Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Câu hỏi ôn tập & đáp án công tác quốc phòng an ninh

* Phương châm:
“Mềm – ngầm – sâu”, chống phá toàn diện trên các lĩnh vực. Diễn biến hòa
bình là chính kết hợp răn đe quân sự có lựa chọn và khi có thời cơ, xây dựng lực
lượng phản động người Việt Nam ở trong và ngoài nước Việt Nam là chính: (ngụy
quân, ngụy quyền cũ không cải tạo, lực lượng phản động trong dân tộc, tôn giáo,
trí thức, văn nghệ sĩ, các phần tử thoái hoá biến chất, bất mãn trong các cơ quan
Đảng, Nhà nước và trong nhân dân ta); phá hoại càng cao, càng sâu càng tết, phá
có trọng điểm, chui sâu leo cao vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, lực
lượng vũ trang, phá hoại kinh tế là trọng tâm.
* Đặc trưng chủ yếu của “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam là:
“Diễn biến hòa bình” luôn kết hợp với bạo loạn lật đổ và ly khai.
Hết sức coi trọng thúc đẩy “tự diễn biến” từ bên trên trong để làm “chệch
hướng” và dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Triệt để lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để
kích động bạo loạn lật đổ, ly khai.
Với ý đồ đó, Mỹ và các thế lực thù địch đã thực hiện một loạt các bước đi như:
“ngoại giao thân thiện”, “chi phối đầu tư”, “khoét sâu nội bộ”, viện trợ kinh tế, cấp
học bổng cho học sinh, nghiên cứu sinh, nhận học sinh Việt Nam sang học tại Mỹ
và các nước tư bản khác nhằm tạo cầu nối để tiếp cận nội bộ ta.
* Âm mưu, thủ đoạn chủ yếu trên lĩnh vực chính trị là
+ Các thế lực thù địch loan tin, bia đặt có mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo cấp
cao, làm cho Đảng rối loạn, tình hình xã hội khủng hoảng nhiều mặt buộc lãnh đạo
phải phân hóa;
+ Tuyên truyền tư tưởng đa nguyên, xóa độc quyền lãnh đạo với nhiều hình
thức để xâm nhập vào nội bộ Đảng và xã hội ta;
+ Viết bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cao cấp của
Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an
+ Triệt để lợi dụng, lôi kéo lực lượng trí thức, văn nghệ, cựu chiến binh, những
người có công, hoặc giả danh lão thành cách mạng,… để viết, tán phát những cái
gọi là thư góp ý, tạo dư luận xấu khoét sâu vào cái mà chúng cho là mâu thuẫn
hòng gây chia rẽ nội bộ lãnh đạo của Đảng, tạo sự nghi kỵ, mất đoàn kết nhằm làm
cho ta suy yếu, mất dần khả năng tự vệ, tạo ra “tự diễn biến” từ trên xuống, từ
dưới lên;
+ Âm mưu đưa dần người của chúng vào các cơ quan chính quyền, nhất là ở
các vùng sâu vùng xa, địa bàn chiến lược như Tây bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,
tha hóa, lội kéo, khống chế cán bộ trong nôi bộ ta;
+ Lợi dụng chiêu bài dân chủ, áp dụng các kịch bản bầu cử nhằm tạo rối loạn xã
hội như đã thực hiện thành công ở một số nước;
+ Tận dụng sự so sánh chênh lệch mức sống của hai giai đoạn trước kia và hiện
nay thông qua một số vụ án liên quan đến cán bộ cấp cao đương chức, cố tình
phóng đại những thiệt thòi của những cán bộ đã nghỉ hưu, cán bộ lão thành cách
mạng để kích động, tạo tâm lý bất mãn nhằm lôi kéo một số người tham gia đấu
tranh chống chính quyền. Tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyên, dân tộc,
tôn giáo hòng phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.
Câu 4
* Nguyên tắc giải quyết:
+ Giữ vững quan điểm, lập trường; linh hoạt về sách lược, phân hóa cô lập kẻ
thù, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế;
+ Phát huy dân chủ, vận động thuyết phục; giữ vững kỷ cương, pháp luật và kỷ
luật đối với nội bộ.
+ Phân hóa, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, giải quyết kiên quyết, nghiêm minh;
kết hợp giáo dục vận động những người lầm đường.
+ Kiên quyết tiêu diệt bọn ác ôn ngoan cố, lực lượng vũ trang phản động; kết
hợp công tác địch vận, khoan hồng nhân đạo đối với những người trở về với nhân
dân;
+ Hoạt động giải quyết bạo loạn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành
của chính quyền, các ngành làm tham mưu, quân đội và công an chỉ huy thống nhất
các lực lượng thuộc quyền.
* Giải quyết bạo loạn chính trị cần tập trung giải quyết:
+ Nhanh chóng phong tỏa, cô lập các điểm bạo loạn ở cơ sở;
+ Ngăn chặn không cho các thế lực thù địch lôi kéo quần chúng vào các đô thị
để biểu tình;
+ Vận động, thuyết phục, giải tán các đám động tụ tập ở các thành phố, thị xã;
+ Cắt phá thông tin liên lạc của địch, phân hóa, cô lập, bắt giữ bọn cầm đầu,
phản động, những phần tử quá khích;
+ Bảo vệ, giữ vững các mục tiêu trọng yếu;
+ Nhanh chóng khắc phục hậu quả; tổ chức, hỗ trợ đưa đồng bào bị kích động,
lừa bịp trở về địa phương;
+ Không cho các cơ quan ngoại giao, các phóng viên nước ngoài vào các khu
vực bạo loạn để nắm tình hình, đưa tin xuyên tạc, kích động…;
+ Kịp thời đấu tranh vạch trần, làm thất bại âm mưu và hành động can thiệp, chỉ
đạo của nước ngoài.
Câu 5
* Khái niệm:
Vũ khí công nghệ cao là vũ khí được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên
những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy
vọt về chất lượng và tính năng kĩ thuật, chiến thuật.
* Mặt mạnh, mặt yếu của vũ khí công nghệ cao
- Mặt mạnh:
+ Độ chính xác cao, uy lực sát thương lớn, tầm hoạt động xa.
+ Có thể hoạt động trong những vùng nhiễu, thời tiết phức tạp, ngày, đêm, đạt
hiệu quả cao hơn hàng chục đến hàng trăm lần so với vũ khí thông thường.
+ Một số loại vũ khí công nghệ cao được gọi là vũ khí “thông minh” có khả
năng nhận biết địa hình và đặc điểm mục tiêu, tự động tìm diệt…
- Mặt yếu:
+ Thời gian trinh sát, xử lí số liệu để lập trình phương án đánh phá phức tạp,
nếu mục tiêu “thay đổi” dễ mất thời cơ đánh phá.
+ Dựa hoàn toàn vào các phương tiện kĩ thuật, dễ bị đối phương đánh lừa.
+ Một số loại tên lửa hành trình có tầm bay thấp, tốc độ bay chậm, hướng bay
theo quy luật … dễ bị bắn hạ bằng vũ khí thông thường.
+ Tác chiến công nghệ cao không thể kéo dài vì quá tốn kém. Dễ bị đối phương
tập kích vào các vị trí triển khai của vũ khí công nghệ cao.
+ Dễ bị tác động bởi địa hình, thời tiết, khí hậu dẫn đến hiệu quả thực tế khác
với lí thuyết.
* Ta phải phải phòng chống trinh sát của địch vì:
- Xuất phát từ đặc điểm của vũ khí công nghệ cao: Phải lập trình trước…Phải
sử dụng các phương tiện trinh sát hiện đại như Vệ tinh, MBTS, quang học, tia laze,
hồng ngoại, cây nhiệt đới, biệt kích….
- Hệ thống trinh sát phát hiện và giám sát mục tiêu là một trong những hệ thống
bảo đảm quan trọng nhất của vũ khí công nghệ cao.
* Một số biện pháp cụ thể phòng chống trinh sát của địch:
- Làm hạn chế đặc trưng của mục tiêu
+ Sử dụng các thủ đoạn chiến thuật, kĩ thuật giảm thiểu đặc trưng vật lí của
mục tiêu, xóa bỏ sự khác biệt giữa mục tiêu với môi trường xung quanh.
+ Sử dụng các biện pháp kĩ thuật giảm bớt các đặc trưng ánh sáng, âm thanh,
điện từ, bức xạ hồng ngoại… của mục tiêu là có thể giấu kín được mục tiêu.
- Che giấu mục tiêu
+ Lợi dụng địa hình, địa vật che đậy kín đáo như để trong hang động, gầm
cầu…;
+ Lợi dụng đêm tối, sương mù, màn mưa để che giấu âm thanh, ánh sáng,
điện từ, nhiệt;
+ Kiểm soát chặt chẽ việc mở máy hoặc phát xạ sóng điện từ của ra đa và
thiết bị thông tin liên lạc.
- Ngụy trang mục tiêu
+ Thông qua việc làm thay đổi tần phổ quang học hoặc phản xạ điện từ và
đặc tính bức xạ nhiệt của mục tiêu khiến chúng gần như hòa nhập vào môi trường
xung quanh.
+ Sử dụng một cách khoa học các khí tài ngụy trang như màn khói, lưới
ngụy trang, thả màn khói đặc biệt là sợi bạc…
+ Kết hợp ngụy trang với nghi binh, nghi trang; thông qua việc làm thay đổi
hình thể của mục tiêu khiến mục tiêu không bị địch chú ý… đều có thể ngăn chặn
có hiệu quả trinh sát ra đa và trinh sát hồng ngoại của đối phương.
- Tổ chức tốt việc nghi binh đánh lừa địch
+ Nghi binh là hành động tạo hiện trường giả để đánh lừa đối phương. Nếu
tổ chức tạo ra các hành động tác chiến giả một cách có kế hoạch, có mục đích để
phân tán, làm suy yếu khả năng trinh sát của địch, có thể làm cho địch nhận định
sai, dẫn đến sai lầm từ đó ta có thể kiểm chế, điều động được địch.
+ Theo phạm vi không gian, có thể chia nghi binh thành các loại sau: Nghi
binh chính diện, nghi binh bên sườn, nghi binh tung thâm, nghi binh trên bộ, nghi
binh trên không, nghi binh trên biển,… Theo mục đích, có thể chia nghi binh để
thể hiện sức mạnh, nghi binh để tỏ ra yếu kém, nghi binh để hiện thế, nghi binh
tiến công, nghi binh rút lui.
+ Kĩ thuật quân sự hiện đại đã tạo ra nhiều thủ đoạn nghi binh mới, ngoài
nghi binh về binh lực, còn có nghi binh về hỏa lực, nghi binh điện tử và các nghi
binh kĩ thuật khác. Ngoài ra, tổ chức tốt việc bày giả, nhắm đúng vào đặc điểm và
nhược điểm của hệ thống trinh sát địch, kết hợp với điều kiện tự nhiên như địa
hình, địa vật, đặt các loại mục tiêu giả để làm thay đổi cục bộ nền môi trường,
chiến trường, từ đó đánh lừa mê hoặc đối phương.
Câu 6
* Mối quan hệ giữa phòng tránh và đánh trả
Là một biện pháp có ý nghĩa chiến lược để bảo toàn lực lượng, giảm thiểu thiệt
hại về người và tài sản, là một yếu tố quan trọng để giành thắng lợi.
Là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ, tác động lẫn nhau một cách biện chứng,
đan xen nhau. Phòng tránh tốt là điều kiện để đánh trả có hiệu quả. Đánh trả có
hiệu quả tạo điều kiện để phòng tránh an toàn và chúng ta hiểu rằng trong phòng
tránh có đánh trả, trong cách đánh trả có phòng tránh.
Đánh trả có hiệu quả là vấn đề cốt lõi nhất của phòng tránh, đánh trả. Là biện
pháp tích cực nhất, chủ động nhất để bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ mục tiêu,
bảo toàn lực lượng chiến đấu.
Câu 7
* Khái niệm
Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng
trời trên vùng đất và vùng nước cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền
hoàn toàn và riêng biệt của mỗi quốc gia nhất định.
* Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia
Gồm bộ phận cấu thành là vùng đất, vùng nước, vùng lòng đất, vùng trời.
+ Vùng đất: Vùng đất của quốc gia là phần lãnh thổ chủ yếu và thường chiếm
phần lớn diện tích so với các phần lãnh thổ khác.
+ Vùng nước: là toàn bộ các phần nước nằm trong đường biên giới quốc gia, vị
trí địa lý khác nhau. Dựa vào tính chất riêng từng vùng, người ta chia vùng nước
thành các bộ phận: Vùng nước nội địa, vùng nước biên giới, vùng nội thuỷ và vùng
nước lãnh hải.
+ Vùng lòng đất: là toàn bộ phần nằm dưới vùng đất và vùng nước thuộc chủ
quyền quốc gia.
+ Vùng trời: là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất và vùng nước của
quốc gia.
+ Vùng lãnh thổ đặc biệt: là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp
pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế.
Câu 8
* Nội dung xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia
- Ưu tiên đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị,
KT - XH, QP, AN; có chính sách ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khu
vực biên giới định cư ổn định, phát triển và sinh sống lâu dài ở khu vực biên giới;
điều chỉnh dân cư theo yêu cầu phát triển KT – XH và củng cố QP - AN khu vực
biên giới.
- Tăng cường, mở rộng quan hệ đối ngoại các cấp trên khu vực biên giới; phát
triển kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác nhiều mặt nhằm xây dựng biên giới hoà
bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.
- Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sử dụng tổng hợp các lực lượng và
biện pháp của Nhà nước chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để
giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia.
- Bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường
- Bảo vệ lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới.
- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới
- Phối hợp với các nước, đấu tranh ngăn chặn mọi hành động phá hoại tình đoàn
kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước láng giềng. Trấn áp
mọi hành động khủng bố, tội phạm xuyên biên giới quốc gia.
Câu 9
* Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ và biên giới quốc gia:
- Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan
trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của
dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định; giải quyết các vấn đề tranh
chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
và lợi ích chính đáng của nhau.
- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của
toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực
lượng vũ trang là nòng cốt. Bộ đội biên phòng là lực lượng chuyên trách.
* Trách nhiệm công dân, sinh viên:
- Trách nhiệm công dân:
- Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, BGQG Việt Nam.
- Chấp hành nghiêm chính Hiến pháp, pháp luật
- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quân sự, thực hiện
nghiêm chỉnh các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi
nhiệm vụ được giao.
- Trách nhiệm của SVHS:
Không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu
sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của tổ tiên, truyền thống đấu tranh CM
từ khi có Đảng; Xây dựng củng cố lòng tin, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự
chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức BVTQ XHCN;
Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quí và bất khả xâm phạm về chủ quyền, biên
giới quốc gia; xác định rõ vinh dự, trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ
BVTQ;
Thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập QP-AN trong nhà trường, sẵn
sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ BVTQ.
Sẵn sàng tự nguyện tham gia vào lực lượng QĐND và CAND. Tình nguyện
tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu KT-QP, góp phần xây dựng khu
vực biên giới, hải đảo vững mạnh.
Câu 10
* Khái niệm
Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính phổ biến, biểu hiện bằng
những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, phạm vi đạo đức và gây hậu quả nghiêm
trọng trong đời sống cộng đồng.
- Những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội: thói hư, tật
xấu; phong tục tập quán lạc hậu; nếp sống sa đọa, trụy lạc, mê tín dị đoan …
- Bản chất của tệ nạn trái với nếp sống văn minh, đạo đức, bản chất của CNXH,
ảnh hưởng rất lớn đến con người và xã hội.
* Mục đích công tác phòng chống tệ nạn xã hội
- Ngăn ngừa, chặn đứng không để cho tệ nạn xã hội phát sinh, phát triển, lan
rộng trên địa bàn.
- Từng bước xóa bỏ những nguyên nhân, điều kiện của tệ nạn xã hội.
- Phát hiện đấu tranh, xử lý nghiêm minh những hành vi hoạt động tệ nạn xã
hội.
* Đặc điểm của tệ nạn xã hội
- Tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức; đối tượng tham gia đa dạng, phức
tạp.
- Các đối tượng hoạt động có nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi.
- Tệ nạn xã hội thường có quan hệ chặt chẽ với tội phạm hình sự, các hiện
tượng tiêu cực xã hội khác và có sự chuyển hóa lẫn nhau.
- Địa bàn hoạt động thường là những nơi tập trung đông người, khu công
nghiệp, du lịch, những nơi nhân dân còn lạc hậu, nơi công tác quản lý xã hội yếu
kém.
* Trách nhiệm của nhà trường và sinh viên trong phòng chống tệ nạn xã hội
- Đối với nhà trường
+ Thực hiện đầy đủ các chương trình giáo dục về phòng chống tệ nạn xã hội;
tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, lối sống trong sáng, lành mạnh
cho sinh viên.
+ Phối hợp với các cơ quan chức năng, lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn, Hội
phụ nữ trong đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội ; bảo vệ văn hóa, làm trong sạch
địa bàn.
+ Nắm chắc tình hình sinh viên, phát hiện kịp thời những sinh viên có hành vi
hoạt động các tệ nạn xã hội; phối hợp với công an cơ sở để giải quyết các vấn đề
liên quan đến phòng chống tệ nạn xã hội ở nhà trường
+ Tổ chức cho sinh viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, phòng
chống tệ nạn xã hội ; ký cam kết không tham gia các hoạt động tệ nạn xã hội.
+ Tăng cường các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao trong nhà trường.
- Trách nhiệm của sinh viên
+ Học tập nâng cao nhận thức về pháp luật và thấy rõ tác hại của tệ nạn xã hội
để có ý thức phòng chống, đồng thời tuyên truyền phổ biến cho mọi người.
+ Chấp hành đúng pháp luật, nội quy, quy định của nhà trường; không tham gia
các tệ nạn xã hội, cảnh giác, làm chủ bản thân, không để bị lôi kéo vào các tệ nạn
xã hội.
+ Tích cực tham gia các phong trào, các hoạt động và ký cam kết không tham
gia vào các hoạt động tệ nạn xã hội.
+ Phát hiện và cung cấp những thông tin có liên quan đến phòng chống tệ nạn
xã hội báo cho nhà trường hoặc công an cơ sở.
Câu 11
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc:
Trung thành với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát thực tiễn cách
mạng, đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan điểm
dân tộc đúng đắn, góp phần cùng toàn Đảng, lãnh đạo nhân dân ta giải phóng dân
tộc; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của dân tộc
Việt Nam. Tư tưởng về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh về
nội dung toàn diện, phong phú, sâu sắc, khoa học và cách mạng; đó là những luận
điểm cơ bản chỉ đạo, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng
dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc; xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trong
đại gia đình các dân tộc Việt Nam và giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân
tộc trên thế giới.
Khi Tổ quốc bị thực dân Pháp xâm lược, đô hộ, Hồ Chí Minh đã tìm ra con
đường cứu nước, cùng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo nhân dân đấu
tranh giải phóng dân tộc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Khi Tổ quốc được độc lập, tự do, Người đã cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân
xây dựng mối quan hệ mới, tốt đẹp giữa các dân tộc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng phát triển đi lên con đường ấm no, hạnh phúc. Người rất
quan tâm chăm sóc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc
thiểu số. Khắc phục tàn dư tư tưởng phân biệt, kì thị dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn,
dân tộc hẹp hòi. Người quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc.
Lên án, vạch trần mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chia rẽ, phá
hoại khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
* Tóm lại:
+ Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê nin, bám sát đặc điểm dân tộc và thực
tiễn cách mạng Việt Nam, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam
và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia dân tộc
trên thế giới.
+ Khắc phục tàn dư tư tưởng phân biệt, kỳ thị dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn, dân
tộc hẹp hòi.
Câu 12
* Những thủ đoạn của địch thường lợi dụng vấn đề DT, TG để chống phá CM
VN:
Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của
các thế lực thù địch rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và
làm theo. Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”;
những vấn đề lịch sử để lại; những đặc điểm văn hóa, tâm lí của đồng bào các dân
tộc, tôn giáo; những khó khăn trong đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc, tôn
giáo; những thiếu sót trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách
dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để chống phá cách mạng Việt Nam
- Thủ đoạn đó được biểu hiện cụ thể ở các dạng sau:
+ Một là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng những
thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn,
tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam
+ Hai là, chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng
dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương – giáo
và giữa các dân tộc, tôn giáo khác nhau hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết dân
tộc
+ Ba là, chúng tập trung phá hoại các cơ sỏ kinh tế xã hội, mua chuộc, lôi kéo,
ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép,
gây mất ổn định chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt
Nam đàn áp các dân tộc, tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy
yếu cách mạng Việt Nam
+ Bốn là, chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động
người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong
các dân tộc, tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam như:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét