Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Triết học phật giáo

Cái này có thì cái kia có.
Cái này sinh thì cái kia sinh.
Cái này không thì cái kia không.
Cái này diệt, thì cái kia diệt.
Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau,
không một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối.
Sự vật chỉ có một cách giả tạo, một cách vô thờng.
. Nhân duyên hội họp thì sự vật là có .
. Nhân duyên tan dã thì sự vật là Không .
Ngời thế gian không tu dỡng tởng lầm sự vật, vạn pháp là thực có, là vĩnh
viễn nên bám giữ vào các pháp vào sự vật ( sinh mệnh, danh vọng, tiền tài ).
Nhng thực ra các pháp là vô thờng, là chuyển biến và khi tan dã thì ngời thế
gian thơng tiếc, đau khổ.
Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng
điệp điệp. Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hoà hợp mà có, một
cáh giả hợp mà sinh ra. Bởi thế tìm kiếm đến cùng cũng không thấy vạn pháp
có thủy và xét đến muôn đời cũng không thấy vạn pháp có chung . Vạn
pháp là vô thủy, cái nguyên nhân đầu tiên của các pháp hay cái chung cùng của
sự vật.
Lý nhân duyên cho chúng ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà
hợp, sự vật là h giả, là giả hợp không có tính tồn tại. Nh vậy con ngời làm chủ
đời mình, làm chủ vận mệnh của mình.
Cuộc sống của con ngời có tơi đẹp hạnh phúc hay phiền não đau khổ là đều
do nhân duyên mà con ngời tạo ra. Với nhận thức nh vậy, con ngời tìm đợc một
phơng thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi ngời,
sống an lạc, tự tại, giải thoát.
4. Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả.
Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong những thuyết
cơ bản của giáo lý Phật. Phật chủ trơng không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh
ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào
5
tạo ra sự vật. Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình
cũng không tạo ra đợc sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả đợc.
Ngời ta nói rằng: Trồng đậu đợc đậu.
Trồng da đợc da.
Nhng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân sinh ra nó. Quả có thể hơn
nhân nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân
gặp đủ duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến
thành nhân rồi để sinh ra quả khác.
Sự vật là một chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnh hởng
lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng.
Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhng quả không nhất định
phải đúng nh nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết
Bất định pháp trong luật nhân quả.
Sự vật là bất định, ngời tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dỡng và tiến tới
trên con đờng giải thoát về nhân. Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi ý nghĩ
của tâm ta, mỗi hành động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng là những
hạt nhân của chúng ta gieo hàng ngày. Những hạt nhân khi gặp đủ duyên sẽ nảy
nở thành quả.
Theo danh từ Phật học, những hạt nhân này gọi là nghiệp. Gieo nhân tức là
gây nghiệp: ý nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp. Kết quả đền đáp những hành
động nói trên phật gọi là nghiệp báo. Thời gian giữa gieo nhân và hái quả có thể
dài ngắn khác nhau. Vì vậy có nhân quả đồng thời: Tức là nhân quả nối liền
nhau, vừa tạo nhân, quả liền phát sinh không phải đợi một thời gian sau mới
thành thục. Lại có nhân quả dị thời: Tức là nhân tạo ra đời trớc, đời sau mới kết
thành quả.
Ngời nào gieo nhân, ngời ấy hái quả, không một hành động nào, thiện hay
ác, dù nhỏ đến đâu, dù ta khôn khéo bng bít, giấu giếm đến mức nào cũng
không thể thoát khỏi cán cân nhân quả. Ngời học Phật, tu Phật chân chính thấm
nhuần thuyết nhân quả phải là ngời có đạo lý, không thể nào khác đợc.
6
Với những luận thuyết cơ bản nh trên đã hình thành nên thề giới quan phật
giáo. Phật quan niệm các hiện tợng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyển không
ngừng theo quy luật nhân duyên. Một hiện tợng phát sinh không phải là do một
nhân mà do nhiều nhân và duyên. Nhân không phải tự mà có mà do nhiều nhân
duyên đã có từ trớc. Nh vậy một hiện tợng có liên quan đến tất cả các hiện tợng
trong vũ trụ.
Kinh Hoa Nghiêm có ghi:
Nhất tức đa.
Đa tức nhất.
Nhất tức nhất thiết.
Nhất thiết tức nhất.
Có nghĩa là:
Một tức là nhiều.
Nhiều tức là một.
Một là tất cả.
Tất cả là một.
Tóm lại thế giới quan Phật giáo là thế giới quan nhân duyên. Tất cả sự vật có
danh có tớng, có thể nhận thức đợc, ý niệm đợc. Cảm giác đợc hay dùng ngôn
ngữ luận bàn, đợc đều đợc Phật gọi là pháp. Các pháp đều thuộc một giới gọi là
Pháp giới. Bản tính của pháp giới là các pháp duyên khởi ra nhau. Tính ấy là
tính của pháp giới nên gọi là pháp giới tính. Do pháp giới tính là bản tính của
các pháp nên gọi là chân, vì vậy pháp giới tính còn gọi là chân nh tính.
Giác ngộ đợc chân nh tính thì gọi là tự giác, nhng thế thì cha nhận thức đầy
đủ, sâu sắc về pháp giới tính vì vậy các nhà tu hành giác ngộ đợc bản lai tự tính
còn phải vận dụng pháp giới tính vào nhiều trờng hợp khác để thấy đợc cái
dụng to lớn của pháp giới tính.
Nh vậy, ngời tu hành chỉ khi nào công hạnh giác tha đợc viên mãn lúc đó mới
chứng thực đợc toàn thể, toàn dụng của pháp giới tính. Nói một cách khác là
chứng đợc toàn thể của sự vật gồm cả ba vẻ: thể, tởng, dụng, chứng đợc pháp
thân.
7
II. Nhận thức luận Phật giáo.
1. Bản chất, đối t ợng của nhận thức luận.
Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ. Còn đối
tợng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tợng, là cả vũ trụ.
Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật
cuối cùng. Mọi vật đều liên quan mật thiết đến nhau. Toàn thể dù lớn đến đâu
nếu không có quan hệ với hạt bụi thì cũng không thành lập đợc. Để diễn đạt ý
trên, một thiền s đã dùng hai câu thơ:
Càn khôn tận thị mao đầu thợng.
Nhật nguyệt bao hàm giới trí trung.
Có nghĩa là:
Trời đất rút lại đầu lông nhỏ xíu.
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.
Nh vậy đạo Phật không phân biệt vật chất và tinh thần vì đó chỉ là hai trạng
thái của tâm, của năng lợng khi ở thể tiềm tàng.
Sau khi đã tìm hiểu về sự vật, hiện tợng chúng ta sẽ tìm hiểu cái tâm trong
đạo Phật để thấy đợc quan niệm của đạo Phật về tâm và vật.
Thông thờng ngời ta cho rằng đạo Phật là duy tâm vì trong kinh phật có câu
Nhất thiết duy tâm tạo . Nhng chữ duy tâm ở đây không phải là duy tâm
trong triết học Tây Phơng nên ta không thể nhận định nh trên. Chữ tâm trong
đạo Phật có nghĩa là một năng lợng, nó làm bản thể cho tất cả mọi hiện tợng
tâm lý, cho mọi hiện hành. Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật. Khi ta
phân tích, chia chẻ một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuối
cùng thì phần tử ấy là bản thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũng
thấy có bản thể, vì vậy tâm cũng lại là to lớn vô biên.
Những tình cảm, ý thức phát sinh phải nơng vào hiện tợng sinh lý, vật lý. Nói
nơng nhau để phát sinh chứ không phải các hiện tợng sinh lý, vật lý sinh ra các
hiện tợng tâm lý.
Hiểu nh vậy thì thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm. Những
hiện tợng sinh lý vật lý và những hiện tợng tâm lý ấy chỉ tơng sinh tơng thành.
8
2. Quy trình, con đ ờng và ph ơng pháp nhận thức.
Sự nhận thức phát triển theo hai con đờng t trào: Hờng nội và hớng ngoại.
Phật giáo thờng quan tâm đến t trào hớng nội tức là mỗi ngời tự chiêm nghiệm
suy nghĩ của bản thân. Có hai phơng pháp để nhận thức là :
. Tiệm ngộ : là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là trí
hữu s.
. Đốn ngộ : là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất là trí vô s .
Với hai phơng pháp ấy sự nhận thức Phật giáo đợc chia làm hai gia đoạn:
Giai đoạn một là từ tuỳ giác đến thể nhập. Nhận thức bắt đầu từ cảm giác và
phụ thuộc vào cảm giác đa lại. Kết quả là con ngời biết đợc cái tiếp xúc giữa thế
giới khách quan và giác quan của con ngời và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếu tố
thọ trong ngũ uẩn. Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúc của sáu căn
với sáu trần tạo nên yếu tố thọ. Căn cứ ở đây là những khả năng nhận thức của
các giác quan. Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài. Nếu kích thích tơng
ứng với các căn thì con ngời có cảm giác. Sáu căn là : nhăn, nhỉ, tù, thiệt, thân,
ý. Sáu trần là: sắc, thanh, hơng, vị, xúc, pháp. Thọ, cho chúng ta nhận biết đ-
ợc những hiện tợng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu nhiên. Trong một số tr-
ờng hợp khác gọi đó là kinh nghiệm. Từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm
nêu trên, con ngời sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết đợc cái bên
trong, bản chất đó là tri thức định lý.
Giai đoạn hai sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể. Từ kết quả
của giai đoạn trớc , con ngời bắt đợc cái tâm tính của những sự vật hữu hình tái
thế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con ngời và nâng lên để nắm đợc cái tâm
siêu thoát, cái tâm trung.
Để đạt đợc sự nhận thức đó thì có nhiều phơng pháp song hai phơng pháp
sau: Tam học và Tam huệ là chủ yếu.
Tam học là giới, định, tuệ.
. Giới: Gồm có nhứng phơng tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt
hàng ngày của con ngời sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hớng về thiện.
9
. Định: là đình chỉ mọi t tởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung t tởng suy
nghĩ để làm mọi việc yên lành.
. Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu đợc lý vô thờng, vô ngã, do đó chỉ nghĩ
đến làm việc thiện, mu lợi cho chúng sinh.
. Tam huệ: là văn, tu, t.
Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm đợc bản tính thanh tịnh,
sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.
T : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe đợc, học đợc đi đến giác ngộ bản lai
t tính của mình.
Tu: là nơng theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận đợc bản tính chân nh, mà tụ tập gột
rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp giới
tính.
Các phơng pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấp pháp để
đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không. Với nhận thức
nh thế, ngời tu hành sẽ đợc sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽ không
còn nữa.
III. Nhân sinh quan Phật giáo.
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật
duyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thờng, vô
ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề
nhân sinh quan. ở đây chúng ta sẽ lần lợt trả lời các câu hỏi:
Con ngời là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?
Vị trí của con ngời trong Đạo Phật.
Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ
Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trong Đạo
Phật là gì ?
Trớc khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế
vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.
10
1. Tứ diệu đế:
Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu
tiên của Phật sau khi thành đạo tại vờn Lộc giã cho năm từ khu trớc kia đi theo
Phật.
Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các
thuyết khác trong giáo lý Phật.
Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
a. Khổ đế:
Trong tứ đế, Phật đa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao mà
khổ , phơng pháp diệt khổ và con đờng đi đến diệt khổ.
Nói nh thế có ngời hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trơng cuộc đời chỉ toàn là
khổ, và đạo Phật là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách
khách quan, không ru ngời ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng
không làm cho ngời ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống.
Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tớng của nó và chỉ
dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.
Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thờng dịch là khổ là cha thật hết nghĩa
nên mới dẫn đến những hiểu lầm trên.
Trong phép tớng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Nh
vậy không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra
khổ thụ nhng đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho ng-
ời ta vui hoặc khổ hoặc không vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những
cảm giác vui (lạc thú ) của cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thức vui.
Nhng những cái vui ấy, cũng nh những cái khổ ấy đều bao gồm trong danh từ
Dukkha, vì những cái vui, cũng nh những cái khổ ấy đều là vô thờng h giả.
Dù ngời tu hành chứng đợc những trạng thái thiền định cao siêu thì những lạc
thú siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những ngời tu hành ấy cha thoát khỏi tam
giới vô thờng, h giả.
11
Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái
Dukkha ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui nh thế gian thờng hiểu, thờng
lầm.
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô th-
ờng chi phối nên khổ.
2, Lão khổ: ngời ta mong muốn trẻ mãi nhng cái già theo thời gian vẫn cứ
đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, x-
ơng tủy thì da nhăn nheo, xơng tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu
đến ấy làm cho ngời ta phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thờng ốm đau, nhất là khi già yếu,
thân thể suy nhợc, bệnh tật dễ hoành hành làm cho ngời ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi ngời ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái
thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi nh cái thân duy nhất của mình thì khi
chết thì phiền não vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Ngời ta thờng chạy theo những điều mình a thích, mong
cầu hết cái này đến cái khác. Khi cha cầu đợc thì phiền não, khi cầu đợc rồi thì
phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
6, ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tởng ấm, hành ấm,
thức ấm. Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lợng
kiếp.
b. Tập đế:
Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ. Những
nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta. Nguyên
nhân thì có nhiều nhng có thể tóm lại nh sau:
1. Tham lam.
2. Giận dữ.
3. Si mê.
12
4. Kiêu mạn.
5. Nghi ngờ.
6. Thân kiến ( tởng thân thể là thực có là trờng tồn).
7. Biên kiến ( sự hiểu biết một mặt nh chấp đoạn, chấp thởng ).
8. Tà kiến ( sự hiểu biết không đúng ).
9. Kiến thử ( chấp trí hiểu biết của riêng mình là đúng).
10. Giới cấm tu ( tu hành không chính đạo ).
Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn gốc
của mọi sự khổ. Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh đợc thể hiện
trong công thức sau:
Nghiệp
ái dục + Vô minh > Sự khổ.
ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trớc những cảnh yêu
thích, vừa lòng, chán ghét cảnh trái ý. Vì say đắm với những cảnh nên rong ruổi
theo cảnh, bám lấy cảnh hình thành nên tham vọng và ớc muốn.
Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt. Đối với những hiện tợng trụ không
nhận rõ chân tớng, thực tớng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là vô thờng
mà lại lầm tởng các hiện tợng đó là thực có, là thờng còn. Vô minh che lấp ta
không nhận thấy đợc chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọng tâm, làm ta thấy có
thân, có cảnh, có ta, có ngời của ta và thấy quý thân ta, không quan tâm đến ng-
ời sống quanh ta.
Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo. Không phải hoạt động nào của
ta cũng gây nghiệp báo. Những việc nh : đi, đứng, nhìn, ngồi, thì không gây
nghiệp báo.
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác.
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho ngời và đem lại quả báo tốt cho mình.
Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngơi và đem lại quả báo xấu cho mình.
13
Nh vậy, Phật đặt số mệnh của con ngời trong chính tay họ. Tự con ngời đã
gây nên nỗi khổ cho mình. Do đó, Phật đa ra lý thuyết thập nhị nhân duyên để
thấy đợc nguồn gốc của sự vật trong thế gian. 12 nhân duyên là sợi dây liên tục
nối tiếp con ngời trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
1. Vô minh 5. Lục nhập 9. Thù
2. Hành 6. Xác 10. Hữu
3. Thức 7.Thụ 11.Sinh
4. Danh sắc. 8.ái 12. Lão tử.
Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối quan hệ
nhân quả và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong phú. Các nguyên
nhân ấy quan hệ với nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái
khác, nh làn sóng trên mặt biển, lớp trớc là lớp nhân là duyên cho lớp sau và cứ
thế tiếp diễn. Nhng cái hạn chế của tập đế là cha đề cập đến nguyên nhân từ xã
hội. Đặc biệt là cha nhắc tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội. Luận điểm
này thể hiện rõ từ trào hớng nội hớng nội trong nhận thức luận Phật giáo.
c. Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.
Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết không
còn luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả. ấy là khi diệt đế vọng niệm không còn khởi
lên, tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thờng - Lạc - Ngã - Tịnh.
Thờng là thờng còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thờng còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não đợc thực hiện không phải ở một nơi
nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự tu
hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái an
lạc, siêu thoát, tịnh diệt.
14

Xem chi tiết: Triết học phật giáo


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét