Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Mốt số giải pháp hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.doc

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nền kinh tế nớc ta
đợc chia làm 5 thành phần:
1. Kinh tế nhà nớc (KTNN): Thành phần kinh tế này lấy sở hữu nhà nớc về
t liệu sản xuất làm cơ sở kinh tế. Khi bàn KTNN với t cách là một tpkt, chúng
ta phải hiểu đó là hệ thống các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc.
2. Kinh tế t bản nhà nớc (kttbnn): Đây là tpkt dựa trên hình thức sở
hữu hỗn hợp về vốn giữa KTNN với kinh tế t bản t nhân trong và ngoài nớc bằng
nhiều phơng thức góp vốn hợp tác liên doanh nhằm phát huy thế mạnh của các
bên tham gia, đặt dới sự giúp đỡ của nhà nớc.
Về mặt tổ chức, kttbnn ở nớc ta đợc cấu thành từ hai bộ phận ktnn
phối hợp với kinh tế t bản t nhân trong và ngoài nớc. Song bộ phận thứ nhất rất
nhỏ bé. Vì vậy, có thể coi sự phát triển kttb nớc ngoài ở nớc ta trong những
năm qua là sự phát triển của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
3. Thành phần kinh tế hợp tác (tpktht): Kinh tế hợp tác là một xu hớng
tất yếu, một hình thức tổ chức kinh tế có vị trí vai trò rất quan trọng trong công
cuộc phát triển kinh tế xã hội và trong cơ cấu các TPKT trong thời kỳ qúa độ đi
lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nớc ta.
Về bản chất, ktht là sự liên kết kinh tế tự nguyện đa dạng, đa mức độ
của những ngời lao động, những ngời sản xuất để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giải
quyết có hiệu quả những vấn đề của sản xuất kinh tế và bảo vệ lợi ích kinh tế của
mỗi thành viên.
Ktht gồm các loại hình chủ yếu sau:
- ktht giản đơn dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giản đơn giữa những ngời
lao động, những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế giữa các chủ thể, các pháp nhân
kinh tế nhng không làm phát sinh pháp nhân mới, đó là các hợp đồng, hợp tác
kinh doanh, các hội nghề nghiệp, các hiệp hội.
- ktht dựa trên cơ sở liên kết kinh tế chặt chẽ giữa những ngời lao động,
những ngời sản xuất nhỏ dới hình thức hợp tác xã, đợc gọi là kinh tế hợp tác xã
và chỉ có hình thức này mới có thể coi là một TPKT.
4. Thành phần kinh tế t bản t nhân (tpkt-tbtn): Đây là TPKT dựa trên
hình thức sở hữu t nhân T Bản Chủ Nghĩa về t liệu sản xuất. Thành phần này đợc
thành lập do sự góp vốn của các nhà kinh doanh trong và ngoài nớc, với quy mô
và trình độ tơng đối lớn. Hình thành nên các Doanh nghiệp t nhân, Công ty Cổ
phần, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Công ty hợp danh.
5. Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ: Là TPKT dựa trên hình thức sở hũu
cá thể về t liệu sản xuất và lao động của bản thân họ, tồn tại ở phạm vi tơng đối
lớn, bao hàm nhiều trình độ phát triển sản xuất khác nhau đợc phát triển trong
các ngành nghề cả ở thành thị và nông thôn không hạn chế kinh doanh.
Về thực chất, các tpkt là chủ thể của quá trình kinh tế mà t cách pháp lý
của họ đợc quy định bởi quyền sở hữu t liệu sản xuất. Là ngời chủ t liệu sản xuất,
họ có quyền chiếm hữu, định đoạt và sử dụng t liệu sản xuất. Do đó có quyền
quyết định tham gia hay không tham gia hoặc quyết định phạm vi mức độ của
những hành vi kinh tế của họ trong nền kinh tế quốc dân. Xuất phát từ những tiêu
thức đó các tpkt nớc ta có thể chia thành.
-Khu vực kt-QD. Thuộc sở hữu nhà nớc về t liệu sản xuất.
-Khu vực kt-NQD. Là tất cả các loại hình mà quan hệ sở hữu về t liệu sản
xuất trong đó hoàn toàn không có sở hữu nhà nớc. Theo khái niệm này thì kt-
NQD gồm: Kinh tế t nhân, tổ hợp, hợp tác xã, các công ty, các xí nghiệp liên
doanh và cổ phần không có vốn nhà nớc.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sau một thời gian khôi phục và phát triển, đến nay KT-NQD đã đạt đợc
những thành tựu quan trọng, ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong
nền kinh tế. Nó góp phần cân đối nền kinh tế, tạo nên sự sống động mới trong sản
xuất kinh doanh, chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), tạo khả năng huy động phát triển từ nhân dân, mở ra khả năng to lớn
trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động. Phát triển KT-
NQD góp phần làm sống lại các ngành nghề truyền thống ở nông thôn, tạo ra môi
trờng cạnh tranh sôi động trong nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao trình độ lực l-
ợng sản xuất, tăng chất lợng sản phẩm, tao ra nhiều hàng hoá cho thị trờng, thoả
mãn tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
Vì vậy nghiên cứu và tìm hiểu về KT-NQD sẽ giúp chúng ta nhân thức sâu
sắc hơn về TPKT này, phát hiện những mặt mạnh, những hạn chế nhợc điểm.
Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp, chính sách cho phép phát huy tốt hơn nữa
những mặt mạnh, hạn chế khắc phục những hạn chế để KT-NQD thực sự trở
thành một khu vực phát triển lớn mạnh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.2. Vai trò và định hớng phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.2.1. Vai trò kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là một lĩnh vực kinh tế rộng lớn và quan trọng
trong cơ thể thống nhất của nền kinh tế nớc ta. Hiện nay, khu vực này đã có mặt
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, bao gồm nhiều
TPKT tồn tại với quy mô đa dạng tạo nên lực lợng sản xuất to lớn, đóng góp quan
trọng trong việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Nhờ đó hàng hoá sản
xuất ngày càng nhiều, chủng loại đa dạng, chất lợng không ngừng đợc nâng cao
để thoả mãn nhu cầu xã hội, tạo ra khả năng lựa chọn nhiều hơn cho ngời tiêu
dùng. Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang kinh tế thị trờng, KT-NQD là khu vực
sản xuất kinh doanh năng động, nhạy bén có khả năng thích nghi và đáp ứng kịp
thời mọi biến động của thị trờng, nó cho phép huy động tối đa nguồn vốn trong
dân c để phát triển đất nớc. Với tính tự chủ và khả năng thích nghi cao KT-NQD
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đóng một vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế, thể hiện thông qua các mặt
sau.
Thứ nhất: Thu hút và sử dụng hiệu quả các tiềm năng trong dân c để
phát triển kinh tế đất nớc, giải quyết nạn thất nghiệp, tạo sự phát triển cân đối
kinh tế.
Đổi mới kinh tế và dân chủ hoá đời sống kinh tế theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VI đã tạo cơ hội cho các TPKT-NQD phát triển tiềm lực
của mình hoà với tổng thể nền kinh tế. Các doanh nghiệp NQD thờng đợc thành
lập với lợng vốn đầu t ban đầu không lớn và chủ yếu là của dân. Bản thân khu vực
KT-NQD bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau phù hợp với
nhu cầu đa dạng của nhà đầu t. Đặc tính này cho phép KT-NQD tham gia vào
hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp đến công nghiệp và dịch vụ.
Sự tồn tại trên một phạm vi lớn trong nền kinh tế cho phép KT-NQD thu hút và sử
dụng hiệu quả nguồn lực trong dân c vào công cuộc phát triển kinh tế đất nớc.
Đặc biệt trong tiến trình cải cách và sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nớc
bằng các biện pháp giao bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi hình thức sở hữu Làm
phát sinh một số vấn đề nh thất nghiệp, sự bỏ ngỏ của một số ngành, khu vực
kinh tế không có tầm quan trọng sống còn hoăc do nhà nớc không đủ sức nắm
giữ. Điều này lại tạo cơ hội cho KT-NQD mở rộng phạm vi hoạt động, tham gia
ngày càng nhiều hơn vào các lĩnh vực kinh tế quan trọng, càng khẳng định vị trí
của mình trong nền kinh tế.
Thất nghiệp là vấn nạn mà mọi quốc gia phải đối mặt. ở nớc ta, giải quyết
công ăn việc làm cho ngời lao động đang là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa cơ bản
mà Đảng và Nhà nớc đang hết sức quan tâm giải quyết. Dân số trẻ, số ngời trong
độ tuổi lao động cao, chiếm hơn 57% dân số, tỷ lệ gia tăng dân số cao. Số ngời
hàng năm đến độ tuổi lao động nh học sinh, sinh viên ra trờng, bộ đội hết nghĩa
vụ ngày càng tăng, là áp lực gánh nặng đối với hoạt động quản lý xã hội. Chính
các doanh nghiệp NQD với đặc tính của mình sẽ điều tiết phân giải lực lợng lao
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
động trong các khu vực còn nhiều khoảng trống, góp phần giãn cách, điều hoà
nhu cầu lao động.
Mặt khác, sự hoạt động đa dạng trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực của nền
kinh tế tạo nên sự đan xen cùng tồn tại thống nhất giữa KT-QD và KT-NQD, góp
phần làm cân đối cơ cấu kinh tế. Phát triển kt-NQD là một chủ trơng sáng suốt
và đúng đắn của Đảng, phù hợp với đòi hỏi thực tế khách quan của thời đại,
khẳng định tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần, phù hợp với trình độ
thực tế của lực lợng sản xuất ở nớc ta - vốn kém phát triển lại không đồng đều
giữa các vùng miền, tỉnh thành tạo nên nhiều trình độ khác nhau. Chỉ có phát
triển kt-NQD mới cho phép sử dụng và phát huy mọi tiềm năng của đất nớc vào
công cuộc phát triển kinh tế.
Thứ hai: Tạo ra quỹ hàng hoá tiêu dùng và xuất khẩu.
Phơng hớng sản xuất kinh doanh tại mỗi thời điểm, giai đoạn của nền kinh
tế có những sự khác nhau. Trong thời kỳ 1986-1989 nớc ta vẫn còn thiếu đói,
hàng tiêu dùng khan hiếm trầm trọng. Mục tiêu của nền sản xuất lúc này là sản
xuất đủ ăn, đủ tiêu dùng, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của ngời
dân. Vợt qua thời kỳ đó, nền kinh tế lại đặt ra những mục tiêu mới, phù hợp với
tình hình thực tiễn nh: Tăng năng lực sản xuất của xã hội, thay thế từng phần
hàng hoá nhập khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc, tiến tới thay thế nhập
khẩu bằng chính sách xuât khẩu.
Để thực hiện đợc sách lợc này, trong quá khứ và hiện tại, KT-NQD đóng
một vai trò rất quan trọng, nó chứa đựng trong mình những đặc điểm cho phép
thực hiện tốt đợc vai trò đó. Có thể kể ra nh quy mô gọn nhẹ, nhậy bén, nhanh
chóng chuyển đổi đối tợng sản xuất để hớng tới những mặt hàng mà thị trờng
đang có nhu cầu, những lĩnh vực đang đợc nhà nớc u tiên u đãi, bảo hộ, có khả
năng đem lại lợi nhuận cao. Sự phát triển KT-NQD đã khơi gợi tiềm năng to lớn
trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn trong dân, tiếp thu chuyển giao công
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghệ của nớc ngoài để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong n-
ớc và xuất khẩu. Đặc biệt là sự sống lại của các ngành nghề thủ công, mỹ nghệ
truyền thống ở nông thôn đã làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu, góp phần
đổi mới kinh tế nông thôn, tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
Bảng về giá trị sản xuất
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Quy mô (%) Quy mô (%) Quy mô (%)
Tổng Số 335.441 100 375.800 100 434.365 100
KTNN 154.927 46,19 170.141 44,9 186.958 43,04
KT-NQD 180.514 53,81 205.659 55,1 247.407 56,96
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002)
Bảng trên cho thấy, giá trị sản xuất khu vực NQD liên tục gia tăng qua các
năm cả về quy mô và tỷ trọng. Sự gia tăng này không phải do KTNN ngày càng
giảm đi mà do giá trị sản xuất trong khu vực NQD tăng với tốc độ lớn hơn tốc độ
tăng trong KTNN. Kinh tế NQD đã đóng góp hơn 50% tổng giá trị sản xuất, ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế. Tỷ trọng này cần
phải tiếp tục nâng cao. So với Trung Quốc, một nớc có hoàn cảnh lịch sử và kinh
tế tơng đồng với nớc ta, thì tỷ lệ giữa hai khu vực KTNN và KT-NQD này là 3:7
mà không sợ chệch hớng Xã Hội Chủ Nghĩa. Vì vậy trong thời gian tới chúng ta
cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển khu vực này bằng các chính sách cụ thể
hơn, thiết thực hơn theo định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa.
Thứ ba: Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc, mang lại thu nhập cho
ngời lao động, góp phần cải thiện đời sống dân c
Kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển đóng góp rất lớn vào ngân
sách nhà nớc. Sự ra đời ngày càng nhiều và hoạt động có hiểu quả của các loại
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hình doanh nghiệp thuộc khu vực này sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà
nớc thông qua hoạt động đóng thuế. Đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi
ngời dân và các tổ chức kinh tế, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà n-
ớc, chiếm tới 86%. Trên thực tế, KT-NQD đóng góp khoảng 40 - 47% ngân sách
nhà nớc hàng năm. Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo nguồn thu ngân
sách nhà nớc. Do vậy để tăng nguồn thu ngân sách lành mạnh, biện pháp quan
trọng nhất là không ngừng phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh trên tất cả các
TPKT.
Bản thân KT-NQD phát triển không chỉ đem lại nguồn thu cho ngân sách
nhà nớc mà còn đem lại nhiều lợi ích khác nh tạo thêm công ăn việc làm mang lại
thu nhập cho ngời lao động, cải thiện đời sống của dân c. Vì vậy, KT-NQD đang
là khu vực đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm, chú ý và dành những u tiên nhất định
để hỗ trợ khuyến khích phát triển.
Thứ bốn: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình cnh-hđh và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Trong nền kinh tế trờng lợi ích và lợi nhuận là nhân tố quyết định những
vấn đề từ tổng thể đến cục bộ của một doanh nghiệp. Lớn thì ảnh hởng đến ngành
nghề kinh doanh, phơng hớng sản xuất, nhỏ thì ảnh hởng đến chiến lợc sản
phẩm Các doanh nghiệp thuộc khu vực NQD cũng hoạt động nh bao doanh
nghiệp khác, tức là lấy mục tiêu lợi nhuận và không ngừng tăng cờng lợi nhuận
làm tôn chỉ và mục đích. Do đó, bằng việc ban hành các văn bản chế độ, chính
sách phát triển kinh tế nhà nớc sẽ dẫn dắt và định hớng sự phát triển KT-NQD. Sự
phát triển của KT-NQD sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bớc tạo ra
cơ cấu kinh tế hợp lý. Hiện nay trong cơ cấu kinh tế nớc ta, nông nghiệp vẫn
chiếm một tỷ trọng khá cao, tới hai con số (chiếm 23,3%) trong khi ở các nớc
phát triển tỷ trọng này dới 10%, nó phản ánh một cơ cấu kinh tế cha hợp lý, một
nớc còn nặng nông ngiệp. Vì vậy phơng hớng phát triển trong tơng lai là tăng tỷ
trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, làm cho chúng chiếm chủ yếu trong nền
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kinh tế, đặc biệt là các ngành sản xuất, chế tạo máy, xây dựng làm tiền đề cho
một nền sản xuất lớn ra đời. Tuy nhiên không thể một sớm một chiều đã có thể
tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý ngay đợc mà phải có thời gian. Giai đoạn đầu
nên tập trung vào những ngành gia công, chế biến công nghiệp những sản phẩm
nông nghiệp nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm, hàm lợng giá trị, tăng tính thơng
mại của sản phẩm.
Đồng thời quá trình phát triển các doanh nghiệp NQD cũng là quá trình cải
tiến máy móc thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản phẩm
để đáp ứng nhu cầu thị trờng, đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công
nghệ, làm cho quá trình CNH-HĐH không chỉ diễn ra trên chiều rộng mà cả
chiều sâu.
Thứ năm: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo môi trờng cạnh
tranh thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các TPKT không tồn tại biệt
lập, phát triển trong những khu vực riêng mà chúng đan xen tồn tại và thống nhất.
KT-NQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, tồn tại trên một phạm vi rộng lớn cả về
mặt địa lý cũng nh ngành nghề kinh tế. Tất cả những điều này làm cho KT-NQD
và KT-QD sản xuất kinh doanh những sản phẩm có những đặc tính tơng tự nhau.
Kết quả chúng phải cạnh tranh với nhau trong quá trình sản xuất cũng nh tiêu thụ
sản phẩm.
Cạnh tranh là điểm khởi đầu của sự phát triển, nó phá bỏ thế độc quyền
đang tác động nh những nhân tố làm trì trệ và cản trở nền kinh tế phát triển. Đối
với KT-QD, KT-NQD tạo ra sức ép, buộc phải tham gia cạnh tranh, đồng thời có
tác dụng hỗ trợ phát triển. Môi trờng cạnh tranh sẽ buộc KT-QD quan tâm nhiều
hơn đến việc xây dựng chiến lợc, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao
chất lợng sản phẩm, đổi mới công nghệ phù hợp với đòi hỏi của thị trờng. Đối với
nền kinh tế, KT-NQD bù đắp những chỗ hổng hụt mà KT-QD cha cáng đáng hết.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trên cơ sở đó tạo ra nhiều hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng, chất lợng sản
phẩm không ngừng đợc nâng lên trong khi giá thành ngày một hạ, làm tiền đề
cho những sự la chọn sản phẩm hàng hoá mà ngời tiêu dùng a thích. Xoá bỏ cục
diện ngời tìm hàng, ngời sản xuất bán cái mình có thay vào đó là hàng tìm
ngừơi và ngời sản xuất chỉ sản xuất cái mà thị trờng cần.
Thứ sáu: Về phía ngân hàng kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tạo ra
thị trờng vốn, tín dụng, làm nên sự phát triển ổn định của ngân hàng.
Sự xuất hiện và phát triển của KT-NQD đã tạo ra một phân đoạn thị trờng
thờng xuyên đối với ngân hàng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng cả về quy mô
và chất lợng các doanh nghiệp NQD đã tạo ra một nhu cầu to về vốn và nhu cầu
tín dụng cũng nh các dịch vụ tiện ích khác mà ngân hàng cung cấp. Điều này sẽ
tạo điều kiện cho ngành ngân hàng ngày càng phát triển. Nh chúng ta biết, hoạt
động ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế quốc dân mà trong đó KT-
NQD chiếm một tỷ lệ đáng kể, do vậy trong tơng lai khu vực KT-NQD sẽ là thị
trờng đầy triển vọng của ngành ngân hàng.
1.1.2.2. Định hớng phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và nhu cầu vốn
Về mặt đờng lối, Đảng và Nhà nớc đã khẳng định quan điểm về phát triển
KT-NQD là: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là những bộ phận
quan trọng của nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp
tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế cá thể tiểu chủ đợc nhà nớc tạo điều kiện và
giúp đỡ phát triển. Kinh tế t bản t nhân đợc khuyến khích và phát triển rộng rãi
trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh pháp luật không cấm. Nh vậy Đảng
và Nhà nớc đã coi KT-NQD là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
quốc dân, tôn trọng và phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của công
dân, giải phóng triệt để lực lợng sản xuất để mọi ngời dân đều có thể làm giầu
cho mình và xã hội.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhận thức rõ vai trò, vị trí quan trọng của khu vực KT-NQD trong sự
nghiệp CNH-HĐH đất nớc, hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản
Việt nam lần thứ năm khoá IX đã ra Nghị quyết về phát triển kinh tế t nhân. Nghị
quyết đã khẳng định: Phát triển kinh tế t nhân là vấn đề chiến lợc lâu dài trong
phát triển kinh tế nhiều thành phần định hớng xã hội chủ nghĩa . Nhờ có những
chủ trơng đúng đắn mà tính đến thời điểm cuối năm 2002, sau 3 năm thực hiện
luật doanh nghiệp, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng lên đến 93.000
doanh nghiệp t nhân. Riêng 3 năm (từ 2000-2002) đã có 55.000 doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký lên tới 8.000 tỷ đồng. Kinh tế t nhân
đã huy động 300.000 tỷ đồng đầu t vào sản xuất kinh doanh, thu hút và tạo thu
nhập, ổn định cho 5 triệu lao động có việc làm thờng xuyên. Mặc dù vậy tổng số
vốn trong dân còn rất lớn. Theo ớc tính của các chuyên gia tài chính thì nguồn
vốn trong dân ớc khoảng 10,8 tỷ USD, đây là cha tính đến nguồn kiều hối của
khoảng 2,5 triệu ngời Việt kiều. Tiềm năng là nh vậy song trên thực tế tổng số
vốn đầu t cha tơng xứng với tiềm lực của khu vực này. Chính vì vậy đề ra hớng
phát triển KT-NQD theo quan điểm Phát triển và quản lý các loại hình doanh
nghiệp thuộc kinh tế hợp tác, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế t bản t nhân, và kinh
tế cá thể là thực sự cần thiết với những nội dung cụ thể sau:
Tạo môi trờng thúc đẩy cạnh tranh bằng cách hoàn thiện môi trờng kinh
doanh theo pháp luật, tạo điều kiện cạnh tranh một cách bình đẳng, sửa đổi bổ
sung văn bản pháp quy về các loại hình doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể
khuyến khích phát triển kinh tế t nhân.
Phát triển hợp tác xã liên kết giữa các thành phần kinh tế dựa trên nguyên
tắc tự nguyện bình đẳng.
Thực hiện chính sách tài chính tín dụng đối với kinh tế t nhân bình đẳng
nh đối với những doanh nghiệp thuộc các TPKT khác; bảo đảm kinh tế t nhân đ-
ợc tiếp cận và đợc hởng các u đãi của nhà nớc cho kinh tế hộ, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, cho đầu t theo mục tiêu đợc nhà nớc khuyến khích. Nhà nớc hỗ trợ xây
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét