LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam docx": http://123doc.vn/document/1050350-tai-lieu-tieu-luan-chinh-sach-dao-tao-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-viet-nam-docx.htm
1.6 Chính sách quản lý nguồn nhân lực
Chính sách quản lý nguồn nhân lực là công cụ để quản lý nguồn nhân lực gồm
các chế độ, các biện pháp, các qui định cụ thể tác động đến hành vi lao động, thái
độ lao động của người lao động để đạt được các mục tiêu đã được đặt ra.
1.7 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là công cụ để quản lý nguồn
nhân lực, bao gồm các chế độ, các qui định cụ thể về quá trình đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng trình độ của người lao động để
họ có thể thực hiện có hiệu quả công việc hiện tại cũng như chuẩn bị những kiến
thức, kỹ năng, năng lực để họ có thể đảm nhiệm những công việc ở vị trí cao hơn
trong nghề nghiệp của bản thân họ.
2. Cấu trúc của chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Cấu trúc của chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực gồm các phần
sau:
- Mục tiêu của chính sách
- Đối tượng áp dụng cúa chính sách.
- Các nội dung chủ yếu của chính sách
- Việc tổ chức thực hiện chính sách.
- Việc kiểm tra giám sát tình hình thực hiện chính sách
II. Phân loại chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1. Phân loại theo phạm vi điều chỉnh của chính sách:
1.1 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia
Đây là những qui định, chế độ do Nhà nước ban hành nhằm nâng cao năng lực
về mọi mặt kỹ năng, kiến thức và tinh thần và cơ cấu nguồn nhân lực để có thể tham
gia một cách có hiệu quả vào quá trinh phát triển quốc gia.
1.2 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi địa phương
Là những chính sách do cơ quản quản lý ở địa phương ban hành nhằm tổ
chức, thực hiện, quản lý việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương.
1.3 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi ngành
Là những chính sách do các Bộ ban hành nhằm tổ chức thực hiện và quản lý
hoạt động đào tạo nguồn nhân lực mà cụ thể là lực lượng lao động đang làm việc
trong các ngành cả về mặt số lượng và chất lượng để có thể đáp ứng được yêu cầu
phát triển của ngành.
1.4 Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi doanh
nghiệp
Là những chính sách của doanh nghiệp nhằm tổ chức đào tạo nâng cao kiến
thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn lành nghề cho người lao động đang làm việc
trong doanh nghiệp để họ có thể làm việc có hiệu quả hơn trong công việc hiện tại
cũng như chuẩn bị những kiến thức kỹ năng cho những công việc ở vị trí cao hơn
trong tương lai.
2. Phân loại theo đối tượng thụ hưởng chính sách
Cùng với việc ban hành những chính sách chung áp dụng cho toàn bộ nguồn
nhân lực, Nhà nước còn ban hành những chính sách riêng áp dụng đối với từng
nhóm người lao động tùy theo mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất nước trong từng
thời kỳ. Trong thời kỳ hiện này, nước ta ban hành những chính sách đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực cho nhưng nhóm đối tượng đặc thù sau:
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khu vực quản lý hành
chính Nhà nước.
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ
- Chính sách đào tạo và phát triển đội ngũ các doanh nhân
- Chính sách đào tạo và phát triển công nhân kỹ thuật trình độ cao
3. Phân loại theo qui trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.1 Chính sách thu hút trước khi đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đó là các chính sách nhằm tạo các điều kiện thuận lợi để thu hút, khuyến
khích mọi người tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nhằm nâng cao kiến
thức, trình độ chuyên môn lành nghề, kỹ năng. Các chính sách đó bao gồm chính
sách về đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng được các yêu cầu của xã
hội. Các Chính sách ưu tiên đối với đối tượng chính sách, gia đình khó khăn như
cộng điểm ưu tiên, miễn giảm học phí tạo điều kiện cho họ được học tập. Ngoài ra
còn có chế độ học bổng đối với những học sinh đạt kết quả cao trong học tập nhằm
khuyến khích động viên sinh viên học tập. Còn có chính sách tổ chức quản lý quỹ
tín dụng cho sinh viên…
3.2 Chính sách trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đây là các chính sách nhằm tổ chức, tiến hành và quản lý quá trình đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực bao gồm chính sách về kinh phí cho quá trình đào tạo và
phát triển, chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách về xây dựng đội ngũ
cán bộ giảng viên đủ về số lượng và cao về chất lượng, tổ chức đào tạo nâng cao
trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng viển. chính sách về thiết kế nội dung và phương
pháp dạy học.
3.3 Chính sách sau đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đây là những chính sách sắp xếp, bố trí, sử dụng những người đã được đào tạo
một cách hợp lý để có thể phát huy những kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn
lành nghề, năng lực của họ thực hiện công việc phù hợp với năng lực trình độ của
họ.
III. Phân tích thực trạng chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của
Việt Nam.
1. Thực trạng chính sách thu hút đầu vào trước khi đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam.
1.1 Các chế độ chính sách ưu tiên về cộng điểm khi tuyển sinh cho thí sinh theo
khu vực.
Nước ta hiện nay là một nước đang phát triển nên nhiều vùng địa phương điều
kiện kinh tế chưa phát triển, cơ sở hạ tầng về giáo dục ở những vùng này còn rất
thiếu thốn, có những nơi học sinh phải đi từ sáng đến trưa mới đến được trường lớp.
Đồng thời do sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng. Có những vùng người dân
phải lo kiếm sống để đảm bảo cuộc sống nên không có điều kiện học tập. Do đó ở
những vùng đó điều kiện học tập không thể bằng những khu vực thành thị có điều
kiện học tập tốt. Chính vì vậy trong khi tuyển sinh Bộ giáo dục và đào tạo có chế độ
ưu tiên về điểm cho những thí sinh thuộc những vùng có điều kiện khó khăn để
nhằm đảm bảo thực hiện công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện cho các thí sinh ở
khu vực khó khăn có cơ hội học đại học.
Khi tuyển sinh vào đại học, các thí sinh được phân chia theo các khu vực 4
khu vực:
“ Khu vực 1 (KV1) gồm các xã, thị trấn thuộc miền núi, vùng cao, vùng sâu,
hải đảo, trong đó có các xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn theo quy định của Chính phủ. Các thí sinh thuộc KV 1 được cộng 1,5 điểm xét
tuyển.
- Những thí sinh thuộc khu vực 2 (KV2) gồm các thành phố trực thuộc tỉnh
(không trực thuộc Trung ương); các thị xã; các huyện ngoại thành của thành phố
trực thuộc Trung ương sẽ được ưu tiên cộng 0,5 điểm xét tuyển
- Các thí sinh thuộc khu vực 2 - nông thôn (KV2-NT) gồm các xã, thị trấn
không thuộc KV1, KV2, KV3 sẽ được cộng 1 điểm xét tuyển
- Khu vực 3 (KV3) gồm: Các quận nội thành của thành phố trực thuộc Trung
ương. Thí sinh thuộc KV3 không thuộc diện hưởng ưu tiên khu vực”.[11.8]
Dân số nước ta chủ yếu tập trung ở nông thôn, theo số liệu của Tổng cục thống
kê năm 2005 thì dân số ở khu vực nông thôn chiếm 73,03% tổng dân số cả nước, do
đó phần lớn dân số vẫn đang phải sống trong điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó
khăn và thiếu thốn. Hàng năm về số lượng thí sinh dự thi đai học, cao đẳng thì số thí
sinh thuộc các khu vực được cộng điểm ưu tiên theo khu vực chiếm 82%[10.9]
trong tổng số thí sinh dự thi. Như vậy, nếu không còn chế độ ưu tiên khu vực đối
với các đối tượng nêu trên thì sẽ làm cho đa số thí sinh dự thi đại học, cao đẳng phải
chịu thiệt thòi, cánh cửa vào học các trường đại học và cao đẳng sẽ trở nên hẹp lại.
Từ đó không có cơ hội để nâng cao trình độ, kiến thức kỹ năng cho người lao động
ở các khu vực kinh tế khó khăn. Ví dụ như đợt tuyển sinh 2005, khoảng cách điểm
chênh lệch giữa đối tượng được ưu tiên cao nhất với đối tượng thuộc KV 3 là 3,5
điểm, nhờ vậy nhiều thí sinh ở KV1, KV2, KV2-NT đã vượt qua được các thí sinh ở
KV 3 để vào học các trường đại học và cao đẳng.
Chính sách ưu tiên về cộng điểm khi tuyển sinh đại học cho các thí sinh ở các
khu vực khó khăn là một trong những chính sách cần thiết nhằm tạo điều kiện cho
những thí sinh ở các khu vực mà cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn có thể thi đỗ và
theo học ở các trường đại học, cao đẳng. Do vậy, qui chế tuyển sinh không thể bỏ đi
đối tượng ưu tiên này mà cần phải mở rộng đối tượng ưu tiên không chỉ có thí sinh
thuộc vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn mà cần có cả số thí sinh thuộc vùng
kinh tế khó khăn.
1.2 Chính sách về miễn giảm học phí cho sinh viên thuộc đối tượng chính sách,
gia đình khó khăn.
Để nhằm giảm bớt khó khăn về mặt kinh tế, cũng như thể hiện sự biết biết ơn
của nhà nước đối với những người có công với cách mạng, hiện nay nhà nước ta có
chính sách miễn, giảm học phí cho sinh viên thuộc đối tượng chính sách, gia đình
có công với cách mạng, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn có để họ điều kiện theo
học ở các trường đại học và cao đẳng.
Chính sách miễn học phí là chính sách mà đối tượng của chính sách sẽ được
miễn phí tòan phần về học phí. Ở nước ta hiện nay chế độ miễn học phí toàn phần
được áp dụng anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang và thương binh khi
theo học đại học và cao đẳng. Con thương binh, bệnh binh, con người được hưởng
diện chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 61% đến 80% [9]. Các đối
tượng này được áp dụng mức miễn học phí toàn phần nhằm thế hiện sự quan tâm
của nhà nước đến những người có công với cách mạng. đồng thời cũng giảm bớt
gánh nặng về vấn đề học phí cho các đối tượng này khi phần lớn là có hoàn cảnh
khó khăn.
Chế độ miễn học phí còn được áp dụng đối với các sinh viên mồ côi cả cha lẫn
mẹ không có nơi nương tựa, những người bản thân bị thương tật, có khó khăn về
kinh tế, khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên và có xác nhận của hội đồng
y khoa. Những đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, hàng ngày họ
phải làm việc để có thể kiếm tiền nuôi sống bản thân, tiền để trang trải cho các sinh
hoạt hàng ngày như nơi ở, tiền ăn, tiền sách vở…Đối với các đối tượng này thì
chính sách miễn học phí thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với những hoàn cảnh
khó khăn, nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Đối tượng được hưởng chính sách miễn học phí còn gồm những sinh viên có
cả cha mẹ thường trú tại hải đảo hoặc vùng sâu, vùng cao từ 3 năm trở lên theo
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. và gia đình thuộc diện nghèo đói có thu nhập
bình quân đầu người thường dưới 13 kg gạo. Đây là những gia đình có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn, sinh sống ở những nơi điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển,
cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, đặc biệt là cơ sở hạ tầng về giáo dục còn rất thấp. Rất
ít người ở đây được học tập và có thể theo học đến các bậc học cao như đại học cao
đẳng. Chính vì vậy khi có thể thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng đã là một
sự cố gắng rất lớn từ phía các sinh viên này. Nếu như không có chế độ miễn học phí
đối với các đối tượng này với mức tiền học phí là 180000 đồng/sinh viên/ tháng như
hiện nay và có thể tăng lên trong tương lai thì chắc chắn những sinh viên này sẽ
phải thôi học. Nhờ có chính sách này mà đã khuyến khích được các đối tượng này
cố gắng học tập, nâng cao trình độ để sau này có thể cải thiện tình trạng khó khăn
của gia đình.
Nhà nước còn có chế độ miễn học phí cho sinh viên hệ chính quy tập trung
ngành sư phạm khi vào học có cam kết sau khi tốt nghiệp phục vụ trong ngành Giáo
dục đào tạo nhằm thu hút, tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm sau khi ra trường sẽ
phục vụ cho ngành giáo dục, từng bước tăng số lượng giáo viên.
Bên cạnh chính sách miễn học phí, Nhà nước còn có chính sách giảm 50% học
phí cho các đối tượng sinh viên là con của thương binh; con của bệnh binh và người
hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 21 đến 60 %. Con cán bộ
công nhân viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp
thường xuyên. Có gia đình (gia đình, cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng) thuộc diện hộ
nghèo theo qui định hiện hành của nhà nước. Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình
quân đầu người hàng tháng quy đổi ra gạo: Dưới 25kg gạo ở thành thị; Dưới 20kg
gạo ở nông thôn vùng đồng bằng và trung du; Dưới 15kg gạo ở nông thôn miền núi.
Một thực trạng hiện nay đang gặp phải đối với việc thực hiện chế độ miễn
giảm học phí cho đối tượng chính sách, gia đình khó khăn đó là hiện này không có
qui định bắt buộc các trường ngoài công lập thực hiện miễn giảm như các trường
công lập. Các trường ngoài công lập không được nhà nước cấp ngân sách nên việc
miễn giảm học phí tùy thuộc vào khả năng của từng trường. Trong khi đó hàng năm
có rất nhiều thí sinh thuộc diện đối tượng chính sách dự thi đại học và cao đẳng
nhưng không đỗ vào các trường công lập mà theo học ở các trường ngoài công lập
với mức học phí cao hơn rất nhiều so với các trường công lập ( ví dụ như đại học
dân lập Văn Lang mức cao nhất là 4.400.000 đ) dẫn đến tình trạng không ít sinh
viên học trong tư thế cầm cự chờ đợi đợt thi sau.
1.3 Chế độ trợ cấp xã hội
Ngoài chế độ về miễn giảm học phí cho đối tượng chính sách, nhà nước còn
ban hành chế độ trợ cấp cho các đối tượng sau:
- Sinh viên là người dân tộc ít người, liên tục ở vùng cao (KV3) hoặc có hộ
khẩu thường trú ở vùng cao (KV3) ít nhất lên 3 năm trở lên (tính đến thời điểm
nhập học tại trường); sinh viên lên người mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương
tựa, không có người đỡ đầu chính thức, người trợ cấp thường xuyên.
- Sinh viên là gười tàn tật theo quy định của nhà nước lênngười gặp khó khăn
về kinh tế, khả năng lao động bị suy giảm từ 41% trở lên do tàn tật được Hội đồng
Y khoa có thẩm quyền xác định.
- Sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế, vượt khó học tập, gia
đình thuộc diện xóa đói giảm nghèo phải xuất trình giấy tờ thuộc hộ xóa đói giảm
nghèo do Sở LĐ - TB và XH cấp)
Theo chế độ này thì hàng tháng mối sinh viên sẽ được hưởng mức trợ cấp xã
hội là 140.000 đồng. Chế độ này nhằm góp phần giảm phần nào khó khăn về mặt
kinh tế, giúp cho sinh viên có một khoản tiền để trang trải cho cuộc sống hàng ngày,
để có thể có điều kiện học tập.
Đồng thời để khuyến khích sinh viên học tập thì ngoài mức trợ cấp xã hội
hàng tháng những sinh viên thuộc diện trợ cấp xã hộ nếu kết quả học tập đạt từ loại
khá trở lên còn được nhận thêm phần thưởng khuyến khích học tập lấy từ kinh phí
học bổng với các mức là: bằng 140% mức học bổng khuyến khích toàn phần nếu
đạt loại xuất sắc; bằng 90% mức học bổng khuyến khích toàn phần nếu đạt loại giỏi
và bằng 30% mức học bổng khuyến khích toàn phần nếu đạt loại khá.
Như vậy, mục đích của chế độ trợ cấp xã hội là hỗ trợ phần nào về kinh tế cho
sinh viên có điều kiện khó khăn có thể theo học ở các bậc đại học và cao đẳng, tạo
điều kiện cho họ có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn.
1.4 Chính sách học bổng dành cho những sinh viên có kết quả học tập tốt.
Chính sách học bổng khuyến khích được cấp cho những sinh viên có kết quả
học tập và rèn luyện tốt để nhằm khuyến khích thúc đẩy, động viên sinh viên cố
gắng phấn đấu học tập. Hiện nay, học bổng khuyến khích học tập hiện có 3 mức và
được áp dụng cho 3 loại đối tượng đó là “mức 120.000đ/ tháng đối với sinh viên có
kết quả học tập và rèn luyện từ 7,0 đến cận 8,0; mức 180.000đ/tháng đối với loại
giỏi từ 8,0 đến cận 9,0. và mức 240.000đ/tháng đối với loại xuất sắc đạt điểm từ 9,0
trở lên”[10]
Hiện nay chế độ học bổng khuyến khích học tập của nước ta còn ít về số lượng
chỉ có 3 mức. Đồng thời giá trị của mức học bổng còn rất thấp chỉ đủ trang trải một
phần cho học phí, không có đủ để chi trả cho việc ăn ở, mua sách vở. Với mức học
phí đại học trong các trường công lập hiện nay là 180.000đ/ tháng như hiện nay thì
chỉ có những sinh viên đạt loại xuất sắc mới được hưởng mức học bổng cao hơn
mức học phí hàng năm, nhưng mức cao hơn này cũng chỉ rất nhỏ không đủ để trang
trải bớt những chi phí học tập cho sinh viên, mặt khác số lượng sinh viên đạt kết
quả xuất sắc và được hưỏng mức học bổng này thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong
tổng số sinh viên được hưởng loại học bổng này. Còn những sinh viên đạt loại khá
và giỏi thì mức học bổng chỉ vừa bằng mức học phí phải đóng hàng tháng hoặc ít
hơn.
Một vấn đề nữa đối với chính sách này đó là học bổng hiện nay chủ yếu được
cấp dựa vào kết quả học tập của sinh viên. Do đó vấn đề đặt ra là những sinh viên
con nhà giàu thường có đủ điều kiện để học tập, nên kết quả học tập thường cao hơn
những sinh viên có điều kiện khó khăn ngoài thời gian học tập còn phải tham gia
làm thêm nhiều công việc để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống và chi phí học tập
cho nên điều kiện học tập và kết quả học tập đạt được không thể bằng những sinh
viên có điều kiện học tập. Chính vì vây, các học bổng này thường do các sinh viên
con nhà giàu có đủ điều kiện học tập chiếm hết.
Hiện nay vẫn tồn tại tình trạng là những sinh viên giỏi công lập được Nhà
nước cấp học bổng, còn sinh viên giỏi trong các trường ngoài công lập lại không
được trong khi họ cũng học giỏi.
1.5 Thành lập quỹ tín dụng sinh viên nhằm hỗ trợ cho sinh viên có hoàn cảnh
khó khăn vay vốn học tập.
Quỹ tín dụng sinh viên được thành lập năm 1995 theo chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên có điều kiện khó khăn được vay vốn học
tập. Hàng năm, nhiều trường đại học chứng nhận cho khoảng 5% sinh viên là sinh
viên nghèo vay vốn Nhà nước để đảm bảo điều kiện học tập. Nếu tất cả số sinh viên
này được vay với mức 3 triệu đồng/năm thì mỗi năm Nhà nước cần chi cho sinh
viên vay khoảng 100 tỷ đồng và sẽ tạo điều kiện học tập đến cho khoảng 40 nghìn
sinh viên.
Tính đến tháng 5/2002 Quy đã cho 41.534 HS - SV/126.789 HS - SV trong
diện được vay vốn (trong tổng số 471.562 HS - SV trên toàn quốc) vay vốn để học
tập.
Tuy nhiên nguồn hình thành quỹ là do các ngân hàng phải đóng góp theo chỉ
thị của Thủ tướng Chính phủ, nhưng do chỉ thị không bắt buộc, việc góp vốn hoàn
toàn mang tính tự nguyện vì đối tượng vay là sinh viên, lãi suất thấp, rủi ro cao và
chủ yếu là mang tính chất xã hội nên các ngân hàn không hào hứng tham gia. Chính
vì vậy cho đến hiện nay thì quỹ đã cạn kiệt và trong tình trạng chi vượt thu. Cụ thể
là đến ngày 30/6/2002 tổng số vốn của quỹ là 65,5 tỷ dồng, trong khi số tiền cho
vay là 76,6 tỷ đồng và khoản tiền thu nợ là 6,5 tỷ đồng. Như vậy, quỹ tín dụng sinh
viên đã phải cho vay vượt quá nguồn vốn thực có là 4,6 tỷ đồng. Như vậy nêu trong
thời gian tới, nhà nước không có những biện pháp nhằm thu hút và bổ sung vốn cho
quỹ thì sẽ có hàng chục nghìn sinh viên đang theo học tại các trường Đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước có thể phải thôi học vì
không có tiền để trang trải cho chi phí học tập.
2. Thực trạng chính sách trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt
Nam.
Thực trạng chính sách về các nguồn kinh phí để tổ chức thực hiện quá trình đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực
Để tổ chức quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thì cần phải có kinh
phí để thực hiên. Hiện nay nguồn kinh phí này được huy động thông qua nguồn vốn
ngân sách do nhà nước cấp hàng năm, học phí do học sinh và gia đình học sinh
đóng góp. Hàng năm tỷ lệ % ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo liên tục
tăng lên qua các năm. Cụ thể là năm 2002 chiếm 12,04%; năm 2003 là 12,63%;
năm 2004 là 17,1%, năm 2005 là 18% và năm 2006 là 20%. Tuy tỷ lệ ngân sách nhà
nước hàng năm cấp cho giáo dục đào tạo có tăng nhưng với số lượng trường đại học
cao đẳng ngày càng tăng lên như hiện nay thì lượng vốn ngân sách nhà nước cấp
cho mỗi trường hầu như tăng không đáng kể, trong khi đó hầu hết số vốn ngân sách
nhà nước này được dùng để chi trả lương cho giáo viên khoảng 85% ngân sách nhà
nước chi cho giáo dục, nên phần đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trường lớp,
nâng cao chất lượng đào tạo còn rất hạn chế. Chính vì vậy các trường phải trông
chờ nhiều vào nguồn thu học phí.
Tuy nhiên với mức học phí hiện nay mà mỗi sinh viên phải đóng là 1,8 triệu
đồng/ năm là còn rất thấp so với mức chi phí đầu tư bình quân cho một sinh viên
trường đại học công lập là khoảng 9 triệu đồng / năm, phần còn lại là do Nhà nước
bao cấp. Điều này thực tế không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay.
Với mức đầu tư do ngân sách nhà nước cấp và mức thu từ học phí hiện này thì
các trường đại học vẫn luôn trong tình trạng thiếu kinh phí, và phải co kéo giữa cac
khoản thu chi để đủ được chi phí đào tạo. Chính vì vậy dẫn đến không có nguồn chi
cho các yêu cầu học tập, thí nghiệm và trả lương đầy đủ hoặc cao để thu hút cán bộ
giảng dạy có chất lượng. Do đó để có thể tăng nguồn kinh phí cho đào tạo thì một
phương án đề ra và đang được xem xét hiện nay là điều chình tăng học phí nhằm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét