LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng việc vận dụng chuẩn mực kế toán tại các doanh nghiệp việt nam": http://123doc.vn/document/1054765-thuc-trang-viec-van-dung-chuan-muc-ke-toan-tai-cac-doanh-nghiep-viet-nam.htm
5
sau đó, tình hình thực hiện tài chính thực tế được đem đối chiếu với các dự tính
trên cơ sở các báo cáo kế toán phân tích khác nhau.
1.1.2 Bản chất và vai trò của Báo cáo tài chính:
1.1.2.1 Bản chất của báo cáo tài chính:
Qua nghiên cứu về thông tin của báo cáo kết toán, ta biết rằng báo cáo tài
chính là một hệ thống báo cáo tổng hợp được xử lý bởi “công nghệ kế toán”,
cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng sử dụng để đưa ra các quyết đònh
kinh tế.
Theo Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA) thì: “Hệ thống báo
cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét đònh kỳ hoặc
báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh
doanh và những kết quả đạt được trong thời kỳ báo cáo. Hệ thống báo cáo tài
chính phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc
kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và nguyên
tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện.
Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập
báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán
đã được chấp nhận rộng rãi”.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Báo cáo tài chính được lập nhằm
đáp ứng nhu cầu của người sử dụng bao gồm: Các nhà đầu tư, nhà quản lý và
nhân viên, những người cho thuê, các nhà cung cấp, các khách hàng, chính phủ,
công chúng.
Như vậy, có thể nói, bản chất của báo cáo tài chính là thể hiện sự kết hợp
của những sự kiện xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được
thừa nhận và những đánh giá của cá nhân nhằm chủ yếu là cung cấp thông tin
tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng ở bên ngoài doanh nghiệp. Đồng
6
thời báo cáo tài chính yêu cầu phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán
độc lập vì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính chủ yếu chòu sự chi phối bởi
những đánh giá của người lập báo cáo tài chính cũng như có sự tách biệt giữa sự
sở hữu và khả năng kiểm soát của những người cung cấp vốn cho hoạt động của
doanh nghiệp.
1.1.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính:
Vai trò của báo cáo tài chính được xem xét thông qua một số đối tượng
liên quan chủ yếu như sau:
- Đối với Nhà nước: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp
cho việc thực hiện chức năng quản lý vó mô của nhà nước đối với nền kinh tế;
giúp cho việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan tài chính Nhà nước
đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như làm cơ sở
cho việc tính thuế và các khoản nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách
nhà nước.
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Các nhà quản lý cần công bố
công khai các thông tin trên báo cáo tài chính đònh kỳ về hoạt động của doanh
nghiệp nhằm thuyết phục các nhà đầu tư cũng như các chủ nợ rằng doanh nghiệp
đang có mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất. Hơn nữa, thông tin trên
báo cáo tài chính cũng phục vụ cho công tác điều hành quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh của nhà quản lý.
- Đối với các nhà đầu tư: họ cần thông tin trên báo cáo tài chính để giám
sát và bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết,
thông tin về các rủi ro tiềm tàng trong các doanh nghiệp có liên quan đến khoản
đầu tư của họ. Nếu là công ty cổ phần, những thông tin trên báo cáo tài chính
giúp họ quyết đònh lúc nào nên mua, nên giữ hay nên bán các chứng khoán. Và
7
họ càng quan tâm hơn vì những thông tin này giúp họ đánh giá khả năng chi trả
cổ tức của công ty.
- Đối với các kiểm toán viên độc lập: Báo cáo tài chính là đối tượng của
kiểm toán độc lập vì các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng yêu cầu tính chính xác,
trung thực của các thông tin trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán, để họ có
thể có những quyết đònh đúng đắn nhất.
- Đối với nhân viên: họ quan tâm đến thông tin về tính ổn đònh và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp và những thông tin giúp họ đánh giá khả năng
chi trả lương các khoản trợ cấp và thời cơ tuyển dụng.
- Khách hàng: quan tâm đến những thông tin về khả năng tiếp tục hoạt
động của doanh nghiệp khi họ có mối liên quan dài hạn hoặc phụ thuộc với
doanh nghiệp.
Với những vai trò và nhu cầu nêu trên của người sử dụng, đòi hỏi báo cáo
tài chính cần được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu, trung thực, hợp lý và đầy đủ
để những người sử dụng có sự đánh giá chính xác về tình hình tài chính của doanh
nghiệp, từ đó họ có thể đưa ra những quyết đònh liên quan đến doanh nghiệp.
1.2 Chuẩn mực kế toán:
1.2.1 Đònh nghóa chuẩn mực kế toán:
Hiểu theo nghóa chung nhất, chuẩn mực là thuật ngữ diễn tả những quy
đònh mực thước có thể đònh lượng được để đo lường chất lượng một công việc, nó
là những ràng buộc nhằm đònh hướng công việc chuyên môn đi vào những
nguyên tắc chung.
Hoạt động kế toán cũng tương tự như các hoạt động khác, chỉ có thể hoạt
động một cách hữu hiệu khi có những chuẩn mực riêng cho mình. Thật vậy, chức
năng của kế toán là cung cấp các thông tin để người sử dụng có thể ra quyết
đònh. Muốn vậy, thông tin kế toán phải phản ánh trung thực tình hình và kết quả
8
hoạt động kinh doanh. Nó phải làm cho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải
giúp so sánh các thông tin tài chính.
Để đạt được các mục đích đó, cần có những phương pháp và thước đo để
giúp nhận diện những vấn đề hợp lý và không hợp lý liên quan đến việc ghi
nhận, phân tích, trình bày và truyền đạt thông tin tài chính. Bởi lẽ, thực tế đã
chứng minh rằng cùng một số liệu kế toán nhưng nếu áp dụng phương pháp đánh
giá, ghi nhận khác nhau sẽ đưa đến kết quả khác biệt đáng kể. Vì thế, cần có
những quy đònh làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin
tài chính, và đó chính là những chuẩn mực kế toán.
Do vậy, có thể đònh nghóa một cách tổng quát: Chuẩn mực kế toán là
những quy ước, nguyên tắc, thủ tục được công nhận như những hướng dẫn cho
nghề nghiệp kế toán trong việc soạn thảo báo cáo tài chính và là cơ sở đánh giá
chất lượng công việc kế toán.
1.2.2 Nội dung chuẩn mực “Trình bày báo cáo tài chính” và một số
chuẩn mực khác có liên quan:
Về vấn đề trình bày báo cáo tài chính, chuẩn mực kế toán Việt Nam có
đưa ra chuẩn mực dành riêng cho báo cáo tài chính, và ở mỗi chuẩn mực cho
từng phần hành kế toán cũng đưa ra cách thức trình bày trên báo cáo tài chính.
đây, chúng tôi chỉ xin trình bày tóm tắt nội dung của ba (03) chuẩn mực có liên
quan trực tiếp đến báo cáo tài chính.
• Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung.
Mục đích của chuẩn mực này là quy đònh và hướng dẫn các nguyên tắc và
yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính
của doanh nghiệp, nhằm:
a) Làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất.
9
b) Giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính theo
các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán đã ban hành một cách thống nhất và
xử lý các vấn đề chưa được quy đònh cụ thể nhằm đảm bảo cho các thông tin trên
báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý.
c) Giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về sự
phù hợp của báo cáo tài chính với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
d) Giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu và đánh giá thông tin tài
chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản và các yếu tố của báo cáo tài
chính quy đònh trong chuẩn mực này được quy đònh cụ thể trong từng chuẩn mực
kế toán, phải được áp dụng đối với mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế trong phạm vi cả nước.
Chuẩn mực chung chỉ rõ: chuẩn mực này không thay thế các chuẩn mực
kế toán cụ thể, mà khi thực hiện doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực kế
toán cụ thể. Trường hợp chuẩn mực kế toán cụ thể chưa quy đònh thì thực hiện
theo chuẩn mực chung. Chuẩn mực chung cũng quy đònh các yếu tố của báo cáo
tài chính, theo đó, báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh
nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất
kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố có liên quan trực tiếp
đến việc xác đònh tình hình tài chính trong bảng cân đối kế toán là tài sản, nợ
phải trả và vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình
và kết quả kinh doanh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu,
thu nhập khác, chi phí và kết quả kinh doanh. Trong đó, tài sản là nguồn lực do
doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, nợ
phải trả là nghóa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dòch và sự
kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình, còn
10
vốn chủ sở hữu là giá trò vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch
giữa giá trò tài sản của doanh nghiệp trừ (-) nợ phải trả.
Khi xác đònh các khoản mục trong các yếu tố của báo cáo tài chính phải
chú ý đến hình thức sở hữu và nội dung kinh tế của chúng. Trong một số trường
hợp, tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng căn cứ vào nội
dung kinh tế của tài sản thì được phản ảnh trong các yếu tố của báo cáo tài
chính. Ví dụ, trường hợp thuê tài chính, nghiệp vụ thuê tài chính làm phát sinh
khoản mục “Tài sản” và khoản mục “Nợ phải trả” trong Bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp đi thuê.
Báo cáo tài chính phải ghi nhận các yếu tố về tình hình tài chính và tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp; trong các yếu tố đó phải được ghi nhận theo
từng khoản mục. Một khoản mục được ghi nhận trong báo cáo tài chính khi thoả
mãn cả hai tiêu chuẩn (chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích
kinh tế trong tương lai và khoản mục đó có giá trò và xác đònh được giá trò một
các đáng tin cậy).
• Chuẩn mực số 21: Trình bày báo cáo tài chính
Mục đích của chuẩn mực này là quy đònh và hướng dẫn các yêu cầu và
nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu
cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo
cáo tài chính.
Chuẩn mực này áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù
hợp với chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Chuẩn mực nêu lên mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông
tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh
nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc
đưa ra các quyết đònh kinh tế.
11
Trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính thuộc về giám đốc hoặc
người đứng đầu doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: Bảng cân đối kế toán;
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bảng thuyết
minh báo cáo tài chính.
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc:
Hoạt động liên tục; Cơ sở dồn tích; Nhất quán; Trọng yếu và tập hợp; Bù trừ; Có
thể so sánh.
Trong chuẩn mực còn đưa ra kết cấu và nội dung chủ yếu của báo cáo tài
chính, cụ thể là của Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và thuyết
minh báo cáo tài chính. Còn nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ được trình
bày trong chuẩn mực kế toán số 24.
• Chuẩn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Mục đích của chuẩn mực này là quy đònh và hướng dẫn các nguyên tắc,
phương pháp lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của Báo cáo tài
chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài
sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả
năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền
trong quá trình hoạt động. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh
giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so
sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng
các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dòch và hiện tượng.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số
lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm
tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ
12
giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của
thay đổi giá cả.
Chuẩn mực cũng giải thích các thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực như
tiền (gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn),
tương đượng tiền (là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng
chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác đònh và không có nhiều rủi ro
trong chuyển đổi thành tiền), luồng tiền (là luồng vào và luồng ra của tiền và
tương đương tiền trong doanh nghiệp), hoạt động kinh doanh (là các hoạt động
mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu
tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền), hoạt động tài chính (là các
hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn
vay của doanh nghiệp).
Chuẩn mực này cũng quy đònh, doanh nghiệp phải trình bày các luồng
tiền trong kỳ trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: hoạt động
kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
Chuẩn mực cũng đề cập đến 2 phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, đó là phương pháp trực tiếp (là phương pháp phản ánh các chỉ tiêu liên quan
đến các luồng tiền vào các luồng tiền ra được trình bày trên báo cáo và được xác
đònh bằng cách phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu và chi theo
từng nội dung thu, chi từ các ghi chép kế toán của doanh nghiệp hoặc bằng cách
điều chỉnh doanh thu, giá vốn hàng bán và các khoản mục khác trong báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh cho các thay đổi trong kỳ của hàng tồn kho, các
khoản phải thu và các khoản phải trả từ hoạt động kinh doanh; cho các khoản
mục không phải bằng tiền khác và cho các luồng tiền liên quan đến hoạt động
đầu tư và hoạt động tài chính) và phương pháp gián tiếp (là phương pháp phản
ánh các khoản chi tiêu về luồng tiền được xác đònh trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận
13
trước thuế và điều chỉnh cho các khoản liên quan đến doanh thu, chi phí không
phải bằng tiền như khấu hao TSCĐ, dự phòng; lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái
chưa thực hiện;…)
Bên cạnh các chuẩn mực nêu trên, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
còn giới thiệu một số chuẩn mực khác (Phụ lục 1), trên mỗi chuẩn mực đều yêu
cầu nội dung phải trình bày trên báo cáo tài chính.
1.2.3 Chuẩn mực kế toán”Trình bày báo cáo tài chính” ở Việt Nam và
Quốc tế:
Ngày 29/06/1973, Uỷ ban Chuẩn mực quốc tế về Kế toán (IASC) đã ra
đời vơi sự tham gia của các tổ chức kế toán của 10 quốc gia là Úc, Canada,
Pháp, Tây Đức, Nhật, Mexico, Hà Lan, Anh, Ái Nhó Lan và Mỹ. IASC có nhiệm
vụ thu hẹp những khác biệt do hoàn cảnh lòch sử, văn hoá, môi trường kinh
doanh, hoặc do yêu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính ở mỗi
quốc gia, bằng cách soạn thảo các quy đònh, các thủ tục và chuẩn mực kế toán
có liên quan để cho ra đời chuẩn mực quốc tế nhằm mục đích:
- Hình thành và công bố những chuẩn mực kế toán làm cơ sở cho việc lập
báo cáo tài chính, nhằm phục vụ cho quyền lợi của nhiều đối tượng sử dụng khác
nhau và để nâng cao sự chấp nhận và tôn trọng trên toàn thế giới.
- Tiến tới việc cải tiến và tạo nên sự hoà hợp các quy đònh, các chuẩn
mực và thủ tục kế toán liên quan đến việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài
chính.
Cho đến nay, IASC đã ban hành và công bố được ba mươi tám (38) chuẩn
mực kế toán liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau trong kế toán. Với xu
hướng toàn cầu hoá hiện nay, xuất hiện các nhu cầu ngày càng cao về tiêu
chuẩn hoá và hài hoà các nội dung, nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia khác
nhau, đặc biệt là hài hoà thống nhất trong việc lập và trình bày báo cáo tài
14
chính. Vì vậy có rất nhiều các quốc gia quan tâm đến việc nghiên cứu, xây dựng
và công bố chuẩn mực kế toán quốc gia trên cơ sở vận dụng chuẩn mực kế toán
quốc tế (IAS).
Hệ thống chuẩn mực kế toán mới ban hành của nước ta cũng căn cứ vào
chuẩn mực kế toán quốc tế, đặc biệt là chuẩn mực “Trình bày báo cáo tài chính”.
(1) Chuẩn mực kế toán quốc tế số 01 – “Trình bày báo cáo tài chính” và
sự phù hợp trong việc vận dụng vào xây dựng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam:
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, cung cấp
các thông tin hữu ích cho người sử dụng trong việc đánh giá tình hình tài chính
và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại một thời điểm và trong
một khoảng thời gian nhất đònh. Vì vậy, việc trình bày báo cáo tài chính một
cách trung thực, hợp lý, phù hợp với khuôn mẫu được quốc tế thừa nhận là vô
cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử
dụng thông tin tài chính trong việc điều hành và đưa ra các quyết đònh kinh tế.
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 01 đưa ra những quy đònh về yêu cầu tối
thiểu cần thiết và các nguyên tắc chung trong việc lập và trình bày báo cáo tài
chính cho từng năm tài chính của mỗi doanh nghiệp và báo cáo tài chính hợp
nhất của tập đoàn. Ngoài ra, liên quan đến việc trình bày báo cáo tài chính,
IFAC còn đưa ra 04 chuẩn mực kế toán khác quy đònh cho việc trình bày báo cáo
tài chính cho các trường hợp đặc thù: IAS 14 – “Báo cáo tài chính bộ phận”; IAS
27 – “Báo cáo tài chính hợp nhất và các khoản đầu tư vào công ty con”; IAS 30
– “Báo cáo tài chính cho ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự”; IAS 34 –
“Báo cáo tài chính giữa niên độ”. Nhưng ở Việt Nam thì việc vận dụng IAS 01
và 04 IAS liên quan nêu trên để xây dựng các chuẩn mực kế toán tương ứng cho
Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và phù hợp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét