phát này phát sinh khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu. Ta có một
số trường hợp chi phí đẩy:
- Chi phí tiền lương: tiền lương gia tăng do áp lực từ chính sách tăng lương của
chính phủ, từ áp lực của công đoàn… Cần lưu ý trường hợp tiền lương tăng lên do sức
ép của thị trường, do nhu cầu mở rộng của doanh nghiệp thì chỉ được xem là lạm phát
do cầu kéo.
- Lợi nhuận: nếu doanh nghiệp thuộc loại có quyền lực trên thị trường (doanh
nghiệp độc quyền, nhóm độc quyền), để nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận cao, doanh
nghiệp sẽ đẩy giá tăng lên độc lập với tổng cầu.
- Nguồn tài nguyên cạn kiệt: khi các nguồn tài nguyên bị khai thác ngày càng cạn
kiệt thì tất yếu sẽ làm cho giá cả dần tăng lên, gia tăng chi phí của doanh nghiệp và từ
đó doanh nghiệp muốn có lời phải đẩy giá cả háng hóa tăng lên.
Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục:
7
Theo quan điểm cảu các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ, khi cung tiền tệ tăng và
kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài gây lạm phát. Có thể thấy ngưỡng tăng cung
tiền tệ để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng. Khi nền kinh tế chưa toàn dụng thì
nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều, chưa khai thác nhiều. Có nhiều nhà máy, xí
nghiệp bị đóng của chưa đi vào hoạt động. Do nhân viên nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất
nghiệp cao… trong trường hợp này khi tăng cung tiền tệ thì dẫn đến lãi xuất giảm đến
một mức độ nào đó, các nhà đầu tư thấy rằng có thể có lãi và đầu tư tăng nhiều. Từ đó
các nhà máy, xí nghiệp mở cửa để sản xuất, kinh doanh. Lúc này nguyên nhiên vật liệu
bắt đầu được khai thác, người lao động có việc làm và sản lượng tăng lên. Ở nền kinh tế
toàn dụng, các nhà máy, xí nghiệp được hoạt động hết công suất, nguồn nguyên nhiên
vật liệu được khai thác tối đa. Khi đó lực lượng lao động được sử dụng một cách triệt để
và làm sản lượng tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên tình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc
nghẽn trong lưu thông. Chẳng hạn khi các nhà máy, xí nghiệp hoạt động hết công suất
sẽ dẫn đến thiếu năng lượng, thiếu lao động, nguyên vật liệu dần bị han hiếm… Vai trò
của chính phủ và các nhà quản lý phải xác định được kênh lưu thông nào bị tắc nghẽn
và tìm cách khơi thông nó. Nếu không sẽ gây ra lạm phát. Lúc đó sản lượng không tăng
mà giá cả tăng nhiều thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Trong việc chống lạm phát các Ngân
hàng trung ương luôn giảm sút việc cung tiền. Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt
được bằng hai cách: Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều
kiện kinh doanh tốt ) hoặc các ngân hàng thương mại có thẻ tăng tín dụng. Trong cả hai
trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí. Về mặt trung và dài hạn,
điều đó dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng. Nếu cung không tăng tương ứng với
cầu thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá. Tuy nhiên giá cả sẽ không tăng
ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm. In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn
đến lạm phát nghiêm trọng. Ví dụ năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng
tiền để trả cho những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng
từ 3%(năm 1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng,
nghĩa là (i) và (Y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi.
Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với tỷ lệ tương ứng.
Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây cũng chính là lý do tại sao Ngân hàng
Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
Các nguyên nhân khác:
Ngoài các nguyên nhân chủ yếu đã đề cập ở trên ,một số các nguyên nhân khác
cũng gây ra lạm phát. Thứ nhất có thể kể đến là tâm lý của dân cư. Khi người dân không
tin tưởng vào đồng tiền của Nhà nước, họ sẽ không giữ tiền mà đẩy vào lưu thông bằng
8
việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một lĩnh lực kinh doanh nào đó… Như thế
cầu sẽ tăng lên mà cung cấp không đáp ứng được cân bằng cung cầu trên thị trường
hang hoá không còn nữa và tiếp tục đẩy giá lên cao, từ đó lạm phát sẽ xảy ra. Có thể
thấy giá cả tăng lên làm tiêu dùng tăng, cứ như vậy sẽ gây ra xoáy ốc lạm phát. Thứ hai
thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng cung ứng tiền tệ và
gây ra lạm phát cao.
Khi chính phủ lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách thì có thể khắc phục bằng
cách phát hành trái phiếu chính phủ đẻe vay vốn từ người dân nhằm bù đắp phần thiếu
hụt. Biện pháp này không làm ảnh hưởng đến cơ số tiền và do vậy mà làm tăng mức
cung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát. Tuy nhiên khi sự thâm hụt trầm trọng và kéo
dài thì chính phủ phải áp dụng biện pháp in tiền. Việc phát hành tiền sẽ ảnh hưởng đến
cơ số tiền tệ làm tăng mức cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm tỷ lệ
lạm phát. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, việc phát hành trái phiếu chính
phủ gặp nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạn chế. Biện pháp in tiền
được coi là có hiệu quả nhất. Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều và càng kéo
dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn.
Còn đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc tiến hành trái phiếu có
lợi hơn. Nhưng việc tiến hành trái phiếu này kéo dài sẽ làm cầu về về vốn sẽ tăng và
làm lãi suất sẽ tăng cao hơn. Lúc này để giảm lãi suất trên thị trường Ngân hàng Trung
ương lại phải mua vào các trái phiếu đó. Như thế mức cung tiền lại tăng thêm dễ gây
lạm phát.
Tóm lại, nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường hợp vẫn làm tăng
cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.
Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái. Khi tỷ giá tăng đồng
bản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong nước muốn đẩy giá hàng
lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái. Mặt khac khi tỷ giá hối đoái tăng ,chi phí
cho các nguyên vật liệu, hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên. Do đó giá cả của các hàng hoá
này tăng lên cao. Đây chính là lạm phát do chi phí đẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách
thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, mất cân đối cũng xảy ra lạm phát.
5. Biện pháp khắc phục lạm phát
Khi lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ gây ra những hậu quả lớn, ảnh hưởng trầm
trọng đến đời sống nhân dân lao động và sự tăng trưởng kinh tế. Ở mỗi nước tỷ lệ lạm
phát khác nhau với những nguyên nhân và tác động khác nhau. Do đó chính phủ ở các
9
nước sẽ có những biện pháp khác nhau. Tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể chính phủ sẽ áp
dụng biện pháp tình thế và các biện pháp có tính chiến lược .
Từ lịch sử chống lạm phát ở các nước ta có những biện pháp điển hình sau:
- Những biện pháp tình thế: là những biện pháp áp dụng nhằm làm giảm tức thời
cơn sốt lạm phát
Đầu tiên biện pháp tình thế mà các nước thường áp dụng là giảm lượng tiền cung
ứng trong lưu thông. Đây được gọi là biện pháp thắt chặt lượng cung tiền tệ hay còn gọi
là đóng bảng tiền tệ. Cụ thể là Ngân hàng trung ương ngừng thực hiện các nghiệp vụ
chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng, dừng việc mua vào các chứng
khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền đề bù đắp bội chi ngân sách
nhà nước .Bên cạnh đó, để làm giảm lượng tiền cung ứng thì ngân hàng trung ương sẽ
bán các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ, phát hành các công cụ nợ của chính phủ để
vay tiền trong nền kinh tế. Và ngân hàng cũng có thể ấn định mức lãi xuất cao, từ đó sẽ
khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp gửi tiền không kì hạn,
dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm.
Tiếp đến, đẻ khắc phục lạm phát chính phủ có thể sử dụng biện pháp thắt chặt chi
tiêu của mình như giảm cầu tiêu dùng của chính phủ, làm giảm sự tăng nhanh của tổng
cầu. Nhà nước cũng có thể hạn chế tăng tiền lương làm giảm lượng cầu chi tiêu của dân
cư. Ngoài ra chính phủ có thể đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài… Một biện pháp nữa
được áp dụng là cải cách tiền tệ khi tỷ lệ lạm phát tăng quá cao trong khi các biện pháp
nêu trên chưa đạt được hiệu quả.
- Cùng với những biện pháp tình thế, các nước còn sử dụng các biện pháp chiến
lược nhằm tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và làm cho cơ số tiền tệ ổn
định bền vững. Đó là các biện pháp:
Đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hoá, mở rộng lưu thông hàng hoá. Hàng hoá
trong nước ngày càng nhiều, quỹ hang tăng lên với số lượng, chủng loại đa dạng phong
phú. Ngoài ra chính phủ còn nhập hàng hoá về để bổ xung cho hàng hoá thiếu hụt trong
nước. Xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ để bán cho dân chúng, phát triển các ngành sản
xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch. Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược cạnh
tranh hoàn hảo: Sản phẩm để người tiêu dùng chấp nhận được là yếu tố quan trọng. Như
vậy cần phải cạnh tranh giá cả bằng việc tìm mọi cách giảm chi phí.
Biện pháp chiến lược khác là kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế
quản lý hành chính. Điều này sẽ làm giảm mức chi tiêu thường xuyên của Ngân sách
nhà nước. Mặt khác cần phải tăng cường công tác quản lý điều hành Ngân sách nhà
10
nước dựa trên việc tăng các khoản thu cho Ngân sách một cách hợp lý chống thất thu
như thất thu về thuế và điều chỉnh các khoản chi phí
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. Lịch sử của lạm phát triển
Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát cũng đã tồn tại của nó không công khai,
các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam không sử dụng khái niệm lạm phát mà
chỉ sử dụng cụm từ “ chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và tiền" "Thị trường vật
giá không ổn định…”
Sau một thời gian, lạm phát đã bộc phát công khai với mức bộc phát phi mã.
Đảng đã kịp thời nhận định tình hình này.
“ Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách đúng
đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang nặng tính bao cấp và
một thời gian dài vượt quá nguồn thu. Việc sử dụng vốn vay và viện trợ kém hiệu
quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
thâm hụt ngân sách trầm trọng “.
Trong điều hành vĩ mô phát triển nền kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều phải
quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ để chống lạm phát. Đối với nước ta hiện
nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt ra trong điều hành
của chính phủ, của các nhà quản lý vì sự phát triển và ổn định. Và về phương diện
này, Việt Nam đã thành công. Lạm phát đã giảm từ hơn 70% một năm vào năm 1986
xuống còn 35% một năm vào năm 1989. Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả
từ nhiều yếu tố như tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn,
ngươi dân không còn tồn trữ hàng hoá, vàng và đô la bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền
trong nước, xuất khẩu dàu thô ngày càng tăng…Tuy nhiên, những tiến bộ vượt bậc
trong năm 1989 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ và tài khoản
thận trọng, do đó trong các nhu năm 1992 và 1993, giá cả đã tăng gần 70% năm.
Lịch sử lạm phát ở Viêt Nam có thể chia thành những thời kì như sau:
- Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1980 trở về trước, lạm phát được hiểu giống như
chủ nghĩa Mác, cho nên chống lạm phát là tìm mọi cách hạn chế việc phát hành tiền vào
lưu thông.
Giai đoạn 1938-1945: Ngân hàng Đông Dương cấu kết với chính quyền thực dân
Pháp đã lạm phát đồng tiền Đông Dương để voư vét của cải của nhân dân Việt Nam. Số
tiền đó được đem về Pháp đóng góp cho cuộc chiến chống phát xít Đức. Hậu quả năng
11
nề của lạm phát là nhân dân Việt Nam phải chịu giá sinh hoạt từ năm 1939-1945 bình
quân là 25 lần.
- Giai đoạn 1946-1954: chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà do chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay cho đòng Đông Dương và
sau đó là đòng ngân hàng thay cho sức người, sức của toàn dân tiến hành cuộc kháng
chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, kết quả giải phóng hoàn toàn nửa đất nước.
- Giai đoạn 1955-1965: chính phủ tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam liên tục lạm
phát đồng tiền miền Nam để bù lại cuộc chiến tranh chống lại phong trào giải phóng dân
tộc ở miền Nam. Mặc dù được chính phủ Mỹ đổ vào miền Nam một khối lượng hàng
viện trợ khổn lồ, giá trị hàng trăm tỉ USD cũng không thể bù đắp được chi phí bỏ ra.
- Giai đoạn 1965-1975: ở miền Bắc Việt Nam, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hoà phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh phá
hoại của Mỹ tại miền Bắc, giải phóng miền Nam thốn nhất đất nước, đã phát hành số
tiền lớn (gấp 3 lần tiền lưa thông của năm1965 ở miền Bắc) để huy động lực lượng toàn
dân đánh thắng quân xâm lược. Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung
Quốc các nước XHCN anh em nên chúng ta đã hạn chế được lạm phát trong thời gian
này.
- Giai đoạn 1981-1988: Lạm phát Việt Nam đã có từ rất lâu song ở đây tôi muốn
nói đến giai đoạn 1981-1988. Trong giai đoạn 1976-1980, lạm phát Việt Nam “ngầm”,
nghĩa là tuy chỉ số giá cả do nhà nước ấn định tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá cả ở
thị trường tự do tăng khá cao, mức tăng đã vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng,
cũng như thu nhập quốc dân: trong thời gian 1976-1980, giá trị tổng san lượng tính theo
giá năm 1982 đã tăng 5,8%, thu nhập quốc dân sản xuất tăng 1,5%, nhưng mức giá trị
đã tăng 2,62 lần.
Bước vào những năm 80, lạm phát đã bột phát “công khai”, và trở thành lạm phát
phi mã với mức tăng giá 3 chứ số. Thị trường mà nhà nước kiểm soát là thị trường mà
các giá cả do nhà nước quy định. Lạm phát ở Việt Nam đã ở mức phi mã, năm cao nhất
đã đạt tới chỉ số tăng giá 557% vượt qua mức lạm phát phi mã. Song những biểu hiện và
tác hại của nó không kém gì siêu lạm phát.
Thứ nhất, từ năm 1981-1988 chỉ số giá tiêu dùng tăng điều trên 100% một năm,
những năm đầu 80 mức tăng này là trên 200%, đến năm 1983 và 1984 đã giảm xuống,
nhưng từ năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất 557%, sau đó có giảm; như vậy là mức
lạm phát cao và không ổn định.
12
Thứ hai, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh vì dân chúng không ai muốn giữ
tiền, người ta bán song hàng phải mua ngay hàng khác, hoặc vàng hoặc đô la, không
ai dám giữ tiền lâu trong tay, vì tốc độ mất giá của nó quá nhanh. Song ở Việt Nam
vòng quay của đồng tiền qua ngân hàng nhà nước lại không tăng lên mà giảm đi, vì
cơ chế hoạt động của ngân hàng quá kém không đáp ứng được nhu cầu gửi và rút
tiền của các chủ kinh doanh và dân cư.
Thứ ba, tiền lương thực tế của dân cư bị giảm mạnh, ở Việt Nam trước
năm 1988, hầu hết các giá cả do nhà nước qui định. Trong những năm 80
nhà nước đã nhiều lần tăng giá. Trước năm 1985, mức tăng giá do nhà nước
qui định không lớn, tuy mức tăng giá ở thị trường tự do cao hơn nên nhà
nước đã không bù giá vào lương, tiền lương thực tế đã giảm xuống. Từ năm
1986 nhà nước đã bù giá vào lương ngay sau khi tăng giá.
Nhưng tiền lương thực tế vẫn giảm mạnh vì nhà nước đã không khống chế được
thị trường tự do. Giá nhà nước tăng một lần thì giá thị trường tự do tăng 1, 5 lần. Nhà
nước lại không cung cấp đủ hàng cho dân cư theo giá nhà nước, nên mọi người phải
mua hàng ngoài thị trường tự do với giá cao hơn, mặt khác những người được nhà
nước bù giá chỉ là những người làm trong khu vực nhà nước còn số đông dân cư thì
không được bù giá như vậy.
Thứ tư những người gửi tiền và có tiền cho vay đều bị tước đoạt, vì mức lãi
suất so với lạm phát.
Thứ năm, các yếu tố của thị trường Việt Nam bị thổi phồng và bóp méo. Do
giá cả nhà nước định đã không phải là giá cả thị trường, luôn thấp hơn giá cả thị
trường tự do, và lại tăng theo từng chu kỳ, nên đã khuyến khích xu hướng đầu
cơ và tích trữ hàng hoá kiếm lợi. Các xí nghiệp đã tìm mọi cách để dự trữ vật tư,
không cần kinh doanh cũng có lợi. Dân chúng phải dự trữ nhu yếu phẩm. Tình
trạng khan hiếm hàng hoá, khan hiếm vốn được phóng đại, các nhu cầu giả tạo
tăng lên, bức trang thực của nền kinh tế bị xuyên tạc, lãi giả, lỗ thật.
Những biểu hiện trên đây của lạm phát Việt Nam tuy mới trong giai doạn phi
mã, nhưng cũng đã gần như đầy đủ các nét chung của giai đoạn siêu lạm phát.
Một điều đáng chú ý là trước năm 1988, nhà nước đã áp dụng nhiều biện
pháp, nghị quyết chống lạm phát, nhưng vẫn không kiềm chế và kiểm soát được
lạm phát. Chỉ số giảm phát vẫn tăng giảm thất thường ngoài dự tính của nhà
nước.
13
- Giai đoạn 1989-1994: Sau một thập kỉ lạm phát cao liên tục nền kinh tế rơi
vào khủng hoảng nhưng đến năm 1989 đã chuyển sang một giai đoạn mới của
lạm phát được đặc trưng bởi sự hạ sốt lạm phát và đến năm 1994 triển vọng bước
qua thời kì lạm phát một con số là có thể thực hiện được.Trong giai đoạn này,lạm
phát giảm nhanh và giảm dần song song với tiến trình đổi mới kinh tế.,chuyển
hẳn và chuyển toàn diện sang nền kinh tế thị trường.
- Giai đoạn 1995-2007: Thực trạng lạm phát tại Việt Nam 12 năm qua
(1996-2007) có thể tóm lược lại trong mấy điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, Việt Nam đã “kéo” được chỉ số lạm phát (CPI) từ mức ba con
số(774,7%/1986; 223,1%/1987; 393,8%/1988) xuống một con số (5,2%/1993) và
duy trì nó trong hơn mười năm qua. Nổi bật hơn hết là việc kiềm chế được lạm
phát ở mức thấp mà chúng ta không phải “đánh đổi”, hay “lựa chọn” giữa mục
tiêu tăng trưởng và lạm phát như nó thường diễn ra tại nhiều nước. Đó thật sự là
một thành tựu lớn.
Thứ hai, sau 11 năm lạm phát giữ ở mức một con số, năm 2007 chỉ số này đã
tăng lên mức hai con số. Điểm khác biệt của lạm phát trong năm này là sự tăng
giá diễn ra đồng loạt ở cả nhóm hàng lương thực và phi lương thực. Đứng đầu về
tốc độ tăng giá trong nhóm các hàng hóa tính CPI là thực phẩm (tăng 21,16%,
riêng tháng 12 tăng 4,69%). Nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao thứ
hai (tăng 17,12%, riêng tháng 12 tăng 3,28%). Đứng thứ ba là nhóm hàng lương
thực (tăng 15,4%, riêng tháng 12 tăng 2,98%). Phương tiện đi lại và bưu điện
đứng thứ tư (tăng hơn 7%, riêng tháng 12 tăng 0,7%). Tiếp đến là nhóm hàng
may mặc và giày dép (tăng 7%, riêng tháng 12 tăng 1,16%); dược phẩm và y tế
(tăng 7%), v.v Hiện tượng giá tăng diễn ra ở hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch
vụ như vậy cho thấy, nguyên nhân của lạm phát không chỉ hoàn toàn do tác động
của giá cả thế giới hay từ cung hàng hoá, dịch vụ; mà rõ ràng là có nguyên nhân
từ tiền tệ.
Thứ ba, khác với tình trạng lạm phát của những năm trước, chỉ số giá tiêu
dùng các tháng trong năm 2007 tăng liên tục ngoài dự đoán, vượt qua chỉ tiêu
Quốc hội đề ra hết lần này đến lần khác (nói khác đi là không kiểm soát được!).
Ví dụ, tại thời điểm cuối năm 2006, lạm phát năm 2007 được dự báo ở mức 6 -
7%, và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là 9 - 10%. Nhưng, mới đến tháng 7/2007 chỉ số
lạm phát đã đạt mức 6,19%, trong đó riêng tháng 7 là 0,94%. Trước tình hình đó,
thay vì chỉ tiêu lúc đầu là 6% - 7%, Chính phủ đã phải điều chỉnh chỉ tiêu lạm
phát cả năm ở mức dưới 8%, với niềm tin là chỉ số giá tiêu dùng của các tháng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét