Luận văn tốt nghiệp
của Nhà nớc trong các DNNN thì ở các nớc Ôxtrâylia, Tây Ban Nha, Nhà nớc
phải chiếm trên 50% giá trị tài sản của doanh nghiệp, trong khi đó ở Italia là
25%, ở Malaysia là 20%, ở Hàn Quốc là 10%.
1.2. Khái niệm về DNNN ở Việt Nam
Trong những năm trớc đây, ở nớc ta nền kinh tế phát triển dựa trên quan
niệm về mô hình kinh tế xã hội chủ yếu bao gồm hai thành phần kinh tế quốc
doanh và tập thể. Chúng ta thờng có khái niệm về các xí nghiệp quốc doanh,
nông trờng quốc doanh, Công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh đó là
những tổ chức do Nhà nớc: Đầu t vốn (100%), quyết định thành lập, quyết định
phơng hớng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng ngời lao động
theo chế độ biên chế ổn định. Mỗi doanh nghiệp đều trực thuộc một cơ quan
chủ quản nhất định. Doanh nghiệp quốc doanh thờng đợc hiểu là đồng nhất với
thành phần kinh tế quốc doanh, một bộ phận kinh tế chủ yếu giữ vai trò chủ đạo
của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ngời lao động làm việc trong các DNNN và
các tổ chức cơ quan Nhà nớc khác đều nhận thức mình là những cán bộ công
nhân viên chức Nhà nớc trong biên chế, ít có sự phân biệt khác nhau về quyền
lợi, chế độ phân phối đãi ngộ.
Quá trình đổi mới những năm vừa qua, chúng ta đã hoàn thiện dần về
khái niệm DNNN. Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy: nhiều luật,
Nghị định đều có đề cập đến khái niệm về DNNN. Tiêu biểu nh Luật DNNN đ-
ợc Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995.
Điều 1 của Luật quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t
vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công
ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nớc giao.
DNNN có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu
trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do
doanh nghiệp quản lý.
DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 3: Xác định vốn Nhà nớc giao cho doanh nghiệp quản lý là vốn
ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc vốn ngân sách cấp và vốn của doanh nghiệp
tích luỹ".
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
5
Luận văn tốt nghiệp
Nh vậy, xét về giai đoạn sở hữu vốn ở giai đoạn hiện nay chúng ta mới
chỉ chấp nhận loại DNNN mà chủ sở hữu duy nhất nắm giữ 100% vốn của
doanh nghiệp là Nhà nớc.
Tóm lại, DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu Nhà nớc, ra đời và
hoạt động kinh doanh độc lập, chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc.
DNNN là một tổ chức kinh tế khác với tổ chức hành chính và tổ chức sự
nghiệp Nhà nớc không chỉ lấy hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích làm
chủ yếu. Điều cơ bản là DNNN phải chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu
quả, bảo toàn và phát triển vốn, các nguồn lực do Nhà nớc là chủ sở hữu giao
cho doanh nghiệp.
Một điểm phân biệt cơ bản thứ hai là do hiện nay, những ngời lao động
thuộc diện biên chế trớc đây nay làm việc trong các DNNN đợc xếp vào nhóm
cán bộ công nhân viên nhóm II. Những ngời thuộc diện biên chế làm việc trong
các cơ quan quản lý Nhà nớc, các cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp đợc
xếp vào nhóm công chức Nhà nớc nhóm I.
2. Phân loại DNNN
2.1. Theo Liên hợp quốc DNNN có ba loại
- Doanh nghiệp hành chính sự nghiệp: đợc thành lập trong các ngành
cung ứng nớc, điện, giao thông, thông tin liên lạc.
- Doanh nghiệp công cộng: là loại doanh nghiệp mà Nhà nớc là chủ sở
hữu duy nhất. Hoạt động của doanh nghiệp này chủ yếu nhằm mục đích xã hội,
không vì mục tiêu lợi nhuận.
- Doanh nghiệp sở hữu Nhà nớc: Nhà nớc sở hữu toàn bộ hoặc một phần
tài sản của doanh nghiệp.
2.2. Theo Luật DNNN của Việt Nam: Các DNNN đợc chia ra theo các
tiêu chí sau:
Theo mục tiêu hoạt động có hai loại:
- DNNN hoạt động công ích là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hoá dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nớc, hoặc
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
6
Luận văn tốt nghiệp
- DNNN hoạt động kinh doanh là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục
tiêu lợi nhuận.
2.3. Theo sở hữu: (Dự báo có thể làm 4 loại)
- Loại DNNN chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nớc.
- Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nớc nắm giữ không
dới 50% vốn.
- Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó phần sở hữu của Nhà nớc ít
nhất gấp hai lần cổ phần của các cổ đông lớn nhất khác trong doanh nghiệp.
- Loại DNNN có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nớc sở hữu cổ phần
đặc biệt để nắm giữ quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh
nghiệp theo thoả thuận đợc ghi trong Điều lệ doanh nghiệp.
2.4. Theo mô hình tổ chức hoạt động: Có thể chia thành hai nhóm:
- DNNN hoạt động độc lập, các Tổng Công ty 90, 91
- DNNN thành viên của Tổng Công ty.
2.5. Theo cấp chủ quản (đầu mối quản lý) có 3 nhóm:
- DNNN do các Bộ quản lý
- DNNN do địa phơng quản lý
- DNNN do các tổ chức đoàn thể quản lý
2.6. Theo quy mô kinh doanh: Thì có thể phân thành 3 nhóm:
- DNNN quy mô lớn: vốn Nhà nớc trên 10 tỷ đồng, doanh thu trên 100 tỷ.
- DNNN quy mô vừa: vốn Nhà nớc từ 5 - 10 tỷ, doanh thu từ 50 - 100 tỷ.
- DNNN quy mô nhỏ: vốn dới 5 tỷ, doanh thu dới 50 tỷ.
2.7. Theo các ngành kinh tế kỹ thuật: Có thể phân loại theo nhóm các
ngành kinh tế kỹ thuật sau đây:
Hiện nay, sản xuất của chúng ta cha phát triển, do đó tuỳ thuộc ở từng
địa phơng có thể phân nhóm DNNN theo ngành chuyên môn hoá hẹp hoặc
ngành chuyên môn hoá tổng hợp, hoặc chia theo 4 nhóm ngành tổng hợp sau đây:
- DNNN thuộc các nghành sản xuất nông, lâm nghiệp và phục vụ sản
xuất nông, lâm nghiệp.
- DNNN thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng và phục vụ sản xuất
công nghiệp.
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
7
Luận văn tốt nghiệp
- DNNN thuộc các ngành thơng mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc.
- DNNN thuộc các ngành còn lại.
II. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc
Trong tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội có Nhà nớc, Nhà nớc
luôn luôn tham gia vào công việc kinh doanh. Việc Nhà nớc tiến hành kinh
doanh là cần thiết, nhằm nắm các mạch máu kinh tế, để thực hiện chiến lợc phát
triển nền kinh tế quốc dân theo các mục tiêu đã định.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng hiện đại, nền kinh tế đã có một sự
chuyển biến sâu sắc. Đặc trng quyết định của nền kinh tế thị trờng hiện đại là
hình thành một cơ cấu hỗn hợp. Nền kinh tế thị trờng hiện đại đòi hỏi tất yếu có
sự điều tiết của Nhà nớc. Chính điều này đã đem lại cho Nhà nớc một hiệu năng
kinh tế hoàn toàn mới: hiệu quả ổn định và công bằng hơn. Trong nền kinh tế
thị trờng hiện đại: hệ thống tài chính, tiền tệ là những bộ phận cấu thành của
quan hệ kinh tế vĩ mô có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nớc sử dụng rất hữu
hiệu các công cụ này để điều tiết nền kinh tế một cách gián tiếp.
Trong nền kinh tế thị trờng hỗn hợp, kinh tế Nhà nớc ngày càng phát
triển. Tuy nhiên, có hai điều cần lu ý: Thứ nhất, kinh tế Nhà nớc không loại trừ
kinh tế t nhân, trái lại nó chỉ có thể phát triển trên cơ sở có sự đóng góp của
kinh tế t nhân. Bởi vì những nguồn thu khổng lồ của nó là khu vực kinh tế t
nhân. Mặt khác, kinh tế Nhà nớc kết hợp với kinh tế t nhân thành kinh tế hỗn
hợp. Qua sự hỗn hợp này, cả kinh tế Nhà nớc và kinh tế t nhân cùng phát triển.
Thứ hai, kinh tế Nhà nớc là một bộ phận trong cơ cấu của nền kinh tế thị trờng,
do đó sự hoạt động của nó phải đợc đặt trong cơ chế thị trờng.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, Nhà nớc có thể điều tiết và thúc đẩy
nền kinh tế bằng hai phơng pháp: trực tiếp và gián tiếp. Phơng pháp gián tiếp là
bằng các công cụ kinh tế vĩ mô và chính sách Nhà nớc sẽ điều tiết và thúc đẩy
nền kinh tế. Phơng pháp trực tiếp là Nhà nớc với t cách là một nhà công nghiệp
trực tiếp đầu t thực hiện quá trình kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm
thúc đẩy các ngành, các khâu của quá trình tái sản xuất hay thoả mãn những
nhu cầu cụ thể của xã hội. Phơng pháp gián tiếp mang tính chất vĩ mô, chỉ có
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
8
Luận văn tốt nghiệp
Nhà nớc mới đảm đơng đợc. Phơng pháp trực tiếp là phơng pháp có thể thay thế
bởi t nhân. Trong thực tế, Nhà nớc luôn luôn kết hợp cả hai phơng pháp để thúc
đẩy và điều tiết nền kinh tế. Sở dĩ trong một số trờng hợp, Nhà nớc phải trực
tiếp thúc đẩy là vì có một số lĩnh vực sản xuất kinh tế t nhân không thích đầu t
hoặc không có khả năng đầu t mà nếu không kinh doanh thì xã hội sẽ không có
hoặc có ít hàng hoá, dịch vụ. Ngời ta biện minh cho việc Nhà nớc tiến hành
kinh doanh bởi ba lý do: Thứ nhất, khắc phục trạng thái cạnh tranh không hoàn
hảo hay độc quyền tự nhiên. Thứ hai, khắc phục những tác động hớng ngoại.
Thứ ba, giải quyết những công bằng xã hội. Tuy nhiên, ba lý do này hoặc có thể
giải quyết bằng chính sách hay công cụ vĩ mô hoặc bằng việc kinh doanh của
Nhà nớc trong các DNNN. Do vậy, DNNN với tính cách là một công cụ điều
tiết nền kinh tế thị trờng hiện đại có vai trò ngày càng lớn. DNNN phải trực tiếp
đảm nhận sản xuất và cung cấp cho xã hội những sản phẩm dịch vụ mà các
thành phần khác không tham gia kinh doanh.
Vấn đề Nhà nớc và kinh tế Nhà nớc tác động đến nền kinh tế xã hội đã
rõ, vì vậy ít có sự tranh luận giữa các nhà khoa học. Xây dựng Nhà nớc pháp
quyền có thể xem nh là mô hình Nhà nớc tiến bộ nhất hiện nay. Tuy nhiên, vấn
đề kinh tế Nhà nớc vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Do đó cần nhận thức thống
nhất về phạm trù này đó là:
Khu vực kinh tế Nhà nớc hiểu một cách đầy đủ nhất bao gồm nhiều bộ
phận nh: hệ thống các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nớc, các công cụ
quản lý vĩ mô nh hệ thống tài chính ngân hàng Nhà nớc, hệ thống kết cấu cơ sở
hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và các DNNN. Tổng thể các bộ phận đó Nhà n-
ớc sử dụng, tác động, can thiệp, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động toàn bộ nền kinh tế. Hiện
nay, vấn đề phát triển các DNNN với quy mô và phạm vi nh thế nào còn đang
tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt là ở các nớc đang phát triển, các nớc
đang trong quá trình chuyển đổi mô hình từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang kinh tế thị trờng có định hớng của Nhà nớc.
Vai trò của DNNN đợc xem xét đặt nó là một bộ phận trọng yếu của kinh
tế Nhà nớc và vai trò của kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân.
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
9
Luận văn tốt nghiệp
Xem xét vai trò của các DNNN trong ba mối quan hệ:
1. DNNN trong mối quan hệ với các chính sách phát triển kinh tế, chiến
lợc phát triển kinh tế. DNNN trực tiếp tham gia thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội.
2. Tơng quan của DNNN trong hệ thống các giải pháp, công cụ kinh tế
mà Nhà nớc lựa chọn để điều tiết, thúc đẩy và thực hiện chiến lợc phát triển
kinh tế.
3. Tơng quan của DNNN với hệ thống doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế.
Trong ba mối quan hệ này, mối quan hệ thứ nhất quy định vai trò của
DNNN trong những giai đoạn phát triển nhất định. Có thể vai trò của DNNN sẽ
thay đổi tăng hoặc giảm, tuỳ theo chính sách và chiến lợc phát triển. Trong hai
mối quan hệ sau, vai trò của DNNN đợc đặt trong tơng quan của việc lựa chọn
phơng pháp trực tiếp hay gián tiếp để điều tiết và thúc đẩy nền kinh tế; u thế của
các DNNN trong việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng so với hệ thống
doanh nghiệp t nhân. Để đánh giá vai trò của DNNN ở Việt Nam, có thể nêu
những nét chủ yếu sau:
1. Vai trò kinh tế
Với một nớc đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề quyết định là đa
nền kinh tế từ trình độ lạc hậu nhanh chóng chuyển lên trình độ tiên tiến hiện
đại có quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất. Trong mô
hình cũ của chủ nghĩa xã hội, kinh tế xã hội chủ nghĩa đợc quy về phát triển hai
thành phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Hệ thống kinh tế quốc doanh
thờng đợc hiểu là đồng nhất với việc xây dựng phát triển nhiều doanh nghiệp
quốc doanh. Điều này dẫn đến những sai lầm của mô hình kinh tế cũ, là cơ cấu
kinh tế thiếu năng động, hạn chế huy động các nguồn lực xã hội. Chúng ta thực
hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong
đó kinh tế Nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết, định hớng cho các thành
phần khác. Nh vậy, trong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế nhiều thành
phần, DNNN có vai trò là một bộ phận cấu thành của kinh tế Nhà nớc. Kinh tế
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
10
Luận văn tốt nghiệp
Nhà nớc và DNNN vẫn nắm giữ vai trò chủ đạo để thúc đẩy nền kinh tế phát
triển đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đặc điểm của các nớc chậm phát triển là cơ cấu kinh tế bất hợp lý, công
nghiệp cha phát triển, nông nghiệp lạc hậu, thị trờng giao lu trao đổi hàng hoá
hạn hẹp, tổ chức sản xuất phân tán manh mún. Mức thu nhập bình quân của ng-
ời dân thấp. Để thực hiện chiến lợc tăng tốc rút ngắn và tạo dựng cơ sở kinh tế
của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa theo mô hình mới, Nhà nớc tất yếu phải lựa chọn
giải pháp phát triển các DNNN tăng cờng nền kinh tế. ở đây việc lựa chọn này
không mang tính chủ quan mà là một tất yếu lịch sử trong phát triển nền kinh tế
của mỗi quốc gia đang ở trình độ kinh tế chậm phát triển. Phát triển các DNNN
có hai u thế. Thứ nhất, đó là u thế về khả năng huy động vốn và khả năng cạnh
tranh để tham gia vào thị trờng thế giới. Thứ hai, với u thế về quy mô tập trung
sản xuất, các DNNN có lợi thế hơn trong việc áp dụng công nghệ hiện đại.
DNNN trở thành các đối tác chính để thu hút các nhà đầu t nớc ngoài trong hoạt
động liên doanh liên kết.
Ưu thế của DNNN là:
Có nhiều khả năng để tập trung nguồn vốn, tổ chức sản xuất hiện đại, quy
mô lớn chuyển giao công nghệ và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với những -
u thế này, khiến cho doanh nghiệp Nhà nớc có vai trò quyết định trong quá trình
thực hiện chiến lợc phát triển tăng tốc, rút ngắn khoảng cách giữa các nớc chậm
phát triển với các nớc phát triển.
Nh vậy, xét ở hai khía cạnh, khía cạnh tạo lập những cơ sở kinh tế trực
tiếp của lực lợng kinh tế Nhà nớc và khía cạnh phát triển thì DNNN là giải pháp
để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại ở các nớc công nghiệp phát triển
DNNN không thể hiện rõ vai trò của một công cụ để Chính phủ can thiệp trực
tiếp vào nền kinh tế. Nhng ở các nớc chậm phát triển, hệ thống doanh nghiệp
còn kém phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp t nhân còn nhỏ bé, lực lợng kinh tế
vĩ mô của Nhà nớc còn hạn chế thì việc phát triển hệ thống DNNN với nhiều
doanh nghiệp quy mô lớn, trình độ công nghệ cao là một giải pháp có tính
quyết định đến việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
11
Luận văn tốt nghiệp
theo hớng nhiều thành phần và mở cửa hội nhập. DNNN có thể trở thành những
công cụ trực tiếp để tham gia khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trờng khi
nó đủ khả năng cung cấp những hàng hoá và dịch vụ công cộng có ý nghĩa đặc
biệt đối với sinh hoạt chung của xã hội mà t nhân và các thành phần kinh tế
khác không muốn hoặc không có khả năng đầu t. Phát triển DNNN để tạo kết
cấu hạ tầng dịch vụ cho nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển
bền vững lâu dài nền kinh tế.
Nhợc điểm của DNNN là kém năng động trong kinh doanh, nếu DNNN
phát triển mở rộng bao trùm toàn bộ nền kinh tế, nó sẽ làm cho nền kinh tế ở
vào trạng thái thiếu tính đa dạng, trì trệ và hiệu quả thấp.
Một cơ cấu kinh tế phát triển hợp lý trong mô hình kinh tế thị trờng hỗn
hợp là sự cân bằng giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế t nhân và đặc biệt là bao
gồm khu vực DNNN và khu vực doanh nghiệp t nhân. Sở dĩ trong thời kỳ quá
độ, sự phát triển DNNN đóng vai trò chủ đạo, là vì sự phát triển của nó đem lại
đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ, trực tiếp cho bớc chuyển nền kinh tế từ chậm phát
triển sang phát triển hiện đại một cách nhanh chóng. Phát triển DNNN là giải
pháp phân bố hữu hiệu các nguồn lực trong nền kinh tế, khi mà các quan hệ vĩ
mô của kinh tế thị trờng cha phát triển. Điều kiện có nghĩa là DNNN đóng vai
trò tạo điều kiện để phát triển hơn là trực tiếp tạo ra thu nhập. Với vai trò tạo
điều kiện để phát triển, DNNN trợ giúp cho khu vực doanh nghiệp t nhân phát
triển đồng thời hớng dẫn khu vực t nhân đi vào lĩnh vực kinh tế mới và chuyển
giao cho khu vực t nhân công nghệ hiện đại. Cùng với quá trình phát triển
DNNN sẽ diễn ra quá trình thay đổi phơng pháp điều tiết trong cơ chế quản lý
của Nhà nớc đối với toàn bộ nền kinh tế: chuyển từ việc sử dụng công cụ quản
lý trực tiếp sang công cụ quản lý gián tiếp. Nhà nớc điều hành và quản lý vĩ mô
nền kinh tế là chủ yếu, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh là chức năng của
các doanh nghiệp.
2. Vai trò chính trị
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
12
Luận văn tốt nghiệp
Đối với một nớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, DNNN có ý nghĩa chính trị
đặc biệt. Nó là bộ phận định hớng về mặt kinh tế và là công cụ thực hiện các
chính sách theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Thực sự, hệ thống DNNN cung cấp
cho Nhà nớc một cơ sở kinh tế, để Nhà nớc trở thành một lực lợng chi phối trực
tiếp đối với bộ phận kinh doanh t nhân. Thêm vào đó, ở giai đoạn đầu của tiến
trình phát triển, DNNN là bộ phận tạo thành nền tảng của Nhà nớc. Nó cung
cấp nguồn lực chính, chủ yếu cho hoạt động của Nhà nớc, đồng thời là công cụ
trực tiếp hữu hiệu để thúc đẩy nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa và
thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội do Đảng cộng sản và Chính phủ đề ra.
Các DNNN có vai trò đặc biệt trong việc tăng cờng, củng cố quốc phòng và an
ninh đối với mỗi quốc gia.
3. Vai trò xã hội
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp đều chiụ sự chi phối của
quy luật thị trờng, muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận.
Nhng nền kinh tế thị trờng có những khuyết tật nh tạo ra sự phân hoá giàu
nghèo vì vậy sự tồn tại của DNNN với việc sử dụng nhiều lao động, tăng công
ăn việc làm và tăng thu nhập sẽ làm giảm sự bất bình đẳng, DNNN thực hiện
các quyền, nghĩa vụ bảo hiểm cho ngời lao động tốt hơn là các thành phần khác.
Mỗi quốc gia thờng có những vùng xa xôi hẻo lánh, trình độ dân trí còn
thấp, dân c ở những vùng này phải chịu thiệt thòi vì sự phát triển kinh tế thấp
hơn các vùng khác; Bởi vậy, việc đầu t phát triển các DNNN ở các vùng này
còn có vai trò quyết định bảo đảm các nhu cầu cung cấp dịch vụ công cộng thiết
yếu cho đời sống dân c vùng sâu vùng xa.
III. Một số kinh nghiệm phát triển và cải cách DNNN của
các nớc
1. Kinh nghiệm của các nớc phát triển
Nền kinh tế của các nớc phát triển đều đã trải qua nhiều thời kỳ phát
triển, hoàn thiện cơ cấu kinh tế để đạt đến trình độ phát triển cao nh hiện nay.
Bài học kinh nghiệm của các nớc phát triển là khẳng định kinh tế Nhà nớc có
vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế. Mô hình kinh tế đa thành
phần và cơ cấu kinh tế mở cửa có thể xem nh là phổ biến ở nhiều nớc. DNNN đ-
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
13
Luận văn tốt nghiệp
ợc đầu t phát triển một cách cân nhắc chủ yếu ở các khu vực hạ tầng kinh tế xã
hội trọng yếu và dịch vụ công cộng. Số lợng và tỷ trọng của DNNN trong từng
ngành nghề, lĩnh vực thờng không cố định qua từng thời kỳ phát triển kinh tế
của mỗi nớc, nó tuỳ thuộc vào chính sách và chiến lợc phát triển kinh tế trong
từng thời kỳ của mỗi quốc gia để duy trì và phát triển DNNN một cách thích
hợp. Phát triển DNNN là công cụ, giải pháp hữu hiệu thực hiện thành công
chính sách và chiến lợc của mỗi quốc gia.
2. Kinh nghiệm của một số nớc đang phát triển về phát triển và cải
cách sắp xếp lại DNNN.
a. Kinh nghiệm của các nớc ASEAN
Khác với các nớc phát triển ở Châu Âu, các nớc ASEAN mới giành đợc
độc lập từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay. Vào những năm giữa thế kỷ
XX các nớc này đã phát triển ồ ạt DNNN ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mà
không nhận thức đợc những hạn chế của loại hình doanh nghiệp này. Bớc sang
những năm cuối của thập niên 70 trở lại đây, các nớc ASEAN đã điều chỉnh
bằng nhiều biện pháp t nhân hoá, cổ phần hoá, liên doanh với nớc ngoài để thực
hiện quá trình cải cách, sắp xếp lại việc phát triển của các DNNN cho phù hợp
với chiến lợc điều chỉnh cơ cấu kinh tế của các quốc gia. Nhờ đó tạo ra sự tăng
trởng "thần kỳ" của nền kinh tế các nớc trên trong những thập niên 70 - 80.
Những bài học kinh nghiệm của các nớc ASEAN có thể nêu ra là:
- Phải có cơ sở khoa học, phơng pháp luận cho việc cải cách DNNN
nhằm cơ cấu lại khu vực kinh tế Nhà nớc phù hợp với xu thế thời đại.
- Phải có sự quyết tâm cao của chính phủ và tính kiên quyết của các cơ
quan có trách nhiệm trong bộ máy Nhà nớc.
- Phải có sự thông hiểu, ủng hộ của d luận xã hội và ngời lao động trong
các DNNN.
- Cải cách thể chế quản lý tạo cơ sở pháp lý ổn định và thuận tiện cho
việc chuyển đổi mô hình DNNN sang các loại hình khác nh cổ phần hoá, bán
khoán, cho thuê, liên doanh nớc ngoài và t nhân hoá
Phạm Thị Kim Ngân Lớp: Nhật 3 - K37
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét