Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
6
thương mại là quy luật mua rẻ bán đắt. Tiền được dùng để mua hàng hoá rồi
sau đó bán lại với giá cao hơn, lợi nhuận chính là phần chênh lệch giữa giá
mua và giá bán.
Giữa thương mại và sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Doanh
nghiệp thương mại tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất và doanh
nghiệp sản xuất sẽ nhường lại một phần lợi nhuận cho doanh nghiệp thương
mại.
Như vậy doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành
lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực lưu thông hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận.
Chức năng của doanh nghiệp thương mại.
Doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá
nên có một số đặc điểm sau:
- Chức năng lưu chuyển hàng hoá trong nền kinh tế nhằm thoả mãn nhu
cầu của xã hội. Đây là chức năng xã hội của doanh nghiệp thương mại. Để
tực hiện tốt chức năng này thì doanh nghiệp phải nghiên cứu nắm vững thị
trường, huy động và sử dụng tốt các nguồn hàng, tổ chức các mối quan hệ
giao dịch thương mại, đảm bảo việc phân phối hàng hoá thông qua các kênh
phân phối.
- Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Chức năng
này thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thực hiện phân loại hàng hoá,
đóng gói bao bì hàng hoá, ghép đồng bộ sản phẩm, bảo quản và vận chuyển
hàng hoá. Khi thực hiện chức năng này, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao
giá trị sử dụng hàng hoá, thoả mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
và nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của hàng hoá.
- Chức năng tiếp theo của các doanh nghiệp thương mại là chức năng thực
hiện hàng hoá. Mục đích của các doanh nghiệp thương mại không phải là
mua hàng hoá mà là mua để bán. Khi mua hàng hoá, các doanh nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
7
thương mại đã làm chức năng tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất. Mục đích của
doanh nghiệp là thu lợi nhuận, muốn thu được lợi nhuận thì phải bán được
hàng hoá và giá bán phải cao hơn giá mua cộng với chi phí khác. Nếu không
bán được hàng hoá hoặc bán với giá thấp hơn giá mua thì doanh nghiệp sẽ bị
thua lỗ có thể dẫn tới phá sản.
Chức năng cuối cùng của doanh nghiệp thương mại là tổ chức sản xuất.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hoá sẽ không chỉ tác động đến quá
trình lưu thông hàng hoá mà thông qua các hoạt động mua bán đó doanh
nghiệp tác động đến quá trình tái sản xuất. Hoạt động thương mại có thể tác
động thúc đẩy tái sản xuất hoặc gây đình trệ sản xuất.
b) Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại.
Để thực hiện các chức năng đó thì doanh nghiệp thương mại cần làm tôt
các nhiệm vụ sau:
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển sản phẩm trong nền kinh tế quốc dân, tổ
chức tốt khâu mua bán và đặc biệt giảm bớt khâu trung gian.
- Giảm chi phí kinh doanh và tăng lợi nhuận, đáp ứng tốt nhất mọi nhu
cầu của khách hàng.
- Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ thương mại, thực hiện các hoạt động
tiếp tục sản xuất trong lưu thông như: vận tải, bảo quản, đóng gói, bao bì
- Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý kinh doanh.
- Thực hiện các ngiã vụ đối với nhà nước, xã hội và người lao động, có
trách nhiệm bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội trên phạm vi doanh nghiệp
và thực hiện tôt các vấn đề bảo vệ môi trường.
2.2 Các hình thức kinh doanh thương mại.
a) Kinh doanh chuyên môn hoá.
Kinh doanh chuyên môn hóa tức là doanh nghiệp chỉ chuyên môn kinh
doanh một mặt hàng hay một nhóm hàng hóa nhất điịnh. Ví dụ như: xăng
dầu, lương thực.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
8
Loại hình kinh doanh chuyên môn hóa có các ưu điểm sau:
- Nắm chắc được thông tin về người mua, ngưòi bán, giá cả,thị trường,
tình hình hàng hóa và dịch vụ nên có thể làm chủ được thị truờng để vưon lên
thành độc quyền trong kinh doanh.
- Trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, có điều kiện để hiện đại hóa
các cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt là hệ thống cơ sở vật chất chuyên dùng
tạo lợi thế lớn trong cạnh tranh.
- Có khả năng đào tạo được những cán bộ quản lý,các chuyên gia và
nhân viên kinh doanh giỏi về cả chuyên môn và nghiệp vụ.
Bên cạnh những ưu điểm đó thì loại hình kinh doanh này cũng tồn tại
những nhược điểm sau:
- Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì hệ số rủi ro
cao.
- Khi mặt hàng kinh doanh không chiếm được lợi thế nữa và doanh
nghiệp muốn chuyển hướng kinh doanh thì sự chuyển hướng này diễn ra
chậm.
b) Kinh doanh tổng hợp.
Kinh doanh tổng hợp là loại hình kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác
nhau, kinh doanh không lệ thuộc vào thị trường truyền thống, bất cứ hàng
hóa nào có thể kiếm được lợi nhuận thì doanh nghiệp kinh doanh.
Loại hình kinh doanh này có những ưu điểm sau:
- Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh và dễ dàng chuyển hướng kinh
doanh(Khi kinh doanh một loại hàng hóa nào nào đó bất lợi thì doanh nghiệp
có thể nhanh chong chuyển sang kinh doanh loại hàng hóa khác).
- Vốn kinh doanh không bị ứ đọng vì mua nhanh, bán nhanh và doanh
nghiệp thường đầu tư cho những mặt hàng có khả năng lưu chuyển nhanh
nên khả năng quay vòng vốn nhanh.
- Thị trưòng kinh doanh rộng lớn và luôn phải đối đầu với vấn đề cạnh
tranh của các doanh nghiệp khác nên kích thích tính năng động của các
doanh nghiệp.
Loại hình kinh doanh này cũng có những nhược điểm sau:
- Khó trở thành độc quyền trên thị trường và ít có điều kiện tham gia vào
các liên minh độc quyền.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
9
- Mỗi ngành hàng kinh doanh chỉ là những ngành hàng kinh doanh nhỏ
nên không thể tìm kiếm được lợi nhuận siêu ngạch.
- Không bộc lộ sở trường kinh doanh. Do không chuyên môn hóa nên
khó đào tạo về chuyên môn và bồi dưỡng được những chuyên gia giỏi.
II. Nội dung việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ở doanh
nghiệp thương mại.
1. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp thương
mại.
a)Chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại
Một nhà doanh nghiệp kinh doanh thương mại có những đức tính cần
thiết và những am hiểu về kĩ năng quản trị kinh doanh vẫn chưa thể đưa
doanh nghiệp của mình dến với thành công nếu chưa đề ra được chiến lược
kinh doanh đúng đắn. Chiến lược kinh doanh thể hiện nội dung hoạt động,
mục tiêu và các giải pháp ứng xử của doanh nghiệp trên thị trường. Chiến
lược kinh doanh bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
+)Chiến lược quy mô kinh doanh và tích lũy tài sản vô hình.
Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp phải được xác định hợp lí trên cơ sở
tính toán đúng dung lượng thị trường, tiềm lực kinh doanh. Doanh nghiệp
phải xác định được điểm hòa vốn để tối ưu hóa quy mô kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp đề có hai loại tài sản là: tài sản hữu hình và tài sản vô
hình.
Tài sản vô hình: tài sản vô hình đó là lòng tin của khách hàng với doanh
nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp, là hình ảnh quen thuộc và nổi tiếng
của nhãn hiệu, là các hiểu biết về thông tin khoa học kĩ thuật, là bầu không
khí làm việc trong nội bộ doanh nghiệp, là kĩ năng quản lí của ban lãnh đạo
doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
10
Tài sản hữu hình: Tài sản hữu hình đó là những yếu tố vật chất có tính
định lượng như: nhà xưởng, vật tư, máy móc thiết bị.
Nhìn chung cả hai loại hình tài sản trên đều quan trọng đối với doanh nghiệp
và nếu xét về lâu dài thì tài sản vô hình có phần quan trọng hơn. Tài sản vô
hình là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại của doanh nghiệp trên thị trường. Nó
quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp.
Tài sản vô hình có thể tích lũy bằng hai cách:
- Cách quảng cáo trực tiếp trên phương tiện thông tin đại chúng, huấn
luyện nhân viên của doanh nghiệp để giao tiếp tốt với khách hàng.
- Cách gián tiếp là các hoạt động hàng ngày thông qua giao tiếp với
khách hàng, thông qua các dịch vụ phục vụ khách hàng để nâng cao tín
nhiệm của sản phẩm và danh tiếng của sản phẩm trên thị trường.
+ Chiến lược thích nghi với môi trường
Môi trường của doanh nghiệp bao gồm môi trường bên trong và môi
trường bên ngoài. Môi trường cạnh tranh bên ngoài thực sự nhiều phức tạp vì
doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp khác. Để thích nghi
với môi trường thì doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện sau:
- Đáp ứng những nhu cầu khách hàng, đáp ứng những thay đổi trong
nhu cầu kế hoạch của khách hàng.
- Xác định đối thủ cạnh tranh, tích luỹ và thực hiện lợi thế cạnh tranh,
lựa chọn vũ khí cạnh tranh hợp lí.
- Tiếp cận được với khoa học kĩ thuật hiện đại. Đó là giới hạn về năng
lực kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có những phương
thức ứng xử hợp lí với sự phát triển của khoa học công nghệ, tìm ra
giải pháp mới trong việc ứng dụng khoa học kĩ thuật.
+ Chiến lược marketing thương mại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
11
Marketing là quá trình hoạch định và thực hiện một số công việc để thoả
mãn nhu cầu của khách hàng về hàng hoá và dịch vụ thông qua việc lưu
chuyển hàng hoá và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Đối với các doanh nghiệp thương mại thì việc nắm bắt được bản chất của
marketing và thực hiện tôt công tác marketing có một ý nghĩa quan trọng vì
marketing là một công cụ quản lí kinh tế, kế hoạch hoá kinh doanh. Nhiệm
vụ của marketing trong doanh nghiệp thương mại là làm cho kinh doanh phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường và thông qua đó doanh nghiệp bán
được nhiều sản phẩm và thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Marketing thương mại trong các doanh nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá
trình kinh doanh, là vũ khí của nhà kinh doanh, làm cho công việc tiêu thụ
hàng hoá của doanh nghiệp dễ dàng hơn. Doanh nghiệp không chỉ bán được
nhiều hàng hoá hơn mà còn có thể mở rộng thị trường. Nhu cầu của khách
hàng được đáp ứng tốt hơn vì doanh nghiệp thông qua các biện pháp thăm
dò, khuyến mại, tìm hiểu sở thích người tiêu dùng để cải tiến chất lượng
hàng hoá, dịch vụ tốt hơn.
b) Kế hoạch kinh doanh hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại.
Trong doanh nghiệp thương mại, kế hoạch kinh doanh chính là kế hoạch
lưu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Lưu chuyển hàng hoá có những loại sau:
- Lưu chuyển hàng hoá là những tư liệu sản xuất, yếu tố đầu vào của các
doanh nghiệp sản xuất. Loại lưu chuyển này do các doanh nghiệp thương
mại vật tư đảm nhiệm.
- Lưu chuyển hàng hoá là nông sản do hệ thống các doanh nghiệp kinh
doanh lương thực đảm nhiệm.
- Lưu chuyển hàng hoá là các tư liệu tiêu dùng cá nhân do các doanh
nghiệp thương mại hàng tiêu dùng thực hiện.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
12
- Lưu chuyển hàng hoá là các sản phẩm xuất nhập khẩu tham gia vào
thương mại quốc tế do các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đảm nhiệm.
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạch định lưu chuyển hàng hoá:
- Đáp ứng kịp thời, tốt nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng,
chủng loại và thời gian giao hàng, tạo điều kiện phân phối hợp lí hàng hoá và
các kênh tiêu thụ.
- Khai thác tốt nguồn hàng để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của
khách hàng.
- Hình thành đầy đủ và đồng bộ lực lượng dự trữ hàng hoá ở các doanh
nghiệp thương mại.
- Tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động.
Các chỉ tiêu của kế hoạch lưu chuyển hàng hoá gồm:
+ Doanh số bán hàng.
+ Doanh số mua vào.
+ Dự trữ hàng hoá đầu kì và cuối kì kế hoạch.
+ Tốc độ chu chuyển vốn lưu động kì kế hoạch.
Trong các doanh nghiệp thương mại, kế hoạch lưu chuyển hàng hoá được
xây dựng bằng hai phương pháp
Phương pháp thống kê - kinh nghiệm.
Phương pháp này chủ yếu dựa trên cơ sở là các số liệu báo cáo hoạt động
kinh doanh trong thời gian gần nhất, căn cứ vào thời gian lên kế hoạch và
ước tính thực hiện của thời kì còn lại để ước tính thực hiện kế hoạch lưu
chuyển trong năm. Ước tính thực hiện của một số năm làm cơ sở kế hoạch
lưu chuyển cho năm sau. Phương pháp này có nhược điểm là: không phản
ánh chính xác số lượng hàng hoá lưu chuyển kì kế hoạch, không thâu tóm
hết những thay đổi trong cơ cấu tổ chức bán hàng cho khách và những thay
đổi trong danh mục sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
13
Phương pháp kinh tế - kĩ thuật.
Đây là phương pháp kế hoạch hoá lưu chuyển hàng hoá được coi là đúng
đắn hơn. Cơ sở xây dựng kế hoạch lưu chuyển hàng hoá theo phương thức
này dựa trên nhu cầu của khách hàng và khả năng khai thác nguồn hàng để
thoả mãn nhu cầu đó của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tính tổng mức bán hàng hóa theo công thức sau:
t = p + (Dđk Dck)
Trong đó: t : là tổng doanh số bán
P : là lượng hàng hoá thu gom
Dđk : là dự trữ hàng hoá đầu kì
Dck : là dự trữ hàng hoá cuối kì
Sau khi xác địng doanh số bán doanh nghiệp cần tính lượng hàng hoá lưu
chuyển thẳng. Lượng hàng hoá lưu chuyển thẳng tính bằng lượng hàng hoá
thu gom thẳng.
2. Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại.
2.1 Quản lý kinh doanh thương mại bằng các phương pháp quản lý hành chính.
Quản lý kinh doanh thương mại bằng các phương pháp quản lý hành
chính là sự tác động trực tiếp của cơ quan quản lí hay người lãnh đạo đến cơ
quan bị quản lí hay người chấp hành nhằm bắt buộc thực hiện một hành
động.
Các phương pháp hành chính trong quản lí chính là các cách tác động
trực tiếp của chủ thể quản trị lên các cá nhân trong tổ chức bằng các quyết
định dứt khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi mọi người trong tổ chức phải
chấp hành thực hiện nếu không sẽ bị trừng phạt thích đáng, kịp thời.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
14
Vai trò của các phương pháp hành chính trong quản trị là rất to lớn, nó
xác định trật tự kỉ cương trong doanh nghiệp, kết nối các phương pháp khác
thành hệ thống, giải quyết nhanh chóng các vấn đề đặt ra.
2.2 Phương pháp kinh tế.
Phương pháp kinh tế là dùng sự tác động đến lợi ích vật chất của cá nhân
hay tập thể nhằm làm cho họ quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp và chịu trách nhiệm về các hành động của chính bản thân họ.
Phương pháp này lấy động lực cơ bản của phát triển là lợi ích vật chất.
Lợi ích cá nhân của người lao động là yếu tố cơ bản nhất tác động đến hoạt
động của người lao động. Nếu không có sự khuyến khích của lợi ích vật chất
và trách nhiệm vật chất thì động lực kích thichs người lao động sẽ bị thủ tiêu.
Vai trò của lợi ích vật chất trong cơ chế thị trường đã được xác định rất rõ
ràng: Lợi ích vật chất là cái làm chuyển động quảng đại quần chúng nhân
dân lao động, đồng thời lợi ích vật chất là chất kết dính mọi hoạt động riêng
lẻ theo một mục đích chung. Các nhà CNXH khoa học đã khẳng định: ở đâu
không có sự thống nhất về mục đích thì đừng nói gì về thống nhất hành
động. Trong nền kinh tế thị trường nước ta, do tồn tại nhiều thành phần kinh
tế nên tồn tại nhiều hệ thống lợi ích khác nhau. Thực chất của việc huy động
sử dụng các thành phần kinh tế khác nhau chính là sự kết hợp hài hoà các lợi
ích. Nguyên tắc các bên cùng có lợi sẽ chi phối sự kết hợp hay chia rẽ hoạt
động kinh doanh giữa các doanh nghiệp.
Sử dụng đòn bẩy kinh tế là nội dung của phương pháp kinh tế. Các đòn
bẩy kinh tế như: tiền lương, tiền thưởng, giá cả, lợi nhuận, chi phí có tác
động rất lớn đến người lao động. Nó kích thích hay hạn chế động lực làm
việc của mỗi người. Các đòn bẩy kinh tế phải được sử dụng đồng bộ, bên
cạnh đó cần sử dụng các biện pháp hành chính như xử phạt và các trách
nhiệm về vất chất khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương Mại
15
2.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục là các cáh tác đọng đén tinh thần và
năng lực chuyên môn của người lao động để nâng cao ý thức và hiệu quả
công tác.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục bao gồm những nội dung chủ yếu
sau:
+ Tác động thông qua hệ thống thông tin đa chiều tới toàn bộ hệ thống
quản lí và người lao động. Hệ thống thông tin đa chiều có định hướng, chính
xác và tác động kịp thời sẽ có tác động kích thích chủ thể theo khuynh hướng
dự kiến. Qua hệ thống thông tin tác động đến tư tưởng người lao động, nắm
bắt và sửa chữa, uốn nắn các tư tưởng sai lạc, thiếu lành mạnh, phát huy tinh
thần trách nhiệm của người lao động.
+ Phương pháp tuyên truyền giáo dục thể hiện sự khen, chê rõ ràng, nêu
gương trước tập thể là cách quan trọng tác động gây sự chú ý và thuyết phục
người khác làm theo, xử phạt nghiêm minh để giữ vững kỉ cương và ngăn
chặn các khuynh hướng xấu.
+ Bồi dưỡng, đào tạo và nâng cao tay nghề, trình độ nghiệp vụ chuyên
môn, kết hợp chặt chẽ với cơ chế tuyển dụng, bố trí và sủ dụng, đào thải
người lao động một cách hợp lí.
+ Giáo dục chuyên môn và năng lực công tác là hệ thống quan trọng
trong hệ thống tuyên truyền vận động, là yếu tố quan trọng để nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả công tác.
+ Giáo dục tuyên truyền ở mỗi doanh nghiệp là việc làm có ý nghĩa và
hiệu quả cao làm cho mỗi người có ý thức đầy đủ về vị trí doanh nghiệp, xác
định rõ trách nhiệm cá nhân là nguồn động lực để nâng cao trách nhiệm đối
với công việc.
+ Phải làm phong phú đời sống tinh thần để tăng niềm tin của mỗi người
lao động vào doanh nghiệp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét