Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư .doc

Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một hình thức chủ yếu trong đầu t quốc tế
bao gồm đầu t trực tiếp ( FDI ),đầu t qua thị trờng chứng khoán (porfolio),
cho vay của các tổ chức kinh tế và các ngân hàng nớc ngoài (vay thơng
mại ), nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ( ODA). Vay thơng mại lãi
suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ nớc ngoài trong tơng lai. Viện trợ
bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các
tổ chức quốc tế hoặc chính phủ các nớc tiên tiến. Viện trợ không hoàn lại
không trở thành nợ nớc ngoài nhng quy mô nhỏ và thờng chỉ giới hạn trong
lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ. Đầu t qua thị trờng chứng khoán cũng
không trở thành nợ nhng sự thay đổi đột ngột trong hành động ( bán chứng
khoán, rút tiền về nớc) của nhà đầu t nớc ngoài ảnh hởng mạnh đến thị trờng
vốn, gây biến động tỷ giá và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô. Đầu t trực
tiếp nớc ngoài ( FDI ) cũng là hình thức đầu t không trở thành nợ. Đây là
nguồn vốn có tính chất bén rễ ở bản xứ nên không dễ rút đi trong thời gian
ngắn. Ngoài ra, đầu t trực tiếp nớc ngoài không chỉ đầu t vốn mà còn đầu t
công nghệ và tri thức kinh doanh nên dễ thúc đẩy sự phát triển của các
ngành công nghiệp hiện đại và phát triển kinh tế.
FDI có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Đây là hình thức đầu t bằng vốn của t nhân do các chủ đầu t tự quyết
định đầu t , quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi .
Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những
ràng buộc về chính trị , không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
+ Chủ đầu t nớc ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu t nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp
liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nớc trong khu vực,
chủ đầu t chỉ đợc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài trong một số
lĩnh vực nhất định và chỉ đợc tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên
nớc ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nớc chủ nhà nắm
giữ. Trong khi đó, Luật đầu t nớc ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn
đối với hình thức 100% vốn nớc ngoài và quy định bên nớc ngoài phải góp
tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án .
+ Thông qua đầu t nớc ngoài, nớc chủ nhà có thể tiếp nhận đợc công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đây là những mục tiêu
mà các hình thức đầu t khác không giải quyết đợc.
+ Nguồn vốn đầu t này không chỉ bao gồm vốn đầu t ban đầu của chủ đầu
t dới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm
cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng nh vốn
đầu t từ nguồn lợi nhuận thu đợc.
Do những đặc điểm và thế mạnh riêng có nh ít phụ thuộc vào mối quan
hệ chính trị giữa hai bên; bên nớc ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất
kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, họ quan tâm đến hiệu quả
kinh doanh, lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay
nghề của công nhân do có quyền lợi gắn chặt với dự án. Đầu t trực tiếp nớc
ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế ở các nớc đầu t và các nớc nhận đầu t . Cụ thể là:
5
+ Đối với các nớc đầu t , đầu t ra nớc ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử
dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu t , hạ giá thành sản phẩm và
nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu t và xây dựng, đợc thị trờng cung cấp
nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu t ra nớc ngoài giúp
bành trớng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc
xây dựng nhà máy sản xuất và thị trờng tiêu thụ ở nớc ngoài mà các nớc đầu
t mở rộng đợc thị trờng tiêu thụ, tránh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của các
nớc.
+ Đối với các nớc nhận đầu t : hiện nay có hai dòng chảy của vốn đầu t
nớc ngoài. Đó là dòng chảy vào các nớc phát triển và dòng chảy vào các nớc
đang phát triển.
- Đối với các nớc kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc
giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội nh thất nghiệp và lạm
phát Qua FDI, các tổ chức kinh tế n ớc ngoài mua lại những công
ty, doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình
thanh toán và tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dới hình thức các loại thuế để
cải thiện tình hình bội chi ngân sách , tạo ra môi trờng cạnh tranh thúc đẩy
sự phát triển kinh tế và thơng mại, giúp ngời lao động và cán bộ quản lý học
hỏi kinh nghiệm quản lý của các nớc khác.
- Đối với các nớc đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển
kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm
lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nớc này.
Theo thống kê của Liên hợp quốc, số ngời thất nghiệp và bán thất
nghiệp của các nớc đang phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số
lao động.
FDI giúp các nớc đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài.
Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan
hiếm đợc giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá_
thời kỳ mà thông thờng đòi hỏi đầu t một tỷ lệ vốn lớn hơn các giai đoạn về
sau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong. FDI là ph-
ơng thức đầu t phù hợp với các nớc đang phát triển, tránh tình trạng tích luỹ
quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng xảy ra.
Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nớc đang
phát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới. Quá trình đa công nghệ vào
sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nớc
đang phát triển trên thị trờng quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế xã hội hiện đại đợc du
nhập vào các nớc đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nớc bắt kịp ph-
ơng thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lợng lao động quen dần với
phong cách làm việc công nghiệp cũng nh hình thành dần đội ngũ những nhà
doanh nghiệp giỏi.
FDI giúp các nớc đang phát triển mở cửa thị trờng hàng hoá nớc ngoài và
đi kèm với nó là những hoạt động marketing đợc mở rộng không ngừng. Do
6
các công ty t bản độc quyền quốc gia đầu t trực tiếp vào các nớc đang phát
triển mà các nớc này có thể bớc vào thị trờng xa lạ, thậm chí có thể xem nh
lãnh địa cấm kỵ đối với họ trớc kia.
FDI giúp tăng thu ngân sách nhà nớc thông qua thu thuế các công ty nớc
ngoài. Từ đó các nớc đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy
động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nớc tiếp nhận đầu t , bên cạnh u
điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:
- Nếu đầu t vào môi trờng bất ổn định về kinh tế và chính trị thì nhà
đầu t nớc ngoài dễ bị mất vốn.
- Nếu nớc sở tại không có một quy hoạch đầu t cụ thể và khoa học dẫn
tới sự đầu t tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai
thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng sẽ xảy ra.
1.1.2.2.Các hình thức dự án đầu t trực tiếp n ớc ngoài .
Dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài là loại dự án đầu t theo quy định của luật
đầu t nớc ngoài về nội dung, hình thức đầu t . Các hình thức đầu t nớc ngoài
cơ bản là:
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( BOT BTO BT )

1.1.2.2.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa các bên hợp doanh
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến
hành đầu t kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có các đặc điểm sau:
- Về đối tợng áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:
Việc chọn hình thức đầu t do ngời đầu t quyết định. Tuy vậy Nhà nớc
cũng có những quy định để hớng dẫn ngời đầu t . Tại Việt Nam, nhà nớc quy
định việc xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt
chỉ thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Một số lĩnh vực
khác có thể áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh
nghiệp liên doanh nh: khai thác chế biến dầu khí, xây dựng kinh doanh hạ
tầng khu công nghiệp, khu chế xuất; xây dựng; vận tải; du lịch lữ hành và
những lĩnh vực không thuộc lĩnh vực đầu t có điều kiện theo quy định tại
Nghị định số 10/1998/NĐ-CP.
- Khi thực hiện hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên tham
gia không thành lập pháp nhân chung mà mỗi bên giữ pháp nhân của
7
mình và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trớc pháp luật.
Tuy vậy, Chính phủ cho phép, trong quá trình kinh doanh, các bên
hợp doanh đợc quyền thoả thuận lập Ban điều phối để làm nhiệm vụ
theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban
điều phối này không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của ban điều phối do các bên
hợp doanh thoả thuận.
- Bên nớc ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thực hiện nghĩa
vụ thuế, các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam. Còn bên Việt Nam thì thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nớc.
- Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam không quy định cụ thể nội dung
góp vốn của từng bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh . Trong
thực tế, các bên thực hiện góp vốn với các nội dung tơng tự nh quy
định đối với các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh, chỉ khác là
không góp vốn pháp định.
1.1.2.2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp đợc thành lập trên cơ sở hợp
đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu t, kinh
doanh . Trong trờng hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể đợc thành
lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ nớc sở tại với Chính phủ các
nớc khác.
Các doanh nghiệp liên doanh đã đợc phép hoạt động tại Việt Nam đợc
phép thành lập doanh nghiệp liên doanh mới với nhà đầu t nớc ngoài hoặc
doanh nghiệp Việt Nam; với cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên
cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định; với ngời Việt
Nam định c ở nớc ngoài hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài đã đợc thành lập tại Việt Nam.
Hình thức của doanh nghiệp liên doanh:
Doanh nghiệp liên doanh đợc thành lập tại Việt Nam theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp liên doanh trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp .
Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn trong nớc, các bên liên doanh
không nhất thiết phải góp đủ vốn pháp định ngay khi thành lập công ty. Việc
góp vốn có thể đợc thoả thuận góp nhiều lần phù hợp với tiến độ thực hiện
dự án .
Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh:
Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh là mức vốn bắt buộc phải có
để thành lập doanh nghiệp, đợc ghi vào điều lệ của doanh nghiệp. Theo Luật
8
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, vốn pháp định doanh nghiệp liên doanh phải ít
nhất bằng 30% vốn đầu t của doanh nghiệp. Trong trờng hợp đặc biệt, tỷ lệ
này có thể thấp hơn 30% nhng phải đợc cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t n-
ớc ngoài chấp thuận. Thông thờng, đó là trờng hợp của các doanh nghiệp
liên doanh về xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế xã
hội khó khăn, các doanh nghiệp liên doanh ở miền núi, vùng sâu, vùng xa,
các doanh nghiệp liên doanh trồng rừng. Đối với các doanh nghiệp liên
doanh nói trên, vốn pháp định có thể thấp đến 20% vốn đầu t .
Trong những khoản vốn góp của bên Việt Nam, nhà đầu t thờng quan tâm
khoản góp bằng giá trị quyền sử dụng đất.
Giá trị quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh đợc xác định bằng tiền thuê
đất tơng ứng với thời hạn liên doanh. Trong thực tế, các doanh nghiệp Việt
Nam có thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất với thời hạn ít hơn thời
hạn hoạt động của liên doanh.
Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mình, mỗi quốc gia có thể quy định
giới hạn phần góp vốn của bên nớc ngoài trong doanh nghiệp liên doanh (th-
ờng không quá 49%). Với nớc ta, nhằm thu hút nhiều vốn đầu t nớc ngoài,
trong Luật đầu t nớc ngoài quy định phần góp vốn của bên nớc ngoài hoặc
các bên nớc ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không bị
hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên nhng không dới
30% vốn pháp định trừ những trờng hợp do Chính phủ quy định. Trong một
số trờng hợp, căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trờng, hiệu quả
kinh doanh và các lợi ích kinh tế xã hội khác của dự án, cơ quan cấp giấy
phép đầu t có thể xem xét cho phép bên nớc ngoài tham gia liên doanh có tỷ
lệ góp vốn pháp định thấp đến 20%.
Luật đầu t nớc ngoài không quy định mức tối thiểu bên Việt Nam phải
góp vốn, nhng trên thực tế bên Việt Nam thờng góp 30-40% vốn pháp định.
Đối với doanh nghiệp liên doanh nhiều bên, Chính phủ sẽ quy định tỷ lệ góp
vốn tối thiểu của mỗi bên Việt Nam. Đối với những dự án quan trọng do
Chính phủ quy định, khi ký kết hợp đồng liên doanh, các bên liên doanh thoả
thuận về thời điểm, phơng thức và tỷ lệ tăng vốn góp của bên Việt Nam
trong vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
Vốn pháp định có thể đợc các bên góp trọn một lần khi thành lập doanh
nghiệp liên doanh hoặc có thể góp từng phần trong một thời gian hợp lý. Các
bên thoả thuận phơng thức, tiến độ góp vốn pháp định và ghi vào hợp đồng
liên doanh phù hợp với giải trình kinh tế- kỹ thuật của hồ sơ dự án .
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh không đợc giảm vốn
pháp định nhng có thể đợc tăng thêm. Việc tăng vốn pháp định, thay đổi tỷ
lệ góp vốn của các bên liên doanh sẽ do Hội đồng quản trị quyết định và
phải đợc cơ quan cấp giấy phép đầu t chuẩn y.
Cơ quan lãnh đạo và điều hành doanh nghiệp liên doanh:
a. Hội đồng quản trị :
Cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị gồm
đại diện của các bên tham gia liên doanh. Các bên tham gia liên doanh chỉ
9
định ngời của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tơng ứng với phần
góp và vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị:
Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh do các bên liên
doanh thoả thuận cử ra. Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Hội đồng quản trị
đợc ghi trong điều lệ doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản là: trách
nhiệm triệu tập, chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị và giám sát việc
thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị
không trực tiếp ra lệnh cho Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc của doanh
nghiệp liên doanh .
- Nguyên tắc làm việc của Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh thực hiện chức năng quản trị
doanh nghiệp thông qua cơ chế ra quyết định, đôn đốc, giám sát việc thực
hiện các nghị quyết đó.Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt
động của doanh nghiệp liên doanh phải do Hội đồng quản trị quyết định
theo nguyên tắc nhất trí giữa các thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại
cuộc họp. Những vấn đề quan trọng đó là:
. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc thứ nhất,
kế toán trởng.
. Sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp liên doanh .
. Duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình
xây dựng cơ bản.
. Vay vốn đầu t .
Các bên tham gia liên doanh có thể thoả thuận trong điều lệ doanh nghiệp
các vấn đề khác cần đợc quyết định theo nguyên tắc nhất trí.
Đối với những vấn đề khác, Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc
biểu quyết quá bán số thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp.
b. Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc.
Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc doanh nghiệp liên doanh có
nhiệm vụ quản lý và điều hành công việc hàng ngày của doanh nghiệp.
+ Tổng giám đốc là ngời đại diện cho doanh nghiệp trớc toà án và cơ
quan nhà nớc.
+ Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị về hoạt động
của doanh nghiệp liên doanh
Vấn đề thuê tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, tính chất của dự án , Hội đồng quản trị
của doanh nghiệp liên doanh đợc thuê tổ chức quản lý để điều hành hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài muốn thuê tổ chức quản lý phải
có các điều kiện theo quy định.
1.1.2.2.3. Doanh nghiệp100% vốn đầu t n ớc ngoài.
10
Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của nhà đầu t nớc ngoài, do nhà đầu t nớc ngoài thành lập tại Việt Nam, tự
quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài có hình thức và nội dung tơng tự
doanh nghiệp liên doanh. Cụ thể:
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, có t cách pháp nhân theo pháp luật
Việt Nam.
- Vốn pháp định của doanh nghiệp100% vốn đầu t nớc ngoài ít nhất
phải bằng 30% vốn đầu t . Đối với các dự án xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, dự án
đầu t vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, trồng rừng, tỷ lệ này có thể
thấp đến 20%.
- Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài
không đợc giảm vốn pháp định.
- Hồ sơ xin cấp giấy phép đầu t thành lập doanh nghiệp 100% vốn
đầu t nớc ngoài cũng tơng tự nh doanh nghiệp liên doanh , chỉ khác ở
chỗ là không có hợp đồng liên doanh.
Điều lệ của doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài phải bảo đảm các
nội dung theo quy định nh sau:
- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của nhà đầu t nớc ngoài;
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp;
- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp;
- Vốn đầu t , vốn pháp định , phơng thức, tiến độ góp vốn và tiến độ
xây dựng;
- Các nguyên tắc tài chính;
- Thời hạn hoạt động, kết thúc, giải thể doanh nghiệp;
- Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, kế hoạch đào tạo cán bộ quản
lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân;
- Thủ tục sửa đổi điều lệ doanh nghiệp;
- Đại diện cho doanh nghiệp trớc toà án, trọng tài và cơ quan nhà nớc
Việt Nam.
Theo quy định hiện nay, ngời đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu t
nớc ngoài là Tổng giám đốc doanh nghiệp. Trờng hợp Tổng giám đốc không
thờng trú tại Việt Nam thì phải uỷ quyền cho ngời đại diện của mình và ngời
đại diện đó phải là ngời thờng trú tại Việt Nam.
1.1.2.2.4. Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao.
Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( viết tắt theo tiéng Anh là
BOT) là một thuật ngữ để chỉ một mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu t t
nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn đợc dành riêng cho khu vực
nhà nớc. Tài trợ dự án là điểm mấu chốt của phơng thức đầu t BOT, nghĩa
11
là các bên cho vay xem xét tới tài sản và nguồn thu của dự án để hoàn trả lại
vốn vay thay vì các nguồn bảo lãnh khác nh bảo lãnh của Chính phủ hay tài
sản của các nhà tài trợ dự án .
BOT là một hình thức đầu t còn mới ở Việt Nam nhng nó đã đợc triển
khai thành công ở nhiều nớc trên thế giới nhất là các nớc đang phát triển
(nh Trung Quốc, Philippin) thiếu vốn để phát triển cơ sở hạ tầng cho nền
kinh tế. Ngày 23/12/1992 Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã bổ sung hình
thức đầu t BOT vào Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam
đã ban hành Nghị định 87CP ngày 23/11/1993 và Nghị định 62/1998/NĐ-CP
về quy chế đầu t theo hợp đồng BOT cho đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Theo loại hình đầu t này có 3 hình thức đầu t :
- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) ;
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh ( BTO);
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT);
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nớc chủ nhà có thẩm
quyền và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng( kể cả
mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời
hạn nhất định để thu hồi vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý, hết thời hạn kinh
doanh, nhà đầu t nớc ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho
nớc chủ nhà.
Hợp đồng BTO có nội dung khác với BOT là: sau khi xây dựng xong, nhà
đầu t nớc ngoài chuyển giao ngay công trình đó cho nớc chủ nhà, Chính phủ
nớc chủ nhà sẽ dành cho nhà đầu t nớc ngoài quyền kinh doanh công trình
đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
Hợp đồng BT có đặc điểm là sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu
t nớc ngoài chuyển giao công trình đó cho nớc chủ nhà và Chính phủ nớc
chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu t nớc ngoài thực hiện dự án khác để
thu hồi vốn đầu t và có lợi nhuận hợp lý.
Tại Việt Nam, cơ quan nhà nớc Việt Nam có thẩm quyền ký các hợp
đồng BOT,BTO, BT là: các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng đợc Thủ tớng Chính phủ chỉ định.
Chính phủ Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nớc ngoài đầu t
theo hợp đồng BOT, BTO, BT trong các lĩnh vực sau đây: giao thông, sản
xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nớc, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác
do Thủ tớng Chính phủ quyết định.
Để thực hiện hợp đồng BOT,BTO, BT chủ đầu t đợc thành lập doanh
nghiệp BOT,BTO,BT ( gọi chung là doanh nghiệp BOT) . Doanh nghiệp
BOT có thể là doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu t
nớc ngoài đợc thành lập theo quy định của Luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam.
Hình thức tài trợ BOT cho các dự án cơ sở hạ tầng có rất nhiều lợi thế
tiềm năng. Đây là một phơng pháp lựa chọn có tính sống còn đối với hầu hết
các quốc gia so với phơng pháp truyền thống có sử dụng vốn vay của Chính
phủ hoặc các nguồn từ ngân sách. Không giống nh phơng pháp t nhân hoá
12
hoàn toàn, ở đây Chính phủ vẫn duy trì quyền kiểm soát có tính chiến lợc đối
với dự án. Dự án sẽ đợc chuyển giao cho Chính phủ nớc chủ nhà khi kết thúc
thời kỳ đặc quyền. Hình thức này có các lợi thế tiềm năng sau đây:
- Sử dụng nguồn tài trợ của khu vực t nhân để cung cấp các nguồn vốn
mới nhằm giảm các khoản vay nhà nớc và khoản chi trực tiếp, nhằm
củng cố mức độ tin cậy trong thanh toán của Chính phủ nớc chủ nhà.
- Có khả năng tăng tốc độ phát triển các dự án mà nếu không sẽ phải
chờ đợi và cạnh tranh để có các nguồn lực hiếm của Chính phủ.
- Sử dụng vốn, sáng kiến và bí quyết công nghệ của khu vực t nhân để
làm giảm chi phí xây dựng dự án, rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu
quả hoạt động.
- Phân bổ rủi ro của dự án và các gánh nặng mà nếu không sẽ phải do
khu vực nhà nớc gánh chịu. Khu vực t nhân chịu trách nhiệm vận
hành, bảo dỡng và đối với đầu ra của dự án trong một giai đoạn đợc
mở rộng (thông thờng, Chính phủ sẽ chỉ nhận đợc bảo đảm cho giai
đoạn xây dựng thông thờng và bảo hành thiết bị).
- Sự tham gia của các nhà tài trợ t nhân và các bên cho vay thơng mại
có kinh nghiệm để bảo đảm có đợc sự đánh giá sâu sắc và là một dấu
hiệu thêm đối với tính khả thi của dự án .
- Chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân sự của địa phơng và phát triển
thị trờng vốn quốc gia.
- Trái với việc t nhân hoá hoàn toàn, Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm
soát có tính chiến lợc đối với dự án mà sẽ đợc chuyển giao cho khu
vực nhà nớc vào cuối giai đoạn đặc quyền.
- Có cơ hội để tạo ra đợc một phơng pháp chuẩn của khu vực t nhân để
qua phơng pháp chuẩn này có thể tính toán đợc hiệu quả của các dự
án tơng tự thuộc khu vực nhà nớc và các cơ hội tăng cờng công tác
quản lý nhà nớc đối với các công trình cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên phơng thức BOT không phải là một phơng pháp chữa bách
bệnh cho một chính phủ. Các dự án BOT là vô cùng phức tạp cả về phơng
diện pháp lý và tài chính. Các dự án này cần phải có thời gian để phát triển
và đàm phán. Các dự án này cần có sự tham gia và hỗ trợ của nớc chủ nhà,
cần một môi trờng pháp lý và kinh tế phù hợp, sự ổn định về chính trị, đồng
tiền có thể chuyển đổi tự do cũng nh các yếu tố khác phù hợp với đầu t nớc
ngoài nói chung.
Một thách thức chủ yếu đối với các nớc đang phát triển là việc xác định
các nhân tố làm cho các dự án của khu vực t nhân có thể tài trợ đợc. Bởi vì
phơng thức đầu t BOT đòi hỏi phải có hình thức tài trợ dự án cơ sở hạ tầng
do khu vực t nhân đảm nhận nên thờng có một khái niệm sai lạc chung là
bản chất công của dự án loại này hầu nh bị bỏ qua và chính phủ nớc chủ
nhà thờng giả định rằng họ có sự tham gia tối thiểu vào các dự án BOT.
13
Tại Việt Nam, hình thức đầu t này đã đợc Chính phủ quan tâm và rất
khuyến khích phát triển thông qua một loạt các u đãi và đảm bảo đầu t cụ
thể:
+ Các u đãi về thuế:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp đợc áp dụng thuế suất 10% lợi nhuận
thu đợc và đợc thực hiện suốt thời gian thực hiện dự án .
Ngoài ra, doanh nghiệp BOT đựoc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
trong 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo.
Trờng hợp đầu t vào địa bàn khuyến khích đầu t đợc miễn thuế trong 8 năm
kể từ khi kinh doanh có lãi.
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài đuợc áp dụng thuế suất 5% lợi
nhuận chuyển ra nớc ngoài.
- Doanh nghiệp BOT và nhà thầu phụ đợc miễn thuế nhập khẩu để
thực hiẹn dự án BOT, BTO, BT đối với:
Thiết bị, máy móc nhập khẩu để tạo tài sản cố định ( kể cả thiết bị,
máy móc, phụ tùng sử dụng cho khảo sát, thiết kế, thi công, xây dựng
công trình).
Phơng tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây truyền công nghệ để
tạo tài sản cố định và để đa rớc công nhân.
Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ
kiện đi kèm thiết bị, phơng tiện vận chuyển.
Nhiên liệu, nguyên liệu, vật t nhập khẩu để thực hiện dự án
BOT,BTO,BT kể cả để phục vụ sản xuất, vận hành công trình.
- Các đối tợng sở hữu công nghiệp đang trong thời hạn bảo hộ, bí
quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật để thực hiện dự
án đợc miễn các loại thuế có liên quan đến chuyển giao công nghệ.
+ Biện pháp bảo đảm đầu t
- Việc chuyển nhợng vốn trong doanh nghiệp BOT đợc thực hiện nh quy
định đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
- Ngân hàng Nhà nớc bảo đảm cho doanh nghiệp BOT đợc chuyển đổi
tiền Việt Nam thu đợc do thực hiện dự án BOT,BTO,BT và dự án
khác ra tiền nớc ngoài để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh, trả
nợ vốn và lãi các khoản vay, chuyển lợi nhuận và vốn ra nớc ngoài.
- Trong qúa trình thực hiện dự án , doanh nghiệp BOT đợc cầm cố, thế
chấp các tài sản sau đây:
Thiết bị, nhà xởng, công trình kiến trúc và bất động sản đợc mua
sắm, xây dựng bằng vốn đầu t của mình.
Các tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp BOT
Giá trị quyền sử dụng đất
Các quyền tài sản của doanh nghiệp.
- Chính phủ Việt Nam bảo đảm cho doanh nghiệp BOT đợc sử dụng
đất đai, đờng giao thông và các công trình phụ trợ công cộng khác
để thực hiện dự án BOT,BTO,BT.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét