sự thay đổi của đầu tư, dù tăng hay giảm đềucùng một lúc vừa là yếu tố duy trì ổn
định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
- Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Vốn đầu tư là một trong các yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc đọ tăng trưởng kinh
tế của mỗi quốc gia. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thường được coi là đầu vào, là
một trong những yếu tố cùng với lao động- công nghệ- kỹ thuật tạo nên sự tăng
trưởng. Đầu tư đồng nghĩa với việc cung cấp động lực, nguyên liệu và các yếu tố cần
thiết khác cho nền kinh tế vận hành. Là đòn bẩy cho tăng trưởng và phát triển theo
định hướng của mỗi nước.
- Tác động đến trình độ kiểm soát công nghệ và khoa học:
Công nghệ trong mỗi nước sẽ đánh giá sức mạnh của mỗi nước. Những nước phát
triển thường có công nghệ cao bởi vì họ có vốn cho đầu tư công nghệ lớn. Điều đó
nói lên rằng đầu tư phát triển kéo theo công nghệ nước đó phát triển. Các nước đang
phát triển thì cần hiện đại hoá có nghĩa là phát triển công nghệ. Đặc điểm quan trọng,
cơ bản mang tính quyết định nhất của công nghiệp là sự thay thế lao động thủ công
sang lao động mang tính kỹ thuật, máy móc đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội.
Đầu tư phát triển là điều tiên quyết cho phát triển trình độ công nghệ.
- Cơ cấu kinh tế sẽ thay đổi:
Trong quá trình phát triển của mỗi nước đều kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
về công nghiệp và dịch vụ. Chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
* Vai trò của đầu tư phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất cho doanh nghiệp, là nhân tố quan
trọng nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp. Nếu như yếu tố này được phát
huy mạnh thì sự phát triển của công ty càng ổn định và cs những bước nhảy vọt về vị
thế trên thị trường.
- Tăng qui mô và lớn mạnh trong cạnh tranh.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
5
Đầu tư đã quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Thật vậy,
để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ doanh nghiệp nào đều
cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm. Lắp đặt máy móc thiết bị
và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ
sở vật chất-kỹ thuật đã được tạo ra. Do đó vốn đầu tư là yếu tố đầu tiên cần phải có
để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện cho các cơ sở
này tiến hành hoạt động của mình.
4. Phân loại vốn đầu tư phát triển
4.1. Đầu tư phát triển vật chất
* Đầu tư tài sản cố định (Đầu tư xây dựng cơ bản)
- Đầu tư cho hoạt động xây dựng đây là quá trình lao động để tạo ra những sản
phẩm xây dựng bap gồm các công việc:
+ Thăm dò, khảo sát, thiết kế.
+ Xây dựng mới, xây dựng lại công trình.
+ Cải tạo mở rộng nâng cấp, hiện đạI hóa công trình.
+ Sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc.
+ Lắp đặt thiết bị máy móc vào công trình.
+ Thuê phương tiện máy móc thi công
- Hoạt động lắp đặt máy móc thiết bị.
Công tác lắp đắt máy móc thiết bị là quá trình lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ
hoặcbệ máy cố định để máy móc và thiết bọ có thể hoạt động được, như: lắp các thiết
bị máy sản xuất, thiết bị vận chuyển, thiết bị thí nghiệm, thiết bị khám chữa bệnh…
- Đầu tư xây dựng cơ bản khác, như: đầu tư xây dựng các công trình tạm, các công
trình sản xuất phụ để tạo nguồn vật liệu và kết cấu phụ kiện phục vụ ngay cho sản
xuất xây dựng… Đầu tư xây dựng các công trình tạm, các công trình sản xuất phụ để
tạo nguồn vật liệu và kết cấu phụ kiện phục vụ ngay cho sản xuất xây dựng…
* Đầu tư hàng tồn trữ
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
6
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, các
chi tiết phụ tùng và sản phẩm dự trữ. Hàng tồn trữ chiếm tỉ trọng lớn trong tài sản của
doanh nghiệp, thông thường chiếm khoảng 40-50%. Các loạI hình doanh nghiệp khác
nhau có các dạng dự trữ khác nhau.
Doanh nghiệp dịch vụ: sản phẩm là vô hình như: tư vấn,giảI trí… hàng dự trữ chủ
yếu là các dụng cụ, phụ tùng và phương tiện vật chất kĩ thuật dùng vào hoạt động của
doanh nghiệp. Các nguyên vật liệu và sản phẩm dự trữ có tính chất tiềm tàng, có thể
nằm trong kiến thức của lao động.
Doanh nghiệp thương mại: hàng tồn trữ chủ yếu là là hàng mua về và hàng chuẩn
bị đến tay người tiêu dùng.
- Chi phí mua hàng
- Chi phí đặt hàng
- Chi phí tồn trữ gồm: chi phí vốn, chi phí cất trữ, chi phí do lỗI thờI, hư hỏng,
mất.
- Chi phí thiếu hàng.
4.2. Đầu tư phát triển tài sản lưu động
* Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản sản lưu động và vốn lưu thông.
Đó là vốn của doanh nghiệp đầu tư để dự trữ hàng hoá vật tư, để chi cho quá trình
hoạt động kinh doanh, chi cho hoạt động quản lý doanh nghiệp hay nói một cách
khác là nó đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái sản
xuất. Một doanh nghiệp cũng giống như cơ thể một con người, vốn cố định chỉ tạo
nên cơ thể, bộ khung của doanh nghiệp, còn để doanh nghiệp có thể hoạt động được
thì phải có “máu”, và vốn lưu động chính là “máu” của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, một mặt lượng vốn phản ánh quy mô hoạt động của
doanh nghiệp, mặt khác nó phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng
hoá. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn là phản ánh sự vận động của vật tư
hàng hoá, nhìn chung vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng dự trữ vật tư hàng
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
7
hoá ở cá khâu nhiều hay ít. Nhưng bên cạnh đó vốn lưu động luân chuyển nhanh hay
chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu và
lưu thông sản phẩm có hợp lý hay không.
* Đặc điểm của vốn lưu động:
- Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tuần hoàn liên tục
và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định, luôn biến đỗi hình thái từ tiền
sang hàng hoá và từ hang hoá trở lại tiền một cách tuần hoàn trong một chu kỳ kinh
doanh.
* Phân loại vốn lưu động
Để thuận lợi cho việc quản lý và sử dụng thì người ta thường tiến hành phân loại
vốn lưu động, có nhiều cách phân loại vốn lưu động, với những tiêu thức khác nhau
ta có các cách phân loại vốn lưu động khác nhau:
- Nếu căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động người ta chia
làm ba loại:
+ Vốn dự trữ: tức là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, hàng hoá, phụ
tùng thay thế.
+ Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản
xuất, sản phẩm tự chế, chi phí chờ phân bổ
+ Vốn trong lưu thông: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông
Phân loại theo cách này có thể thấy mối quan hệ giữa dự trữ, sản xuất, lưu thông.
Đối với mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của mình để xác
định lượng vốn cần thiết, hợp lý trong mỗi khâu của quá trình kinh doanh.
- Nếu căn cứ cào hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần vốn
lưu động thì có thể chia thành:
+ Vốn vật tư hàng hoá: bao gồm vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, hàng tồn
kho
+ Vốn tiền tệ: bao gồm: Vốn tiền mặt, vốn thanh toán.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
8
Cách phân loại này cho phép cân đối giữa các nguồn vốn lưu động trong việc
thanh toán với khách hàng, các nhà cung cấp. Khai thác, tận dụng một cách triệt để
các loại vốn lưu động.
- Nếu căn cứ vào nguồn hình thành vốn lưu động thì chúng ta có thể chia ra các
loại vốn sau:
+ Vốn lưu động thuộc ngân sách: đối với các doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn
lưu động này là số vốn lưu động do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ
ngân sách nhà nước.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác thì đó là vốn do cổ đông đóng góp, do
chủ doanh nghiệp tự bỏ vốn ra, do xã viên góp.
+ Vốn lưu động thuộc nguồn vốn bổ sung: Đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tự
bổ sung mà chủ yếu do doanh nghiệp lấy một phần từ lợi nhuận để tăng thêm vốn lưu
động, mở rộng hoạt động kinh doanh.
+ Vốn lưu động thuộc nguồn vốn liên doanh liên kết: Đây là nguồn vốn doanh
nghiệp có dược khi tham gia liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác để mở
rộng hoạt động kinh doanh.
+ Vốn lưu động thông qua phát hành cổ phiếu.
+ Vốn lưu động huy động từ vốn vay: Đây là một nguồn vốn quan trọng mà
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động thường xuyên. Tùy
thuộc vào từng điều kiện, mối quan hệ của doanh nghiệp mà vốn vay có thể huy động
từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, khách hàng, bạn hàng
- Nếu căn cứ vào phương pháp xác định vốn thì người ta chia vốn ra làm hai loại:
+ Vốn lưu động định mức: Là vốn lưu động tối thiểu cần thiết thường xuyên
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể xác định, bao gồm: vốn
dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm
+ Vốn lưu động không định mức: Là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để xác định, tính toán trước.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
9
4.3. Đầu tư phát triển tài sản vô hình
* Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Lao động là yếu tố đầu vào duy nhất vừa là chủ thể đầu tư vừa là đốI tượng được
đầu tư. Số lượng lao động phán ánh sự đóng góp về lượng, chất lượng lao động (thể
hiện ở thể lực, trí lực, ở tinh thần và ý thức lao động) phản ánh bởI sự đóng góp về
chất của lao động vào quá trình sản xuất.
- Đào tạo trực tiếp: trang bị kiến thức phổ thông, chuyên nghiệp và kiến thức quản
lý cho người lao động. Việc đào tạo thể hiện ở hai cấp độ:
+ Đào tạo phổ cập: mục đích là cung cấp cho người lao động kiến thức cơ bản để
có thể hiểu và nắm được các thao tác cơ bản trong quá trình sản xuất. Hình thức đào
tạo này đơn giản và dễ tiếp thu phù hợp với nhu cầu phát triển theo chiều rộng. Đào
tạo phổ cập có thể thông qua hai hình thức:
Đào tạo mới: áp dụng với người lao độngchưa có nghề hoặc chưa có kỹ năng lao
động đối với nghề đó.
+ Đào tạo lại: áp dụng với người lao động đã có nghề nhưng nghề đó không còn
phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp, hoặc áp dụng khi doanh nghiệp thay đổi
công nghệ mớI đòi hỏi kiến thức và kĩ năng mới.
+ Đào tạo chuyên sâu: mục đích là nhằm hình thành nên một đội ngũ cán bộ và
công nhân giỏi, chất lượng cao, làm việc trong những diều kiện phức tạp hơn. Đây là
lực lượng lao động nồng cốt của doanh nghiệp và tạo nên sức mạnh cạnh tranh của
doanh nghiệp.
- Lập quỹ dự phòng mất việc làm: để đào tạo lao động trong trường hợp thay đổi cơ
cấu hoặc công nghệ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho lao động trong doanh nghiệp.
Trợ cấp cho lao động thường xuyên nay bị mất việc làm.
- Lập quỹ khen thưởng, quỹ bảo hiểm xã hội: để khuyến khích ngườI lao động nâng
cao tay nghề, phát huy sáng kiến… từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Phương pháp này khuyến khích lao động làm việc hăng say, tự giác vớI chất lượng
tốt nhất.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
10
- Lập quỹ phúc lợi để hỗ trợ người lao động khi gặp khó khăn giúp họ yên tâm sản
xuất.
* Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học công nghệ.
Nghiên cứu và phát triển (R&D) là hoạt động động không thể thiếu mang tính tất
yếu trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hay không, có
thể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường hay không là do một phần rất lớn từ
kết quả của hoạt động (R&D) của doanh nghiệp đó. Có thể nói R&D là sự đảm bảo
cho sự tồn tại để không bị lạc hậu của tất cả các doanh nghiệp, của tất cả các nền kinh
tế trên thế giới.
- Nghiên cứu thuần tuý: là việc khảo sát ban đầu nhằm phát minh công nghệ mới,
hoặc sử dụng những nguyên liệu mới. Hình thức đầu tư này đòi hỏi chi phí rất cao và
khả năng rủi ro lớn, vì vậy thường chỉ các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và có
tham vọng trở thành người tiên phong trong lĩnh vực trong việc tìm ra công nghệ mới
thì mới có thể theo đuổi hình thức này.
- Nghiên cứu ứng dụng: thường hướng vào giải quyết một số vấn đề đặc biệt hay có
mục đặc biệt. nghiên cứu ứng dụng hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp vì có thể nhìn
thấy triển vọng và thực tế cho phép thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn. Trong hình thức
này, khoa học cơ bản được vận dụng vào các quá trình công nghệ, vật liệu hay sản
phẩm mới. Thông qua nghiên cứu các doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩm
nhờ sử dụng nguyên liệu mới tốt hơn, đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt hơn, hoặc tạo
ra được sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao thạm chí là tuyết đối (đối với sản phẩm
khó sản xuất, sản phẩm hoàn toàn mới); tăng thêm sức hấp dẫn đối với khách hàng
nhờ cải tiến mẫu mã sản phẩm.
* Đầu tư cho hoạt động marketing
Trong nền kinh tế thị trường, danh nghiệp không chỉ có mối quan hệ bên trong
(thể hiện ở chức năng quản lí sản xuất, quản lí tài chính, quản lý nguồn nhân lực) mà
còn có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với thị trường thể hiện thông qua chức năng
quản lí marketing. Mục tiêu của bất kì doanh nghiệp nào cũng hướng đến nhu cầu của
khách hàng, và trong một thị trường cạnh tranh với vô số người bán, marketing sẽ
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
11
giúp doanh nghiệp mang hình ảnh của mình, sản phẩm của mình đến với khách hàng
một cách gần hơn, trực diện hơn.
Chi phí cho hoạt động marketing, củng cố uy tín và phát triển thương hiệu.
- Chi phí cho quảng cáo (chiếm một tỉ phần không nhỏ trong tổng chi phí và tổng lợi
nhuận).
- Chi phí cho tiếp thị, khuyến mãi.
- Chi phí cho nghiên cứu thị trường, xây dựng và củng cố uy tín và phát triển
thương hiệu ( vì một thương hiệu tốt thì phải có cách tiếp thị và truyền thông tốt).
- Việc đầu tư phát triển thương hiệu cần phải được xây dựng thành một chiến lược
và có sự giúp đỡ của những chuyên gia. Nếu không, nó sẽ là con dao hai lưỡi.
- Hình thành Quỹ đầu tư phát triển thương hiệu và mở rộng thị phần kinh doanh trích
từ các khoản thu của doanh nghiệp.
* Đầu tư cho tài sản vô hình khác
- Đầu tư vào quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ
sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu
khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, chỉ là một trong ba quyền của
chủ sở hữu.
Tại Việt Nam, hiện nay quyền sở hữu đất đai thuộc về Nhà nước, mọi công dân, tổ
chức, công ty … chỉ có quyền sử dụng đất.
Sau khi một dự án được phê duyệt, việc đầu tiên cần làm đối với tất cả các chủ đầu
tư là xin cấp (với doanh nghiệp nhà nước) hoặc mua (với các doanh nghiệp khác)
quyền sử đất. Do đó đây là hoạt động đầu tư đầu tiên làm tăng giá trị tài sản cho
doanh nghiệp - giá trị
- Chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp.
Bao gồm các chi phí thăm dò, lập dự án, chi phí huy động vốn đầu tư ban đầu, các
chi phí xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị ban đầu.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
12
Việc mở rộng sản xuất kinh doanh với việc xây dựng mới thêm nhà xưởng, thiết bị,
tăng thêm chi phí nhân công… cũng chính là hoạt động đầu tư phát triển.
- Đầu tư cho hoạt động quản lí.
Một bộ máy tinh giản gọn nhẹ nhưng hoạt động trơn tru và nhịp nhàng sẽ vừa hiệu
quả hơn vừa tiết kiệm một khoản chi phí rất lớn cho doanh nghiệp
- Đầu tư cho bằng phát minh sáng chế.
Bằng phát minh, sáng chế hay bản quyền là những tài sản vô hình quan trọng của
doanh nghiệp. Nó tạo ra thế mạnh và lợi thế ạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị
trường. Đầu tư cho lĩnh vực này chính là đầu tư phát triển.
II. Hiệu quả đầu tư phát triển
1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển của các doanh
nghiệp
- Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền
kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển thì các nhà quản trị doanh nghiệp
phải quan tâm đến nhiều vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu
quả kinh doanh của công ty thường được đo bằng chỉ tiêu lợi nhuận, mà lợi nhuận
chính là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh
doanh thì một mặt chúng ta phải tăng doanh thu, mặt khác phải tối thiểu hoá chi phí
cho một lượng doanh thu nhất định. Điều đó cũng có nghĩa là làm thế nào để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Những đồng vốn của doanh nghiệp nên
đầu tư vào lĩnh vực, mặt hàng nào? Chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về là bao nhiêu ?
Thực hiện phương án đó như thế nào? Trong khoảng thời gian bao lâu? để thu được
kết quả tốt nhất. Có trả lời được các câu hỏi đó thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành
sản xuất kinh doanh và đứng vững trên thị trường.
- Tăng khả năng cạnh tranh. Với một lượng vốn trong khả năng huy động của
doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có những biện pháp sử dụng phù hợp với lợi thế,
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
13
công nghệ, lao động hiện có của doanh nghiệp, và sự biến động của môi trường kinh
doanh.
Để có được những biện pháp thiết thực, chúng ta cần phải nắm vững những yêu
cầu trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng vốn.
2. Những yêu cầu trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
2.1. Đảm bảo phù hợp với chiến lược lâu dài của doanh nghiệp
Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt hiện nay cùng với sự biến động thường xuyên
của môi trường kinh doanh mà đặc biệt là môi trường công nghệ thì việc xây dựng
một chiến lược kinh doanh lâu dài là hết sức cần thiết, vì vậy trong quá trình đưa ra
các biện pháp và thực hiện nâng cao hiệu sử dụng vốn nó phải phù hợp với chiến
lược lâu dài của doanh nghiệp, đôi khi mục tiêu trước mặt và mục tiêu dài hạn có
mâu thuẫn với nhau.Vì vậy phải tránh tình trạng chỉ thấy được những cái lợi trước
mắt mà không thấy được cái lợi lâu dài. Thêm vào đó giữa các lĩnh vực hoạt động
cũng thường có mâu thuẫn với nhau, mỗi lĩnh vực thường có những mục tiêu khác
nhau, do đó cần thiết phải đưa ra các biện pháp hỗ trợ lẫn nhau, cùng hướng tới mục
tiêu chiến lược của doanh nghiệp.
2.2. Đảm bảo yêu cầu định hướng, pháp luật của nhà nước
Doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường luôn chịu sự chi phối ở tầm vĩ mô
của nhà nước. Vì vậy doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động trong một khuôn khổ
cho phép, mặt khác doanh nghiệp chịu sự định hướng của nhà nước hoạt động vì lợi
ích của doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung thể hiện ở các chính sách kinh
tế, pháp luật, xã hội Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn mở rộng
sản xuất kinh doanh, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, giảm vốn vay tăng vốn tự
có Song nhà nước cũng nghiêm khắc trừng trị những các nhân, đơn vị đầu tư vốn vì
mục đích trục lợi.
2.3. Đảm bảo giải quyết tốt việc làm cho lao động trong doanh nghiệp.
Sinh viên: Bùi Ngọc Bút Đầu tư 47B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét