1.2.2. Nhà nớc tạo những tiền đề để thực hiện cộng nghiệp hoá:
1.2.2.1.Chính sách về vốn:
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội chính sách về vốn là một trong các
yếu tố quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Sau hai cuộc chiến tranh khốc liệt nớc ta bớc vào công cuộc xây dựng đất nớc.
Thời kì trớc 1986 nớc ta học tập mô hình các nớc xã hội chủ nghĩa cũ xây dựng
một nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Và hậu quả là nớc ta lâm vào
khủng hoảng trầm trọng lạm phát phi mã, nền kinh tế trì trệ. Bắt đầu từ năm 1986
nớc ta thực hiện chính sách đổi mới xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn mời năm đổi mới
nớc ta đã thoát khỏi khủng hoảng và có mức tăng trởng khá. Tuy nhiên thực trạng
nền kinh tế còn rất nhiều điều bất cập nguy cơ tụt hậu vẫn còn đó nh một thách
thức. Dân số đông, lao động nhiều nhng trình độ kĩ thuật chuyên môn thấp, trình
độ công nghệ lạc hậu, cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế thấp kém. Những điều
trên không thể một doanh nghiệp hay một cá nhân có thể giải quyết đợc mà phải là
nhà nớc. Do đó phải nâng cao vai trò của nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nhằm đa đất nớc đi lên, nền kinh tế tăng trởng bền vững, hạn chế
những nhợc điểm của thị trờng là một tất yếu khách quan
1.2.2.2. Chính sách về phát triển cộng nghệ:
Sau hai cuộc chiến tranh kéo dài VIệT NAM bớc vào công cuộc khôi
phục và phát triển kinh tế với xuất phát điểm rất thấp về mặt công nghệ. Trình độ
công nghệ nớc ta nói chung rất thấp so với các nớc trên thế giới. Trong các ngành
công nghiệp hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2-4 thế hệ và đợc hình thành
chắp vá từ nhiều nguồn. Các chỉ tiêu chủ yếu nh mức tiêu hao nguyên nhiên vật
liệu thờng gấp từ 1, 5 đến 2 lần mức trung bình chung của thế giới, giá thành sản
phẩm cao do nhiều yếu tố nhng trớc hết là do công nghệ lạc hậu. Trình độ công
nghệ lạc hậu cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trờng. Trong một cuộc điều tra
về tình trạng công nghệ cho thấy chỉ có khoảng 45% lao động trong khu vực kinh
tế trung ơng và 25% lao động trong khu vực kinh tế địa phơng đã đợc cơ khí hoá
tự động hoá. Công nghệ lạc hậu đẫn đến hao phí lớn năng lợng và nguyên liệu
hiệu quả sử dụng thiết bị và công nghệ thấp.
Chính những điều này đã tạo một sức ép lớn đối với nhiệm vụ đổi mới công
nghệ trong đó chuyển giao công nghệ từ nớc ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Để không ngừng nâng cao năng lực công nghệ trong nớc thúc đẩy sự nghiệp phát
triển kinh tế ngày 5-12-1988 Hội đồng Nhà nớc đã thông qua pháp lệnh chuyển
5
5
giao công nghệ. Điều 1 của pháp lệnh quy định rõ: Nhà nớc Việt Nam khuyến
khích các tổ chức, cá nhân ở nớc ngoài chuyển giao công nghệ vào Việt Nam trên
nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Nhà nớc Việt Nam bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức ở nớc ngoài chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao đó .
Chuyển giao có thể thực hiện bằng nhiều con đờng khác nhau, ở nớc ta
trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá công nghệ đợc chuyển giao bằng
các kênh thơng mại thông qua các dự án đầu t 100% vốn nớc ngoài, liên doanh,
hợp đồng hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp tự bỏ vốn mua thiết bị. Luật đầu t
nớc ngoài ban hành ngày 29-12-1987 cho phép bên nớc ngoài tham gia xí nghiệp
liên doanh góp vốn. Các nhà đầu t đợc phép chuyển lợi nhuận về nớc hoặc sang n-
ớc thứ ba. Kể từ khi thực hiện Luật đầu t nớc ngoài và pháp lệnh chuyển giao công
nghệ việc đổi mới bằng chuyển giao công nghệ đã đợc thực hiện với quy mô lớn,
tốc độ nhanh hơn các thời kì trớc khá nhiều. Trình độ công nghệ trong nhiều lĩnh
vực sản xuất đã có sự cải thiện rõ rệt. Việt Nam nhận đợc nhiều công nghệ hơn đã
có hơn 700 công ty từ hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam.
Nguồn công nghệ sôi động chảy vào Việt Nam đã có tác dụng kích thích làm sôi
động đời sống công nghệ Việt Nam. Qua thẩm định dự án cho thấy một số dự án
trong các lĩnh vực dầu khí viễn thông công nghệ chuyển giao vào Việt Nam thuộc
loại hiện đại nhất thế giới. Trong các cơ sở thực hiện các dự án này điều kiện lao
động đợc nâng lên rõ rệt, ngời lao động đợc giảm nhẹ các công việc thủ công, bớt
tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm độc hại. Môi trờng lao động cũng đợc cải thiện
ít ô nhiễm môi trờng hơn trớc.
Ngành vô tuyến viễn thông là ngành đợc đánh giá thực hiện có kết quả việc
hiện đại hoá công nghệ đi thẳng vào số hoá, tự động hoá và đa dịch vụ, sử dụng vệ
tinh viễn thông mạng truyền dẫn bằng cáp quang và vi ba băng rộng, tổng đài tự
động trên cả nớc, hệ thống thông tin di động và mạng chuyển mạng gói dữ liệu.
Mạng lới bu chính viễn thông tuy cón ít về số lợng nhng hiện đại tơng thích với
mạng lới các nớc phát triển. Thực tế qua ngành vô tuyến viễn thông đã chứng
minh các cán bộ khoa học công nghệ của chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ công
nghệ nhập hoạt động và phát huy hiệu quả kinh tế kĩ thuật cao.
Ngành cơ khí kể từ sau khi thực hiện luật đầu t nớc ngoài và pháp lệnh
chuyển giao công nghệ vào Việt Nam đã và đang dần đợc phịc hồi và có sự tăng
trởng khá. Với các thiết bị gia công khuôn mẫu hiện đại của Nhật, Anh, Đức
ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam đã chế tạo ra đợc các sản phẩm dùng cho
những công việc chế biến thô. Các phân ngành cơ khí nông nghiệp, máy công cụ,
6
6
máy phục vụ các ngành công nghiệp nhẹ có giá trị sản lợng tăng gấp đôi năm
1990. Công nghệ trong ngành điện và thiết bị điện thuộc loại tiên tiến trên thế
giới. Tại công ty đo điện nhờ hợp đồng chuyển giao công nghệ với Thụy Sĩ chất l-
ợng công tơ điện của công ty đạt chất lợng cao độ chính xác từ 0, 1 trở lên công tơ
đạt tiêu chuẩn quốc tế IECđợc khách hàng trong và ngoài nớc đặt mua với số lợng
lớn.
Nhìn chung các nguồn công nghệ nhập đã cải thiện công nghệ trong nớc
nâng cao chất lợng, đa dạng mẫu mã, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam. Đáng giá trình độ công nghệ không chỉ dựa trên phần cứng là thiết bị vì
thiết bị chỉ là một trong bốn yếu tố cấu thành khái niệm công nghệ đó là thiết bị,
con ngời, thông tin, quản lí. Biết phát triển đồng bộ 3 yếu tố còn lại thì dù thiết bị
cha phải là tiên tiến nhất vẫn có thể tạo ra đợc hiệu quả kinh tế xã hội cao nh Nghị
quyết Trung ơng 7 nêu rõ phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững . Bẵng nhiều nguồn khác nhau chùng ta đã có trong
tay lợng thiết bị công nghệ trị giá hàng chục ngàn tỉ đồng.
Tuy vậy thời gian đầu đi vào hợp tác và đầu t việc đổi mới công nghệ còn
cha khả quan, yếu tố chuyển giao công nghệ trong các liên doanh còn thấp, thậm
chí không trờng hợp nhập cả các thiết bị lạc hậu thải loại gây ảnh hởng môi trờng
làm việc và sức khẻo công nhân. Một cuộc khảo sát với hơn 700 thiết bị, 3 dây
chuyền nhập tại 42 nhà máy 76% số máy mới nhập thuộc thế hệ những năm 1950-
1960 70% số máy nhập đã hết khấu hao 50% là máy cũ tân trang. Do sử dụng
nhiều máy móc quá lạc hậu ớc tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng 300-400
thơng
tật dẫn đến chết ngời và hơn 20000 tai nạn nghề nghiệp xảy ra mỗi năm. Nhiều cơ
sở không xử lí chất thải trong sản xuất cũng gây nguy hại trực tiếp cho ngời lao
động và gây ô nhiễm môi trờng xung quanh. Ví dụ công ty bột ngọt Vêđan do trực
tiếp thải nớc thải công nghiệp có chứa chất độc không qua xử lí vào sông Thị Vải
gây ô nhiễm nặng, lúa ở ven sông bị úa vàng và làm chết tôm cá hàng loạt của bà
con ng dân trên diện tích hàng trăm ha. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là
phía Việt Nam thiếu thông tin về các loại công nghệ cần thiết có thể chuyển giao
và những tiêu cực nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hành chuyển giao
công nghệ. Ngoài ra còn nhiều nhân tố khác tạo sức cản nhất định đối với chuyển
giao công nghệ ở Việt Nam
- Cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chuyển giao công nghệ cha đợc nâng
cấp đến mức cần thiết.
- Các hoạt động hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dỡng lao động cũng
cha đợc tăng cờng.
7
7
- Chuyển giao công nghệ không chỉ là vấn đề kĩ thuật đơn thuần mà nó còn
liên quan đến vấn đề công ăn việc làm, thu nhập của công nhân viên nên thông th-
ờng các doanh nghiệp ít dám đổi mới triệt để.
- Sự hạn chế về vốn cũng làm giảm tốc độ, giảm quy mô và hiệu quả của
chuyển giao công nghệ. Vì Nhà nớc hạn chế cấp vốn, nên doanh nghiệp chỉ còn
liên doanh với nớc ngoài và vay vốn của chính đối tác liên doanh nhằm chuyển
giao công nghệ. Trong trờng hợp này phía VIệT NAM thờng phải chấp nhận
những công nghệ có trình độ kĩ thuật không cao do chính đối tác chuyển giao hoặc
giới thiệu.
- Thực lực cán bộ khoa học không ít nhng cha mạnh. Việt Nam có khoảng
10000 cán bộ đại học trên 1 triệu dân. Số cán bộ khoa học công nghệ về các
nghành khoa học kĩ thuật chỉ chiếm 15, 4% trên tổng số. Chất lợng đào tạo cán bộ
khoa học thấp, cha đợc cập nhật tri thức hiện đại của thế giới, thiếu cán bộ chủ
chốt thực hiện những chơng trình nghiên cứu khoa học có tình đột phá cao. Lực l-
ợng chuyên gia thờng chỉ nắm lí thuyết mà thiếu thực hành.
Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 30/3/1991của Bộ Chính trị Ban chấp hành
Trung ơng Đảng về khoa học đã chỉ rõ : đội ngũ cán bộ khoa học đông nhng
không đồng bộ thiếu những cán bộ khoa học thạo công nghệ giỏi quản lí. Việc
đào tạo, bôì dỡng và sự dụng cán bộ khoa học còn nhiếu thiếu sót. Đầu t tài chính
cho công nghệ của Nhà nớc thấp.
Nghị quyết 26/NQ-TW ngày 30/3/1991 cảu bộ chinhd trị đã nêu rõ : tăng
mạnh đầu t cho cho các hoạt động khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn . Phát
biểu tại Hội nghị lần 7 ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII, Tổng bí th Đỗ
Mời nhấn mạnh phải có đầu t thoả đáng về phơng diện tài chính thì mới có thể
tạo ra tiềm lực mạnh về khoa học và công nghệ. Chi phí bình quân cho một hàng
năm cho mỗi cán bộ khoa học và công nghệ từ ngân sách ở VIệT NAM chỉ đạt
1000 USD so với mức bình quân trên thế giới là 55324 USD. Điều đó có nhiều
nguyên nhân do khó khăn chung của nền kinh tế, do sự eo hẹp của ngân sách.
Song cần nhấn mạnh là cơ chế quản lí huy động còn mang nặng tính tập trung
quan liêu, kém hiệu quả.
Để có thể tránh đợc nguy cơ trở thành bải thải công nghệ VIệT NAM cần
có những chính sách cụ thể đợc hoạch định một cách cụ thể thích hợp với những
yêu cầu mới hoàn cảnh mới.
Trớc thực trạng trên việc nghiên cứu các biện pháp, chính sách để tăng cờng
hiệu quả đổi mới và quản lí công nhệ nhập càng có ý nghĩa quyết định sự thành
công của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Ngoài các luật và pháp
8
8
lệnh đã có nh luật đầu t nớc ngoài, pháp lệnh chuyển giao công nghệ, pháp lệnh
bảo hộ sở hữu quyền công nghiệp đã có một số văn bản của Chính phủ. Nhng vẫn
còn thiếu những văn bản cụ thể và điều quan trọng là các văn bản đã có cha đợc
chấp hành nghiêm túc. Trớc hết Nhà nớc phải giữ đợc vai trò kiểm soát chặt chẽ
đối với việc đổi mới thiết bị bằng con đờng nhập. Nhà nớc cần chủ động đầu t
hoặc khuyến khích đầu t để có những doanh nghiệp đủ mạnh thực hiện công việc
phân biệt thật giả tốt xấu, tập hợp phân tích, tổng hợp thông tin về thiết bị công
nghệ thế giới từ các kênh có thể có. Việc kiểm soát là cấp bách nhng phải đảm
bảo tính khách quan và chặt chẽ.
Trong giai đoạn đầu việc chuyển giao vẫn là nhập và thích nghi với công
nghệ nhập. Vì vậy công tác nghiên cứu triển khai và đào tạo cán bộ cũng tập trung
theo hớng này, áp dụng có hiệu quả công nghệ nhập cũng là thành quả khoa học
đáng biểu dơng và kính trọng. Theo kinh nghiệm nhiều nớc, để phát huy hiệu quả
công nghệ nhập có thể thực hiện sao chép nhân bản vừa tiết kiệm ngoại tệ và nâng
cao trình độ thiết kế chế tạo, thiết bị có thể đợc cải tiến nâng cao tính năng đa
năng suất hiệu quả cao hơn. Đó cũng chính là quá trình nâng cao năng lực nội tại
của công nghiệp trong quá trình chuyển giao công nghệ.
1.2.2.3.Chính sách về đối ngoại:
Công tác đối ngoại đã giúp các nớc từ đối đầu chuyển sang đối và mở ra
nhiều cơ hội để phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời tạo điều kiện để các quốc
gia trong đó có Việt Nam tạo ra nhiều hàng hoá.
Đối với nớc ta trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-
ớc để tạo ra sự phát triển kinh tế từg một nớc có nền kinh tế lạc hậu trở thành một
quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao. Do đó chính sách đối ngoại phải đặt lên
hàng đầu.
1.2.3. Vai trò của nhà nớc trong việc tổ chức thực hiện CNH-HĐH :
Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đi đôi với tiếp
nhận chuyển giao công nghệ mới từ nớc ngoài. Việc nghiên cứu các mô hình và
kinh nghiệm của các nớc trong quá trình cộng nghiệp hoá rất cần thiết cho chúng ta.
Mỗi mô hình cụ thể và những kinh nhgiệm cụ thể đều xuất phát từ điều kiện cụ thể
của mỗi nớc trong bối cảnh quốc tế. Từ những kinh nghiệm của các nớc, nhà nớc có
những chính sách thực hiện công nghiệp hoá một cách có hiệu quả.
Chơng 2
9
9
Thực trạng về vai trò của nhà nớc trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá thời gian qua và một số
giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nớc đối với
quá trình CNH HĐH ở n ớc ta trong thời gian tới
2.1. Thực trạng về vai trò của nhà nớc trong quá trình CNH
HĐH ở nớc ta thời gian qua.
2. 1.1. Thực trạng về xác định mục tiêu, định hớng cho bớc đi của CNH
HĐH.
Vai trò kinh tế của Nhà nớc là vai trò không thể thiếu đợc của mỗi Nhà nớc
trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc,. Vai trò của Nhà nớc đợc biểu hiện
ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Nhà nớc có vai trò định hớng sự phát triển kinh tế. Vai trò quản
lí của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng đợc thể hiện trớc hết và quan trọng ở
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, xác định mục tiêu Nhà nớc cụ thể hoá đờng lối
kinh tế của Đảng thành những mục tiêu, tốc độ phát triển cần phải đạt tới và xác
định thứ tự mục tiêu. Do đó không những cần coi trọng mà phải nâng cao kế hoạch
hoá nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, Nhà nớc tạo môi trờng, điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Điều
kiện quan trọng hàng đầu là sự ổn định về chính trị kinh tế xã hội đển các tổ chức
kinh tế, các chủ thể kinh doanh hàng hoá yên tâm bỏ vốn đầu t, mở rộng sản xuất
Xây dựng phát triển đồng bộ các loại thị trờng bao gồm thị trờng hàng tiêu
dùng, t liệu sản xuất, sức lao động, tiền tệ sản phẩm khoa học, dịch vụ
Phát triển hệ thống thông tin kinh tế, khoa học công nghệ, các dự báo về
mặt hàng giá cả các nhu cầu của thị trờng trong và ngoài nớc.
Xây dựng mới và nâng cấp dần cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của kinh
tế hàng hoá. Bao gồm cơ sở hạ tầng về tài chính tiền tệ và cơ sở hạ tầng xã hội.
Thứ ba, Nhà nớc điều tiết thị trờng bằng các công cụ nh :
Pháp luật:quản lí Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng chủ yếu bằng pháp
luật. Pháp luật, quan trọng là hệ thống pháp luật kinh tế, tạo hành lang an toàn cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm kỉ cơng cho các hoạt động của đời
sống kinh tế xã hội. Do đó cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và từng
bớc hoàn chỉnh khắc phục tình trạng thiếu pháp luật gây nhiều kẽ hở trong quản lí.
Đó là một nguyên nhân quan trọng của những hành vi lạm dụng tiêu cực tham
nhũng buôn lậu, ăn cắp tài sản quốc gia gây hỗn loạn trong các hoạt động kinh tế.
10
10
Các chính sách kinh tế :trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, chính
sách kinh tế là một công cụ cực kì sắc bén và trớc hết là chính sách tài chính tiền
tệ tín dụng, chính sách thơng mại và thuế quan, chính sách công nghệ và chuyển
giao công nghệ
Thứ t , sự kiểm soát của Nhà nớc đối với các hoạt động kinh tế. Kiểm soát
là nhằm thiết lập các trật tự kỉ cơng trong hoạt động kinh tế, bảo vệ tài sản quốc
gia, lợi ích của ngời lao động và góp phần thực hiện công bằng xã hội, Nhà nớc
thực hiện kiểm kê kiểm soát đăng kí kinh doanh, hoạt động kinh doanh, chất lợng
sản phẩm, tài chính đối với mọi hoạt động sản xuất lu thông.
Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá thì vai trò hoạch định chính
sách phát triển kinh tế đảm bảo nền kinh tế theo đúng mục tiêu đã định là quan
trọng nhất.
2. 1.2. Thực trạng về phát triển nguồn nhân lực.
Nhận thức đợc vai trò to lớn của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới và phát
triển, nghị quyết lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá VII đã chỉ rõ cùng với khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và
là mộtđiều kiện cơ bản để bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội.
Giáo dục là quốc sách hàng đầu thể hiện ở các quan điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, đầu t cho giáo dục là một dạng đầu t phát triển vì nó là động lực
để tăng trởng kinh tế. Giáo dục cung cấp cho nền kinh tế một lực lợng lao động có
tay nghề giỏi có trí tuệ cao có năng lực thực sự. Để thực hiện đợc thì phải đổi mới
liên tục mô hình giáo dục. Khi giáo dục trở thành động lực tăng trởng kinh tế thì
ngân sách cho giáo dục không còn là gánh nặng cho xã hội nữa.
Thứ hai, đó là quan điểm xã hội hoá giáo dục đào tạo. Phát triển giáo dục
và đào tạo phải mang tính chất xã hội hoá cao là sự nghiệp của toàn dân. Khi giáo
dục có tính xã hội thì mọi thành viên trong cộng đồng đều có trách nhiệm quan
tâm góp sức lực tiền của phát triển giáo dục. Mặt khác mọi thành viên đều phải có
nghĩa vụ học tập vì nó mang lại lợi ích trực tiếp cho bản thân, cho các doanh
nghiệp và cho toàn xã hội. Cho nên ngời đi học phải có nghĩa vụ đóng góp học
phí, ngời sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo.
Thứ ba trong nền kinh tế thị trờng có sự phân hoá giàu nghèo do đó để
công bằng trong cơ hội giáo dục và đào tạo, tạo nên sự đồng đều giữa các vùng
Đảng và Nhà nớc có các chính sách u tiên phát triển.
Thứ t , u tiên xây dựng các cơ sở đào tạo có chất lợng cao. Bởi vì khi quy
mô giáo dục mở rộng thì không thể phát triển đều khắp trên diện rộng các trờng
có chất lợng nh nhau. Do đó phải tập trung phát triển một bộ phận nhỏ giáo dục
11
11
có chất lợng cao. Bộ phận giáo dục và đào tạo có chất lợng cao sẽ là hạt nhân để
từ đó giúp cho việc nâng cao chất lợng của cả hệ thống giáo dục.
Giáo dục VIệT NAM đang đứng trớc những thách thức to lớn trớc yêu cầu
đổi mới kinh tế xã hội và trớc yêu cầu công nghiệp hoá hiện đaị hoá trớc sức ép về
nguy cơ tụt hậu so với các nớc trong khu vực. Trong vòng 20 năm tới giáo dục
VIệT NAM phải thực hiện đợc các mục tiêu cơ bản : nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dỡng nhân tài.
Mục tiêu thứ nhất là nâng cao mặt bằng dân trí. Vận động thanh thiếu niên
dới 23 tuổi đi học để nâng số năm đi học trung bình của ngời dân ở mức 5 hiện
nay lên 9 vào năm 2020. Mặt bằng dân trí đợc nâng lên và biểu hiện của nó là ng-
ời có trình độ văn hoá phổ thông nắm đợc kiến thức khoa học công nghệ cơ bản.
Thứ hai là tăng học sinh các cấp học liên tục. Thứ ba là nâng tỉ lệ những ngời có
trình độ cử nhân tiến sĩ ngang bằng với các nớc trong khu vực.
Mục tiêu thứ hai là đào tạo nguồn nhân lực. Tập trung trớc hết vào đào tạo
hớng nghiệp cho học sinh một cách thiết thực. Để cho mọi ngời có kĩ năng lao
động kĩ thuật liên tục tăng lên 30% vào năm 2020. Tăng tỉ lệ lao động đợc đào tạo
nghề ở mức 60% năm 2020.
Mục tiêu thứ ba là bồi dỡng nhân tài vì nhân tài là động lực của sự phát
triển, là động lực tạo nên các thế mạnh trong hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Để
bồi dỡng nhân tài Nhà nớc chủ trơng thành lập một bộ phận giáo dục có chất lợng
cao có quy mô và chất lợng đạt tiêu chuẩn quốc tế đó là các trờng điểm ở bậc học
phổ thông và một số trờng đại học quốc gia đào tạo đa nghành. Nâng dần tỉ lệ học
sinh ở các trờng này lên 20% vào năm 2020. Song song với đào tạo ở trong nớc
bồi dỡng đào tạo ở nớc ngoài cũng rất quan trọng, phải thờng xuyên cử các cán bộ
khoa học quản lí chủ chốt đi đào tạo ở nớc ngoài.
Quy mô giáo dục không ngừng phát triển ở các nghành học, các cấp học.
Nhng sự phát triển không đồng đều qua các thời kì. Thời kì trớc đổi mới giáo dục,
giáo dục Việt Nam tuân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Giáo dục và đào tạo
đợc nhà nớc cấp ngân sách hoàn toàn các chỉ tiêu giáo dục đợc đề ra trong kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội nhà nớc có kế hoạch phân bổ và sử dụng lực lợng
lao động đã qua đào tạo. Do đó mức tăng quy mô giáo dục do nhà nớc hoạch định
và năm sau luôn cao hơn năm trớc. Thời kì đổi mới quy mô giáo dục có những
biến động lớn lúc đầu có sự giảm sút đột ngột và sau đó tăng dần nhng mức tăng
không đáng kể. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê thì năm học 1986-1987 cả n-
ớc có 12482, 9 nghìn học sinh phổ thông thì năm học 1990-1991 con số đó là
11882, 9 nghìn giảm 5%. Những năm sau số học sinh phổ thông đã tăng lên. So
12
12
với tỉ lệ tăng dân số trong độ tuổi đi học thì mức tăng lợng học sinh đến trờng
không đáng kể. Nói khác đi là tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học giảm đi, thí dụ
năm học 86-87 cả nớc có 910, 6 nghìn thì năm 90-91 chỉ còn 524, 2 nghìn, giảm
73%. Số học sinh trong độ tuổi đi học trung học liên tục giảm từ năm 90-93, phần
lớn những ngời bỏ học là con em lao động nghèo hoặc con em nông dân họ trở
thành lao động chính, một bộ phận khác là con em các gia đình thành thị họ cần
có việc làm để nâng cao mức sống tìm việc làm trong các cơ sở t nhân. Năm 1991-
1992 là năm học chặn đứng tình trạng xuống cấp về quy mô giáo dục ở các cấp
học. Trong hai năm học sau đó số lợng học sinh các cấp học phổ thông đã tăng
lên với mức tăng hàng năm là 5%và 7%.
Điểm nổi bật của nền giáo dục Việt Nam là tỉ lệ học sinh nữ so với tỉ lệ học
sinh nam trong nhiều năm là không thay đổi ở các bậc học phổ thông và là 93-
94%. Đó là thực tế đã có tại VIệT NAM trong khi ở các nớc đông dân khác nh
Trung Quốc, Ân Độ không có.
So với thời kì trớc năm 1986 thì số học sinh trung học chuyên nghiệp và
các trờng dạy nghề giảm nhanh năm 86-87 có 156 nghìn thì năm 90-91 là 135, 4
nghìn giảm 15%. Quy mô học sinh trung học chuyên nghiệp đã tăng từ năm 90-91
đến nay nhng xu thế không rõ ràng. Quy mô đào tạo sinh viên đại học và cao đẳng
có nhiều biến động lớn. Mỗi năm có khoảng 20 nghìn sinh viên đại học cao đẳng
chính quy tốt nghiệp. Tỉ lệ sinh viên đại học cao đẳng trong độ tuổi đi học của
Việt Nam là 2, 3-2, 5%. Tỉ lệ này cao hơn mức 2% của Trung Quốc nhng lại thấp
hơn so với mức 16% của Thái Lan, 10% của Inđônêxia và 40% của Hàn Quốc.
Thời kì đầu số lợng sinh viên giảm sút nhng tăng nhanh trong những năm gần đây.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tình hình trên có hai lí do. Thứ nhất hình thức giáo dục
phong phú và có nhiều đổi mới. Thứ hai mức sống của nhiều tầng lớp dân c đã
tăng lên nhiều ngời có nguyện vọng học cao hơn để nâng cao địa vị xã hội của
mình.
Hệ thống giáo dục mở rộng.
Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm giáo dục mầm non mẫu giáo, giáo
dục phổ thông, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp. Sau giáo dục đại học
và hệ thống giáo dục cao học từ 3 đến 5 năm để đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Số trờng
học phát triển nhanh mỗi làng xã có ít nhất một trờng tiểu học hoặc trung học cơ
sở. Trớc tình hình phải tăng số lợng ngời có trình độ chuyên môn cao, Nhà nớc
chủ trơng phát triển hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng. Trong điều kiện thiếu
giáo viên đại học, giáo dục Việt Nam chủ trơng lấy ngời trình độ đại học dạy đại
học và đây là trờng hợp ngoại lệ bởi vì hầu hết các nớc trong khu vực thờng mời
13
13
các giáo s nớc ngoài. Bằng con đờng đó giáo dục đại học cao đẳng Việt Nam đã
mở rộng quy mô một cách nhanh chóng và có khả năng đào tạo đa nghành. Hiện
nay Việt Nam có 109 trờng đại học, cao đẳng và đào tạo hơn 200 nghành học.
Quy mô giáo dục và đào tạo mở rộng trong suốt 50 năm qua đòi hỏi số giáo viên
tăng lên để đáp ứng nhu cầu đó Hiện tại cả nớc có 467, 4 nghìn giáo viên phổ
thông, trong đó có 288, 2 nghìn tiểu học, 142, 2 trung học cơ sở và 37 nghìn phổ
thông trung học. Cả nớc có khoảng 9, 7 nghìn giáo viên trung học chuyên nghiệp
6, 2 nghìn giáo viên dạy nghề và 22 nghìn giảng viên đại học và cao dẳng.
Trớc tình hình chuyển sang nền kinh tế thị trờng biên chế giáo dục không
tăng đời sống một bộ phận đội ngũ giáo viên gặp khó khăn do đó một số bỏ nghề.
Năm học 94-95 đã có 20 nghìn giáo viên phổ thông xin thôi việc có nghĩa là năm
đõ thiếu 60 nghìn giáo viên phổ thông chủ yếu là giáo viên ở bậc tiểu học. Thiếu
giáo viên phổ thông đã trở thành vấn đề bức xúc trong nhiều năm.
Hệ thống đào tạo tại chức.
Trong chính sách giáo dục và đào tạo hình thức giáo dục tại chức rất đợc
Nhà nớc quan tâm hình thức này sẽ đáp ứng đợc 3 yêu cầu cấp bách. Thứ nhất
phát triển nguồn nhân lực bổ sung vào lực lợng lao động những ngời có trình độ
cao hơn. Thứ hai tạo điều kiện cho ngời nghèo hoặc những ngời đang làm việc tại
các cơ quan không có điều kiện học tập chính quy tập trung có thể học tập đại học
và sau đại học. Thứ ba khắc phục tình trạng thiếu hụt đội ngũ có chuyên môn cao
để xây dựng đất nớc sau những năm bị chiến tranh tàn phá. Số sinh viên đại học tại
chức liên tục tăng từ 91 đến 95. Năm 91-92 chỉ có khoảng 17 nghìn học viên đến
năm 94-95 con số đó là 66, 4 nghìn tốc độ tăng khá nhanh so với các năm trớc đó.
Hình thức đào tạo tại chức cũng rất quan tâm đến yêu cầu đào tạo nghề mới và đào
tạo lại nghề. Hệ thống đào tạo tại chức đã có những đóng góp to lớn phát triển đội
ngũ cán bộ, trí thức vơn lên trình độ cao để làm chủ các lĩnh vực khoa học công
nghệ.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Trong suốt thời kì 51-90 các nớc Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc đã đào
tạo cho Việt Nam hơn 52000 sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh. Trong cùng
thời gian đó có một số ít sinh viên Việt Nam đợc các nớc Pháp Thuỵ Điển Nhật
Bản giúp đào tạo. Đến cuối 1994 do sự mở rộng giao lu quốc tế Việt Nam đã có
1900 sinh viên 394sinh viên cao học 715 nghiên cứu sinh 298 thực tập sinh đang
học tập và nghiên cứu tại 25 nớc trên thế giới. Nhiều nớc trên thế giới và các tổ
chức quốc tế đã giúp Việt Nam xây dựng hàng nghìn phòng học, thiết bị và đồ
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét