LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu lao động sang thị trường các nước trung đông": http://123doc.vn/document/1055510-thuc-trang-va-giai-phap-nham-thuc-day-xuat-khau-lao-dong-sang-thi-truong-cac-nuoc-trung-dong.htm
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1. Khái niệm về xuất khẩu lao động
Trước hết ta cần hiểu về một số khái niệm như:lao động là gì?sức lao
động là gì,lao động xuất khẩu là gì?Và lao động xuất khẩu bỏ trốn là như thế
nào?
Theo Bộ luật lao động của Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì lao
động được hiểu là hoạt động quan trọng nhất của con người,tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Theo kinh tế học cổ điển, sức lao động là một trong ba yếu tố sản xuất
cùng với tài nguyên thiên nhiên và vốn. Sức lao động là các hoạt động của
con nguời được sử dụng trong sản xuất. Chi phí thanh toán cho sức lao động
là lương.
Di chuyển sức lao động quốc tế: Đây là một hiện tượng trong đó người
lao động ở quốc gia này sang một quốc gia khác có kèm theo việc thay đổi
chỗ tạm thời hoặc vĩnh viễn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau ở nước
ngoài.
Một công dân nào đó khi ra khỏi một nước,thì người đó được gọi là
người xuất cư,còn sức lao động của anh ta được gọi là sức lao động xuất
khẩu.Sức lao động này có thể trở thành lao động hay không còn tùy thuộc vào
một số điều kiện.
Lao động xuất khẩu được hiểu là một công dân nào đó khi đi ra khỏi
nước của mình và tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và các giá trị
tinh thần của xã hội thì gọi là lao động xuất khẩu.
1.2. Nguyên nhân và động lực thúc đẩy việc xuất khẩu lao động
Việc xuất khẩu lao động có thể diễn ra vì nhiều lí do và mục đích khác
nhau.Nhưng ta có thể xét nguyên nhân và động lực của việc xuất khẩu lao
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
động dưới hai giác độ đó là đưới giác độ của người lao động và giác độ của
Nhà Nước.
Thứ nhất,dưới giác độ của người lao động thì họ chấp nhận đi xuất
khẩu lao động với mong muốn mức lương tại nước ngoài sẽ lớn hơn lương
trong nước và khoản lương đó đủ để họ chi tiêu những khoản chi tiêu hàng
ngày tại nước họ đang làm việc nhưng vần còn dư ra một khoản để họ tích
góp,sau khi kết thúc hợp đồng họ về nước sẽ có một lượng tiền để đầu tư hay
sẽ đi tìm một việc làm mới.Còn đối với những người lao động chưa có việc
làm thì xuất khẩu lao động sẽ là một cách nhanh chóng để họ có việc làm và
trở thành người có ích cho xã hội,ngoài ra việc đi xuất khẩu lao động sẽ mở ra
cho họ một tương lai tốt đẹp hơn mà họ có thể nhận được.Không chỉ vậy,xuất
khẩu lao động còn giúp cho người lao động học hỏi thêm được nhiều điều về
xã hội về phong tục tập quán,về con người,… tại nước mà họ sang lao động
và làm việc.Không chỉ thế họ còn học hỏi được nhiều kinh nghiệm bổ ích,tác
phong làm việc chuyên nghiệp tại nước bạn.Điều này sẽ giúp cho người lao
động khi về nước sẽ dễ xin được việc làm mới.Tóm lại,dưới giác độ của
người lao động thì ta thấy họ chấp nhận đi làm tại nước ngoài xa gia đình để
đến một nước rất lạ lẫm với mình về mọi thứ chỉ vì lợi ích kinh tế và hi vọng
vào một tương lai tốt đẹp hơn khi họ trở về nước.
Thứ hai,dưới giác độ của Nhà Nước thì việc xuất khẩu lao động sẽ
mang lại cho đất nước ấy rất nhiều lợi ích cụ thể.Đầu tiên đó là nguồn thu
ngoại tệ đều đặn,lao động xuất khẩu sẽ gửi một phần thu nhập của mình về lại
trong nước cho người thân của mình và người thân của những người xuất
khẩu lao động sẽ đến các ngân hàng để đổi lượng ngoại tệ mà mình vừa nhận
được sang nội tệ để chi tiêu.Đây chính là nguồn thu ngoại tệ cho các ngân
hàng và quốc gia xuất khẩu lao động.Với nguồn thu ngoại tệ này Nhà Nước
có thể gia tăng lượng dự trữ ngoại tệ và sẽ chủ động hơn trong việc cân bằng
cán cân thanh toán quốc tế.Ngoài ra,việc xuất khẩu lao động còn giúp cho
Nhà Nước giảm bớt gánh nặng trong việc giải quyết việc làm trong nước sẽ
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
làm giảm tỉ lệ thấp nghiệp trong nước và với việc tỉ lệ thất nghiệp giảm thì sẽ
làm cho các tệ nạn xã hội trong nước có chiều hướng giảm và góp phần xây
dựng một nền kinh tế ổn định.Ngoài ra,thông qua các lao động xuất khẩu
nước đó có thể quảng bá hình ảnh về đất nước mình với bạn bè quốc tế,để họ
hiểu hơn về quốc gia đó.Trong giai đoạn hiện nay,quá trình toàn cầu hóa đang
diễn ra mạnh mẽ thì việc di chuyển sức lao động quốc tế bằng cách xuất khẩu
lao động sẽ giúp cho các nước có thể phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả
hơn,giúp cho nhiều nước thoát khỏi cảnh thiếu hụt lao động và tạo lập được
mối liên hệ chặt chẽ hơn.Còn đối với các nước đang phát triển thì xuất khẩu
lao động còn giúp cho nước đó thay đổi được cơ cấu nghành chuyển dần sang
nghành dịch vụ.Dịch vụ đưa người đi lao động nước ngoài,đây sẽ giúp cho
việc nước đó thay đổi được cơ cấu ngành chuyển dần sang nghành dịch vụ
điều này rất có lợi cho các nước đang pát triển muốn thay đổi cơ cấu nghành
để thực hiện quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước như Việt Nam.
Vì vậy,việc xuất khẩu lao động đối với Việt Nam có nguồn lao động
dồi dào và đang phát triển cần được chú trọng một cách đúng đắn và khai thác
có hiệu quả hơn.Để có thể khai thác triệt để nguồn lực này thì Nhà Nước cần
có những động thái cũng như nhũng phương hướng để mở rộng thị trường
xuất khẩu lao động cũng như củng cố niềm tin tại các thị trường lao động
cũ.Để mở rộng thị trường lao động thì Nhà Nước đã có chủ trương mở rộng
lao động sang thị trường Trung Đông nhiều tiềm năng và hứa hẹn.
1.3. Những tác động của di chuyển quốc tế sức lao động
Di chuyển quốc tế sức lao động sẽ có nhiều tác động đối với nền kinh
tế và xã hội của cả nước tiếp nhận sức lao động quốc tế và cả nước cung ứng
sức lao động.Trước hết ta xét ảnh hưởng phúc lợi của việc di chuyển sức lao
động quốc tế.
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Qua hình vẽ trên ta thấy:
-Cung về sức lao động của quốc gia thứ nhất là:OA
- Cung về sức lao động của quốc gia thứ hai là :O'A
Các đường VMPL1 và VMPL2 cho ta giá trị sản phẩm cận biên của
sức lao động của quốc gia một và quốc gia hai.Trong điều kiện có cạnh
tranh,VMPL tượng trưng cho tiền công lao động thực tế.
+/Trước khi có di chuyển sức lao động trên phjamj vi quốc tế,ở
quuoocs gia một mức tiền công là OC và tổng sản phẩm là OFGA.Tương tự ở
quốc gia hai sẽ là O'H và O'JMA.
+/Trong điều kiện di chuyển quốc tế sức lao động(giả sử di chuyển tự
do).
Vì (O'H) cao hơn (OC) nên phần AB sức lao động di chuyển từ quốc
gia một sang quốc gia hai cho đến khi có sự cân bằng giữa hai nước ở mức
(BE=ON=O'T).Như vậy,tiền công ở quốc gia một tăng lên và tiền công ở
quốc gia hai giảm xuống.Mặt khác,tổng sản phẩm ở quốc gia một bị giảm từ
OFGA xuông còn OFEB và tổng sản phẩm của quốc gia hai tăng lên từ
O'JMA lên O'JEB,thu nhập thực tế của thế giới tăng là EGM.
Chú ý, sự phân phối thu nhập quốc dân đối với người lao động của
quốc gia một và đối với nguồn nhân lực phi lao động ở quốc gai hai.Quốc gia
một có thể nhận được tiền và hàng hóa do các công nhân di cư của họ gửi
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
8
Quốc gia 1 Quốc gia 2
VMPL1VMPL1
B A
G
R
M
E
N
C
H
T
Giá trị cận biên của
lao động trong quốc
gia 2
Giá trị cận biên của
lao động trong quốc
gia 1
O O'
F
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
về.Măt khác,nếu lự lượng lao động của quốc gia một bị thất nghiệp trước khi
có di cư thì mức tiền công sẽ là ON và tổng sản phẩm của quốc gia một sẽ là
OFEB dù có hay không có di cư và mức tăng sản phẩm thế giới khi có di cư
là ABME.
Tóm lại,với lượng cung ứng sức lao động OA,quốc gia một có tỷ lệ tiền
công thực tế OC và tổng sản lượng là OFGA.Với lượng cung ứng sức lao
động O'A,quốc gia hai có tỷ lệ tiền công thức tế là O'H và tổng sản lượng
O'JMA.Chính lượng sức lao động di cư Ab từ quốc gia một di chuyển sang
quốc hai đã tạo ra sự cân bằng tỷ lệ tiền công thực tế trong hai quốc gia tại
EB.Sự di chuyển này đã làm giảm sản lượng tương ứng với OFEB tại quốc
gia một,nhưng tăng tại quốc gia hai tương ứng O'JEB và khi đó tổng sản
lượng ròng của hai quốc gia tăng lên EGM.
Ngoài ảnh hưởng đến phúc lợi,việc di chuyển quốc tế sức lao dộng còn
có gây ra tình trạng thất nghiệp ở nước tiếp nhận sức lao động quốc tế và
nước có sức lao động di chuyển quốc tế có thể rơi vào tình trạng thiểu hụt lao
động nếu không có một sự quản lý chặt chẽ và khoa học của các quốc
gia.Trên đây là hai tác động chủ yếu của việc di chuyển sức lao động quốc tế.
1.4. Tình hình xuất khẩu lao động trên thế giới
Theo báo cáo mới đây của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) về tình hình lao động
toàn cầu, thị trường lao động thế giới đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và
theo dự kiến, đến năm 2050, thị trường này sẽ tăng gấp đôi so với hiện
nay.Việc hòa nhập nền kinh tế thế giới của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước
Đông Âu cùng với sự tăng trưởng dân số toàn cầu đã đóng góp đáng kể cho
lực lượng lao động tham gia vào thương mại quốc tế. Theo IMF, sự phát triển
của thị trường lao động quốc tế được thể hiện trên ba kênh: xuất nhập khẩu
các sản phẩm tinh chế, sản xuất theo hướng phi tập trung của các doanh
nghiệp và xuất khẩu lao động. Xu hướng quốc tế hoá thị trường lao động đang
làm cho nhiều nước được hưởng lợi. Các nước đông dân và các nước đang
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
phát triển giải quyết được vấn đề việc làm, cải thiện thu nhập của người dân.
Trong khi đó, nhập khẩu lao động mang lại nguồn lợi lớn cho các nước phát
triển. Vấn đề thiếu nhân công ở các nước Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản đang dần
được giải quyết. Chỉ tính riêng ở Mỹ, dân nhập cư đã đáp ứng được 15% nhu
cầu lao động trong nước, còn ở Tây Âu, con số này tuy thấp hơn nhưng cũng
đáp ứng được một phần nhu cầu lao động ở các nước này. Ta có thể
thấy,những nước tham gia chủ yếu trong quá trình xuất khẩu lao động hiện
nay là các nước Việt Nam,Trung Quốc,Ấn Độ,…. Đó là những nước đông
dân và có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ,vì thế họ cần xuất khẩu nhiều
lao động để có nguồn thu ngoại tệ,học hỏi kinh nghiệm từ các nước nhập
khẩu lao động,giải quyết các vấn đề xã hội trong nước do dân số đông mang
lại… Và những nước sẽ tiếp nhận số lượng lao động đông đảo này sẽ là
những nước có nền kinh tế phát triển và còn có cả các nước đang phát triển
với tốc độ cao,nhiều nguồn lực sẵn có nhưng thiếu lao động hoặc lao động
trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu về nhân lực do dân số ít.Ta có thể kể
đến các nước nhập khẩu lao động nhiều như:Nhật Bản,Malaysia,Hàn Quốc
Úc,Hoa Kỳ,……. Trước nhu cầu nhập khẩu lao động lớn như hiện nay trên
thế giới thì đối tượng lao động xuất khẩu cũng rất đa dạng.Có thể xuất khẩu
lao động có tay nghề khá như những kĩ sư,thợ sửa chữa có tay nghề cao,bác
sĩ, Nhưng cũng có thể lao động xuất khẩu không có tay nghề như người
giúp việc,người lao động chăm sóc những người già và trẻ nhỏ, Hiện nay
lao động xuất khẩu không chỉ đa dạng về tay nghề mà còn đa dạng về cả
nghành nghề nữa.Như ta đã thấy ở trên lao động xuất khẩu có mặt ở hầu hết
các nghành nghề trong cuộc sống:Từ người giúp việc,thợ sủa chữa,thợ nề,thợ
xây, cho đến các bác sĩ,kĩ sư, Điều này cho thấy được lao động xuất
khẩu đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống,kinh tế và văn
hóa của các nước trên thế giới.
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯƠC TRUNG ĐÔNG
2.1. Những qui định của Việt Nam về hoạt động xuất khẩu lao động.
Đối với hoạt động xuất khẩu quốc tế sức lao động lao động,thi`quyền
và nghĩa vụ của người lao động được qui định rất rõ trong Bộ luật lao động
được ban hành ngày 23/06/1994.Trong đó cụ thể có những qui định về người
lao động xuất khẩu là:
- Người lao động là công dân Việt Nam được phép đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng lao động mà người đó chịu sự điều hành của tổ chức, cá
nhân nước ngoài, thì phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động nước
sở tại; nếu theo hiệp định về hợp tác lao động được ký kết giữa Chính phủ
Việt Nam với Chính phủ nước sở tại thì phải tuân theo các quy định của pháp
luật lao động nước sở tại và hiệp định đó.
-Đối với người lao động là công dân Việt Nam được phép đi làm việc ở
nước ngoài theo hình thức nhận thầu, khoán công trình do doanh nghiệp Việt
Nam điều hành và trả lương, thì áp dụng các quy định của Bộ luật này, trừ
trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc tham gia có quy định khác.
- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có quyền được biết các
quyền lợi và nghĩa vụ của mình, được các cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam ở nước ngoài bảo hộ về mặt lãnh sự và tư pháp, được quyền chuyển thu
nhập bằng ngoại tệ và tài sản cá nhân về nước, được hưởng chế độ bảo hiểm
xã hội và các chính sách, chế độ khác theo quy định pháp luật của Việt Nam
và của nước sở tại.
- Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có nghĩa vụ đóng góp một
phần tiền lương cho quỹ bảo hiểm xã hội.
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Ngoài những điều quy định khái quát trên thì Nhà Nước còn ra nhiều
chỉ thị thong tư nhằm quản lý hoạt động xuất khẩu lao động một cách quy củ
hơn như là:
Nghị định số 29/2003/NĐ-CP ngày 31/03/2003 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội;
Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động về người lao động Việt Nam làm
việc ở nước ngoài.
Thông tư liên tịch số 59/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/6/2006
của liên tịch Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn về
phí môi giới trong xuất khẩu lao động.
Ta có thể khái quát về nội dung của Nghị định số 29/2003/NĐ-CP và Nghị
định 81/2003/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 59/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH
như sau:
+/ Quy định mức khung phí môi giới
- Mức khung phí môi giới cho các thị trường được xác định không vượt
quá 01 (một) tháng lương theo hợp đồng/người lao động cho một năm làm việc.
- Tiền lương theo hợp đồng (tính theo tháng) để làm căn cứ tính phí môi
giới là tiền lương cơ bản không bao gồm: tiền làm thêm giờ; tiền thưởng và các
khoản trợ cấp khác. Riêng đối với sĩ quan và thuyền viên tàu vận tải biển: tiền
lương theo hợp đồng (tính theo tháng) để làm căn cứ tính phí môi giới là tiền
lương bao gồm: lương cơ bản và lương phép.
+/ Mức phí môi giới cụ thể:
- Căn cứ vào mức khung phí môi giới qui định tại điểm (a) khoản 1 mục II
Thông tư này, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sẽ quy định mức phí môi
giới tối đa cụ thể phù hợp với từng thị trường.
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Trường hợp đặc biệt, do yêu cầu của thị trường đòi hỏi mức phí môi giới
cao hơn mức khung phí môi giới qui định, doanh nghiệp xuất khẩu lao động báo
cáo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quyết định cụ thể mức thu phí môi giới
cho phù hợp sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Tài chính.
+/ Loại tiền thu phí môi giới
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động thu phần phí môi giới mà người lao
động phải đóng góp bằng đồng Việt Nam. Trường hợp phí môi giới được tính
bằng đôla Mỹ thì áp dụng tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng của đôla Mỹ so với đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố;
nếu được tính trên cơ sở các loại ngoại tệ khác thì áp dụng tỷ giá tính chéo giữa đồng
Việt Nam so với ngoại tệ khác do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo tại thời
điểm thu phí.
Đối với những ngoại tệ mà Ngân hàng Nước Việt Nam không thông báo tỷ
giá tính chéo so với đồng Việt Nam thì doanh nghiệp tham khảo trực tiếp thông
tin của Hãng Roi-tơ về tỷ giá của những ngoại tệ nói trên so với đôla Mỹ. Việc
qui đổi từ đôla Mỹ sang đồng Việt Nam áp dụng tỷ giá giao dịch bình quân trên
thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của đôla với đồng Việt Nam do Ngân hàng
Nhà nước công bố tại thời điểm thu phí.
+/ Trách nhiệm của doanh nghiệp xuất khẩu lao động
- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động chủ động thương thảo với bên trung
gian môi giới về mức phí môi giới phù hợp với yêu cầu của thị trường trong
phạm vi mức phí môi giới qui định.
- Trên cơ sở mức phí môi giới đã ký với bên trung gian môi giới, doanh
nghiệp xuất khẩu lao động thoả thuận với người lao động về chi phí môi giới mà
người lao động phải đóng góp thông qua doanh nghiệp xuất khẩu lao động để trả
cho bên trung gian môi giới. Phần phí môi giới mà người lao động đóng góp phải
được ghi rõ trong hợp đồng giữa người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao
động. Khoản thu phí môi giới này không tính vào doanh thu của doanh nghiệp
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
xuất khẩu lao động và không phải nộp thuế.
- Trường hợp người lao động phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả
kháng (thiên tai, chiến tranh, doanh nghiệp bị phá sản…) hoặc không phải do lỗi
của người lao động, thì doanh nghiệp xuất khẩu lao động có trách nhiệm yêu cầu
bên trung gian môi giới hoàn trả lại cho người lao động một phần phí môi giới
của người người lao động đã nộp, theo nguyên tắc: người lao động làm việc chưa
đủ 50% thời gian hợp đồng thì được nhận lại 50% phí môi giới đã nộp. Người lao
động đã làm việc trên 50% thời gian theo hợp đồng thì không được nhận lại phí môi
giới.
Trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu lao động không đòi được của bên
trung gian môi giới thì doanh nghiệp có trách nhiệm trích từ nguồn phí dịch vụ
xuất khẩu lao động hoặc nguồn thu hoạt động kinh doanh khác của doanh nghiệp
để hoàn trả phí môi giới cho người lao động theo nguyên tắc trên.
- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động được phép chi tiền môi giới (nếu có) từ
nguồn thu phí dịch vụ xuất khẩu lao động và được hạch toán vào chi phí hợp lý
khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Người quyết định thu, chi phí môi giới cho bên trung gian môi giới phải
chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu lợi dụng quy định về phí môi giới
để thu, chi sai mục đích, không đúng đối tượng, trục lợi thì người ra quyết định
thu, chi phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Nếu chi phí môi giới cho bên trung gian là người Việt Nam thì thực hiện
bằng đồng Việt Nam. Nếu chi cho tổ chức, cá nhân là người nước ngoài thì thực
hiện bằng ngoại tệ qui định tại hợp đồng cung ứng lao động hoặc hợp đồng môi
giới. Chênh lệch tỷ giá phát sinh (nếu có) doanh nghiệp được hạch toán vào chi
phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động thực hiện hạch toán và mở sổ sách kế
toán theo dõi thu, chi phí môi giới theo chế độ kế toán hiện hành.
Nguyễn Việt Dũng - Lớp KTQT 45B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét