LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học ở trường cao đẳng sư phạm trung ương thành phố hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1052915-thuc-trang-va-bien-phap-quan-ly-hoat-dong-hoc-o-truong-cao-dang-su-pham-trung-uong-thanh-pho-ho-chi-minh.htm
phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
kết quả hoạt động học và chất lượng đào tạo của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể: Quản lý hoạt động dạy học của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương
thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Đối tượng: Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học tại trường Cao đẳng Sư
phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh đã
thực hiện hoạt động học và đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn còn thiếu tính tự giác, tích
cực và độc lập. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do động cơ học tập, phương pháp học
tập của sinh viên hoặc do hoạt động dạy,… trong đó công tác quản lý hoạt động học của sinh
viên chưa khoa học và kém hiệu quả. Cần đề ra các biện pháp quản lý hoạt động học hợp lý
nhằm nâng cao kết quả hoạt động học và chất lượng đào tạo của nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động học ở trường Cao đẳng Sư phạm
Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao kết quả hoạt động học của sinh viên ở
trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố HCM.
6. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên
hệ chính quy trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Quan điểm hệ thống – cấu trúc: Xem xét hoạt động học trong mối tương quan với hoạt
động dạy và các thành tố của hoạt động dạy.
Quan điểm hoạt động – nhân cách: Tác động đến các yếu tố của hoạt động học như
động cơ, tính tích cực,… thông qua hoạt động, mà ở đây là hoạt động dạy và hoạt
động học.
Quan điểm lịch sử: Nghiên cứu hoạt động học ngoài lớp của sinh viên trong điều kiện
dạy, học hiện tại, ở đó, các điều kiện phục vụ học ngoài lớp thuận lợi và phong phú.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa,
trừu tượng hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp thăm dò bằng phiếu: Sử dụng phiếu gồm các câu hỏi kín và các câu hỏi
mở về công tác quản lý hoạt động học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung
ương thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp quan sát hoạt động học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung
ương thành phố Hồ Chí Minh ngoài giờ lên lớp, ở Ký túc xá.
Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện với sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lý nhằm
tìm hiểu sâu hoạt động học và quản lý hoạt động học.
Phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
7.2.3 Phương pháp toán thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS for window để xử lý số
liệu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 . Tổng quan vấn đề nghiên cứu
● Nghiên cứu về học trong quan hệ với dạy. Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục
lỗi lạc cũng đã quan tâm nghiên cứu hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, đặc biệt
nhấn mạnh tính tích cực, độc lập của người học. Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) là người rất
coi trọng tính tích cực nhận thức của học sinh. Theo ông, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu
chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra: “Không tức giận vì muốn biết
thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho
biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [Lịch sử giáo dục thế giới, 47,
tr.60].
- Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền
giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy
học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự
vật và hiện tượng.
- Các nhà giáo dục ở thế kỉ XVIII và XIX như Pextalodi (1746-1827), Disterverg
(1790-1886), Usinxki (1824-1870) đã nhấn mạnh cách làm cho người học giành lấy kiến
thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.
Những tư tưởng về vấn đề học trong quan hệ với hoạt động dạy của các nhà giáo dục
tiền bối đến nay vẫn còn giá trị, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền giáo dục hiện
đại, gợi ra một hướng đi đúng đắn khi nghiên cứu về hoạt động học của người học, đặc biệt
là học ngoài giờ lên lớp.
- Các nhà giáo dục hiện đại đã đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục và tiếp tục khẳng
định vai trò của hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, tìm kiếm những cách thức
để nâng cao hiệu quả, chất lượng học ở người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá
trình dạy học.
Bàn về các phương pháp học tập H.A. Rubakin đã trình bày trong cuốn “Tự học như
thế nào”: sẽ có hứng thú với việc học khi nó mang lại một cái gì mới mẻ, thiết thực cho cuộc
sống của bạn; phải tin vào sức mạnh và khả năng của mình và phải nỗ lực hết khả năng để
học một cách thường xuyên và có hệ thống [45]
M.U.Piskunov và X.G.Luconhin chỉ ra những phương pháp học cần thiết đảm bảo cho
người học đạt kết quả cao. Trong đó các tác giả rất coi trọng phương pháp đọc sách, coi đó là
phương pháp quan trọng nhất của hoạt động học ngoài giờ lên lớp.
Các khía cạnh của học (đọc sách), cũng được các tác giả L.P.Doborop bàn đến trong
tác phẩm “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” và A.Primacopxki với cuốn “Phương
pháp đọc sách”; N.A.Rubakin bàn đến trong cuốn “Tự học như thế nào”: đọc sách phải đào
sâu suy nghĩ, phải hiểu, phải kiểm tra lại (ngẫm nghĩ những điều trong sách, đưa nó vào
trong cuộc sống, kiểm tra chúng phải so sánh, phân loại, tổng hợp để những kiến thức đọc
được không lẫn lộn như một mớ bòng bong. Tác giả cũng nêu trình tự đọc sách: đọc tựa đề –
mục lục - đọc toàn bộ sách - đọc sâu (nghiên cứu); đọc phải trả lời các câu hỏi: cái gì là
chính, cái gì là phụ? có phải bao giờ sự kiện ấy cũng xảy ra như thế không? làm thế nào thay
đổi sự kiện ấy? [45, tr.51]
Hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma và Shakti R.Ahmed, trong tác phẩm “Phương
pháp dạy học ở trường đại học” đã trình bày hoạt động học ngoài giờ lên lớp như một hình
thức dạy học có hiệu quả.
- Các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ [14], Nguyễn Cảnh
Toàn [48; 49; 50], Trịnh Quang Từ [52], Nguyễn Kì [20; 21], Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị
Đức [2], Võ Quang Phúc [38], đã có nhiều công trình nghiên cứu về học ngoài giờ lên lớp.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên hệ
đến hình thức học này, từ khái niệm, các hình thức học, phương pháp học cho đến các biện
pháp sư phạm của người dạy nhằm nâng cao chất lượng hoạt động học ngoài giờ lên lớp.
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học ngoài lớp cũng được các tác giả
nghiên cứu trong công trình như động cơ, mục đích học tập, hứng thú học tập bộ môn, hay
những nguyên nhân khách quan như tài liệu tham khảo, việc tổ chức thi cử
Nhìn chung các tác giả trong và ngoài nước đều xem học và học ngoài giờ lên lớp như
là bộ phận của hoạt động dạy học, một thành phần không thể thiếu được của quá trình dạy
học, mà đỉnh cao của học là tự tìm tòi, tự khám phá.
● Nghiên cứu về quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp cũng được bàn đến trong đề
tài : “Quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học phổ
thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ của Lê Khắc Mỹ Phượng) [40]; “Các
biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trường sĩ quan lục quân 2” (Luận văn Thạc
sĩ Giáo dục học của Trần Bá Khiêm) [19]; “Thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng đối
với hoạt động tự học của học sinh THPT, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ” (Luận văn Thạc sĩ Giáo
dục học của Lê Thị Thanh Tú) [51].
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến việc quản lý hoạt động tự học của học
sinh, sinh viên trong quan hệ với hoạt động dạy, mà cụ thể là phương pháp dạy học; đến các
biện pháp quản lý của Hiệu trưởng để nâng cao năng lực tự học của học sinh; hoặc các biện
pháp nặng về mặt hành chính trong việc quản lý hoạt động tự học của học viên.
1.2. Hoạt động học ngoài lớp của sinh viên
1.2.1. Khái niệm hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên
Trong cuộc sống thường ngày, từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, lúc
nào con người cũng học được một cái gì đó – học trong cuộc sống. Cách học này chỉ đưa lại
cho con người những tri thức tiền khoa học. Song thực tiễn đòi hỏi con người phải có những
tri thức khoa học thực sự, năng lực thực tiễn mới thì phương thức học trong cuộc sống trở
nên bất lực không đáp ứng được. Một phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có
khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành một hoạt động đặc biệt, gọi là hoạt động học. Vậy,
“học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức hàng ngày, còn “hoạt động
học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức đặc thù nhằm lĩnh hội
những hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới. Trong luận văn này, chúng tôi nói đến hoạt động
học.
Hoạt động học là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của nhân loại dưới ảnh hưởng của những
tác động dạy
.
- Động cơ học tập của sinh viên rõ ràng và mãnh liệt vì gắn với động cơ nghề nghiệp,
động cơ thành đạt.
- Mục đích học tập của sinh viên cũng cụ thể, rõ ràng, rộng hơn và luôn gắn với nghề
nghiệp. Việc chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện học tập trong quá trình học tập diễn
ra nhanh chóng và hiệu quả.
- Các hành động học tập của sinh viên mang tính chất học tập, vừa mang tính chất
nghiên cứu khoa học vừa sức.
- Các phương tiện và điều kiện học tập của sinh viên rộng và phong phú. Sinh viên
huy động tất cả các nguồn lực trong tay và gần trong tầm tay phục vụ cho việc học tập và lập
nghiệp.
Từ những phân tích ở trên, theo chúng tôi hiểu hoạt động học tập của sinh viên là quá
trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và giá trị nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn của
giảng viên.
Việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và đạo đức nghề của sinh viên diễn ra ở trên lớp có
sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên và còn diễn ra ở ngoài lớp có sự hướng dẫn gián tiếp
của giảng viên.
Hoạt động học tập diễn ra ở ngoài lớp là sự tiếp nối việc học ở trên lớp mà không có
sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên vì sự hướng dẫn được diễn ra trước đó. Học tập ở
ngoài lớp cũng có cấu trúc của hoạt động học như động cơ học, mục đích và nhiệm vụ học
tập, các hành động học, các phương tiện và điều kiện học tập.
Tuy nhiên, học tập ngoài lớp có những đặc trưng như sau:
- Nhu cầu, động cơ học tập phải cao, phải đủ mạnh để thúc đẩy hoạt động học tập diễn
ra.
- Tính tự giác, tích cực, tự chủ, tính độc lập cao trong quá trình sinh viên tự tổ chức và
điều khiển hoạt động học tập ngoài lớp.
- Ý chí trong học tập phải mạnh để giúp sinh viên vượt qua những khó khăn trên con
đường áp dụng phương pháp học, theo đuổi việc học đến cùng.
- Tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh thường xuyên hoạt động học để đạt được
mục đích, nhiệm vụ học tập được giao.
Từ những đặc điểm trên, theo chúng tôi có thể hiểu học tập ở ngoài lớp là một bộ phận
của hoạt động dạy học
mà ở đó người học tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm vận
dụng tri thức hình thành kỹ năng, củng cố và bổ sung, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng, hoặc
chuẩn bị cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng mới ở trên lớp dưới sự hướng dẫn gián tiếp của
giảng viên.
1.2.2. Ý nghĩa của học tập ngoài lớp
- Học tập ở ngoài lớp giúp sinh viên vận dụng tri thức, củng cố, đào sâu kiến thức,
khái quát và hệ thống hoá kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
- Học tập ngoài lớp cho phép người học tiến theo nhịp độ riêng phù hợp với năng lực
của bản thân, điều đó giúp người học chủ động lựa chọn và quyết định một phong cách học
hiệu quả.
- Học tập ngoài lớp giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo về nghề
nghiệp tương lai, họ tự vận động từng bước biến vốn kinh nghiệm lịch sử của loài người
thành vốn tri thức riêng của cá nhân - vai trò chủ thể hoạt động nhận thức được thể hiện ở
trình độ cao.
- Học tập ngoài lớp hình thành và rèn luyện năng lực, hứng thú, thói quen, phương
pháp tự học thường xuyên.
- Học ngoài lớp hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, tính kiên trì,
óc phê phán, bồi dưỡng lòng say mê nghiên cứu khoa học
- Học tập ngoài lớp cho phép sinh viên tự kiểm tra mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng
làm cơ sở cho tự điều chỉnh hoạt động học và tự học của chính sinh viên.
Vì những lẽ trên, việc khơi dậy, phát triển khả năng học tập ngoài lớp cho sinh viên sẽ
tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được
nâng cao.
1.2.3. Mục đích của hoạt động học tập ngoài lớp
Học tập ở ngoài lớp là bộ phận của hoạt động dạy học nên cũng chung mục đích là
lĩnh hội tri thức, kỹ năng và giá trị. Tuy nhiên, mục đích trội của hoạt động học tập ở ngoài
lớp của sinh viên hướng đến:
- Mở rộng, đào sâu tri thức, kỹ năng,
- Vận dụng tri thức hình thành kỹ năng,
- Củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành,
- Tự kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,…
Rõ ràng là mục đích chính của học tập ngoài lớp ít gắn với việc lĩnh hội tri thức mới
mà chủ yếu là củng cố, vận dụng tri thức, kỹ năng, bổ sung, hoàn thiện tri thức, kỹ năng đã
lĩnh hội, hoặc chuẩn bị cho việc lĩnh hội khái niệm mới ở trên lớp.
Chúng ta cũng biết, hoạt động học tập ở trên lớp bị khống chế về mặt thời gian nên
sinh viên không kịp nắm chắc khái niệm hoặc vận dụng khái niệm vào thực tiễn để hình
thành kỹ năng. Nên học tập ngoài lớp là hoạt động học tập tiếp theo hoạt động học tập ở trên
lớp. Do đó, học tập ngoài lớp cũng có các nhiệm vụ, nội dung cụ thể, xác định.
1.2.4. Nội dung học tập ngoài lớp của sinh viên
Ôn tập
Việc ôn và tập (vẫn quen gọi chung là ôn tập) được diễn ra ngay sau khi học xong một
bài, nhưng nó cũng được diễn ra khi học xong một chương, một phần hay môn học. Nó giúp
sinh viên xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin, góp phần củng cố và khắc
hoạ thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong hoạt động thực hành ở nhiều mức
độ khác nhau. Ôn tập gồm hai hoạt động, đó là hoạt động ôn và hoạt động luyện tập.
Hoạt động ôn gồm hàng loạt các hoạt động cụ thể nhằm mục đích nhắc lại, xem lại,
lặp lại bài học với tất cả những tương tác đã xảy ra trong giờ học chứ không đơn thuần là
nhắc lại lời thầy giảng như:
* Xem lại bài ghi
Xem lại bài ghi được thực hiện ngay khi nội dung của bài giảng vẫn còn rất mới đối
với họ, nhờ vậy họ có thể làm rõ ràng được những ý mà họ chưa hiểu và bổ sung thêm các
chi tiết mà họ đã bỏ sót. Khi ôn lại bài học, sinh viên nên tiến hành theo các bước sau:
- Nhớ lại tư tưởng chủ đạo của bài giảng (bài giảng nói về vấn đề gì, giải quyết vấn đề
gì và giải quyết như thế nào).
- Nhớ lại cấu trúc các phần, các mục và từng nội dung trong mỗi mục. Chỉ giở vở xem
lại khi đã cố gắng mà vẫn không nhớ lại được.
* Bổ sung bài ghi bằng các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
- Sau khi đã nhớ lại cấu trúc của bài học và những nội dung quan trọng, sinh viên cần
tìm đọc những tài liệu liên quan đến bài học được giảng viên chỉ định và qua trao đổi với bạn
khi học nhóm, làm bài tập thực hành ứng dụng để chỉnh lý, bổ sung, mở rộng, đào sâu cho
nội dung bài học. Công việc này giúp sinh viên hiểu đúng bản chất khái niệm.
- Nhận diện cấu trúc của từng phần và toàn bài, giúp sinh viên tái nhận bài học dưới
dạng cô đọng. Đây là bước khái quát hoá, hệ thống hoá khái niệm, bỏ đi những dấu hiệu
không bản chất như những biện luận, ví dụ minh họa mà đã được đưa vào để thông hiểu khái
niệm. Sinh viên có thể sử dụng sơ đồ hoặc bảng hệ thống để hệ thống hoá các khái niệm
trong một bài, một chương hoặc nhiều chương,…
* Dựng lại bài học
Là khâu mở rộng khái niệm với tất cả các góc cạnh, bình diện phong phú của nó.
Chúng tôi đưa ra hai mức sau:
- Dựng lại một khái niệm (chúng tôi gọi là “viết các đoạn văn), sinh viên có thể chọn
một khái niệm cơ bản, quan trọng trong bài học và viết về khái niệm đó với tất cả hiểu biết
liên quan đến khái niệm bằng ngôn ngữ của chính họ – viết đoạn văn.
- Dựng lại bài học. Khi sinh viên đã hiểu đúng bản chất các khái niệm và có kỹ năng
viết, họ có thể dựng lại cả bài học bằng tất cả những thông tin liên quan đến nội dung bài học
mà sinh viên không chỉ tiếp thu từ bài diễn giảng trên lớp, mà còn bao gồm cả những thông
tin liên quan đến bài học được sinh viên tiếp thu từ nhiều nguồn khác nhau.
Như vậy, những việc làm trên không chỉ liên quan đến quá trình ghi nhớ tri thức, củng
cố tri thức hoặc xác lập kết quả nắm vững tri thức bài học của sinh viên, mà còn liên quan
đến hoạt động thực hành của họ, nó cho phép sinh viên chuyển dịch kiến thức từ cấu trúc gốc
(bài giảng của giáo viên, tài liệu và sách đọc) sang cấu trúc bài viết do sinh viên xác lập dựa
trên kết quả tư duy logic, nhờ đó tư duy phát triển, rèn luyện tính độc lập trong quá trình xử
lý thông tin theo khả năng của mình, làm cho thông tin từ bài giảng, bài ghi chép của sinh
viên mang ý nghĩa vận dụng kiến thức đã học phục vụ cho các tình huống học tập khác -
công tác thực hành.
Luyện tập (thực hành)
Tập hay thực hành là vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Thực hành có nhiều
mức độ khác nhau như luyện tập gắn liền với từng môn, từng chuyên đề được áp dụng sau
khi học xong một bài, một chương hoặc thực hành bộ môn hoặc liên môn được tiến hành sau
khi học xong một môn (bài tập nghiên cứu – “bài tập lớn”),… Thực hành có thể theo mẫu
hoặc không theo mẫu. Các bài luyện tập có thể là:
- Vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng trong thực tế cuộc sống, thực
tiễn nghề nghiệp. Ví dụ, dùng những kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non, giáo
dục trẻ mầm non để giải thích các biểu hiện về tâm lý, phương pháp giáo dục trẻ trong gia
đình, ở trường mầm non,…
- Giải các bài tập theo các bước và phương pháp, phương tiện đã được hướng dẫn. Ví
dụ, thiết kế trò chơi cho trẻ mầm non hoặc xử lý các tình huống giáo dục mầm non, hoặc giải
quyết các tình huống về quản lý giáo dục ở bậc mầm non.
- Bài tập thực hành bộ môn.
- Bài tập nghiên cứu trong đợt thực tập nghề nghiệp.
- Làm khóa luận hay đồ án tốt nghiệp.
* Bài tập thực hành bộ môn thường được gọi là “bài tập lớn” hay “niên luận”, đó là
một loại công trình nghiên cứu - học tập được sinh viên hoàn thành để thay thế cho bài kiểm
tra hoặc thi hết môn học, kết thúc học phần. Bài tập nghiên cứu của sinh viên phản ánh mức
độ vận dụng tổng hợp các kiến thức trong một môn học, kiến thức giữa các môn khoa học
(môn khoa học cơ bản, cơ sở và môn khoa học chuyên ngành); phản ánh mức độ vận dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học vào nghiên cứu một vấn đề nhỏ liên quan đến nghề
nghiệp tương lai và thể hiện bằng kết quả nghiên cứu.
- Bài tập nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học phải đảm bảo các yêu cầu sau
đây:
+ Phải giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu của một đề tài nhỏ về mặt lý luận
hoặc thực tiễn, hoặc kết hợp cả hai mặt đó.
+ Phải đảm bảo tính logic khoa học, được trình bày rõ ràng, sáng sủa, sạch đẹp, đảm
bảo yêu cầu về nội dung và hình thức của một bài tập nghiên cứu.
- Quy trình thực hiện bài tập nghiên cứu
+ Lựa chọn và chính xác hoá đề tài.
+ Lập kế hoạch nghiên cứu gồm: xác định mục tiêu (nhiệm vụ nghiên cứu), vạch ra
những nội dung cụ thể, lựa chọn phương pháp thực hiện, và các bước thực hiện.
+ Đọc các tài liệu tham khảo và ghi chép theo các mục mà sinh viên đã xác định; khảo
sát thực trạng (nếu có) giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.
+ Xử lý số liệu đã thu thập được (tóm tắt các ghi chép, xử lý số liệu thực tế bằng toán
thống kê).
+ Viết kết quả nghiên cứu, gồm viết nháp lời giới thiệu; viết nháp nội dung bài tập;
viết nháp phần kết luận của bài tập; xem xét lại những gì đã viết, kiểm tra lại tính liên kết,
chặt chẽ rõ ràng và đảm bảo rằng đã trả lời được những yêu cầu mà bài tập đặt ra; sắp xếp lại
và kiểm tra lỗi chính tả, lỗi kỹ thuật và in bản cuối.
Rõ ràng là quy trình làm bài tập nghiên cứu đã cho phép sinh viên được rèn luyện
hàng loạt các kỹ năng học tập đã nêu và phân tích ở những phần trên (như kỹ năng đọc sách
và ghi chép khi đọc sách; kỹ năng tóm tắt từ các ghi chép; kỹ năng sắp xếp các ý tưởng và
liên kết các khái niệm theo một cấu trúc mới hợp lý với nhiệm vụ học tập; kỹ năng dựng lại
một chủ đề bằng ngôn ngữ của cá nhân và kỹ năng quản lý thời gian và quản lý việc học
tập).
Chuẩn bị đề cương thảo luận nhóm hay đề cương seminar
- Xác định được cấu trúc của chủ đề.
- Xác lập kế hoạch thực hiện chủ đề (nội dung, các bước thực hiện, thời gian và
phương tiện).
- Thu thập thông tin liên quan đến chủ đề từ nhiều nguồn khác nhau (bài giảng trước
đây, sách và tài liệu tham khảo, liên quan đến chủ đề.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét