Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

cac bai thuốc

Các bài khác
Hạt đậu món ăn, bài thuốc trong ngày hè (1/8/2005)
Món ăn-bài thuốc trị thiếu máu (27/7/2005)
Thức ăn giải nhiệt mùa hè (6/7/2005)
Người bình thường có nên dùng thuốc bổ Đông y? (20/6/2005)
Phòng và trị rôm sảy trong mùa hè (15/6/2005)
Đông y trị chứng bệnh nhiệt miệng (10/6/2005)
Cháo lá sen: Món ăn mát bổ và phòng chống béo phì (24/5/2005)
Một số bài thuốc phòng, chống bệnh Rubella (9/5/2005)
10 bài thuốc trị tăng mỡ máu (28/4/2005)
3 nhóm thảo dược trị mụn hiệu quả (8/4/2005)
Các bài khác
Công dụng của cây rau má (31/3/2005)
Cây Thương Truật (16/3/2005)
Cây thảo quyết minh (10/3/2005)
Các bài thuốc từ cây đu đủ (10/3/2005)
Giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh của chuối (23/2/2005)
Cây Vòi voi (14/12/2004)
Đông y chữa viêm cầu thận mạn (9/12/2004)
Mật gấu thật - mật gấu giả (1/12/2004)
Đạm trúc diệp (15/11/2004)
Ðiều trị các biến chứng của bệnh tiểu đường (11/11/2004)
Cây củ khỉ (4/11/2004)
Những phát hiện mới về quả nho trong phòng và chữa bệnh (3/11/2004)
Y học cổ truyền chữa bệnh liệt mặt ngoại biên (2/11/2004)
Trị đái ra máu (8/10/2004)
Một số bài thuốc từ bưởi (5/10/2004)
Một số bài thuốc chữa chắp lẹo (29/9/2004)
Thổ phục linh: cây thuốc quý (23/9/2004)
Điều trị hen phế quản bằng thảo dược (23/9/2004)
Dược thiện phòng chống táo bón (22/9/2004)
Hướng mới trong điều trị bệnh thận bằng y học cổ truyền (22/9/2004) Món sinh tố
giúp trị cao huyết áp tiểu đường (20/9/2004)
Ðiều trị viêm đại tràng mạn bằng thuốc nam (15/9/2004)
Phòng và chữa ''nước ăn chân'' (14/9/2004)
Tác dụng lợi mật và trị viêm gan của thảo dược (7/9/2004)
Chữa thoát vị bằng y học cổ truyền (6/9/2004)
Cách dùng hoa hòe chữa bệnh (1/9/2004)
Cây dừa cạn làm thuốc (25/8/2004)
Ðiều trị đau mắt đỏ bằng thuốc nam (4/8/2004)
Một số bài thuốc trị táo bón (4/8/2004)
Cây hoa hiên (2/8/2004) Nước uống chữa bệnh sỏi thận, bàng quang (22/7/2004)
Đông y và cách chữa bệnh tổ đỉa (16/7/2004)
Rượu thuốc bổ dương (16/7/2004)
Hạt và vỏ cây núc nác thuốc thanh nhiệt, tiêu viêm, chống dị ứng (13/7/2004)
Tự bấm huyệt trị bệnh đái ra máu (12/7/2004)
Tác dụng chữa bệnh của quả vải (14/6/2004)
Thuốc từ cây hoa ''cứt lợn'' (14/6/2004)
Điều trị ghẻ bằng thuốc nam (14/6/2004)
Nhĩ châm trị u xơ tuyến tiền liệt (28/5/2004)
Thằn Lằn với bệnh suyễn (14/5/2004)
Bài thuốc đông y trị các bệnh về huyết (12/5/2004)
Cây tía tô làm thuốc (12/5/2004)
Trị rong kinh bằng y học cổ truyền (7/5/2004)
Củ súng và vị thuốc khiếm thực chữa di mộng tinh (29/4/2004)
Cây huyết dụ làm thuốc (27/4/2004)
Trị viêm mũi dị ứng (26/4/2004)
Củ riềng làm thuốc (22/4/2004)
Thuốc nam điều trị bệnh ngoài da (22/4/2004)
Chữa bong gân (22/4/2004)
Thằn Lằn với bệnh suyễn
Hỏi: Con tôi bị bệnh suyễn, gầy yếu và ăn rất ít. Tôi đã cho cháu dùng nhiều loại thuốc Tây y
nhưng bệnh ít thuyên giảm. Có người mách là bắt thằn lằn làm thịt cho cháu ăn. Xin bác sĩ cho
biết, thằn lằn có ăn được không, có tác dụng ra sao với bệnh hen suyễn? (Huỳnh Ngọc Đại - Đồng
Nai)
Trả lời:
Còn gọi là rắn mối.
Tên khoa học Mabuya sp.
Thuộc họ thằn lằn bóng Scincidae.
Mô tả con vật
Ở Việt Nam có ba loài thằn lằn bóng. Thằn lằn bóng hoa (Mabuya multifasciata), thằn lằn bóng
đuôi dài (Mabuya longiccaudata), thằn lằn bóng Sapa (Mabuya chapaense).
Thằn lằn bóng (thông thường nhân dân gọi là thằn lằn) có hình dáng giống cá cóc, nhưng thân
vững chắc, cổ rõ ràng, đuôi hình trụ thon dài. Chi dài và khỏe, đầu gối của chi sau không hướng
sang bên như cá cóc mà hướng về phía trước. Chi trước và chi sau đều có 5 ngón. Vỏ da thằn lằn
có vảy sừng, đầu có nhiều tấm vảy lớn đối xứng ghép sát nhau và thân có vảy nhỏ tròn xếp lên
nhau như vảy cá. Ngón có vuốt phát triển. Tuyến da chính thức thiếu làm da thằn lằn rất khô. Nhờ
màng phôi đặc biệt, thằn lằn sinh sống hoàn toàn ở cạn.
Thằn lằn bóng đuôi dài đẻ trứng có vỏ thấm calci và phát triển ở ngoài, còn thằn lằn bóng hoa và
thằn lằn bóng Sapa có trứng thiếu vỏ dai và phát triển trong cơ thể mẹ, cụ thể trong noãn quản cho
tới khi thành con. Đây là trường hợp đẻ trứng thai.
Thằn lằn giao phối vào mùa xuân và đẻ vào mùa hè. Thằn lằn bóng đẻ khoảng 6-8 trứng, (thằn lằn
bóng đuôi dài) hoặc 3-5 con (thằn lằn hoa và thằn lằn Sapa). Con mới đẻ dài khoảng 8cm kể cả
đuôi. Sau khi đẻ, thằn lằn mẹ còn chăm sóc con trong thời gian nhất định rồi mới để con tự lập.
Phân bố săn bắt và chế biến
Thằn lằn bóng hoạt động ban ngày, vào khoảng thời gian có nhiệt độ nhất định (từ 20-30oC).
Khoảng thời gian này thay đổi tùy theo mùa. Vào mùa hè thằn lằn ra kiếm ăn từ lúc mặt trời mọc
tới lúc mặt trời lặn, buổi trưa chui vào chỗ râm ở bụi cây để tránh nắng. Mùa đông thằn lằn trú
trong hang, chỉ ra vào những ngày nắng ấm và vào lúc nhiệt độ cao nhất trong ngày thường là
buổi trưa.
Khi nguy hiểm con vật chạy rất nhanh về nơi trú ẩn, tạm náu ở đó một thời gian rồi lặng lẽ bò trong
lớp cỏ hay trong cây đi nơi khác. Thằn lằn cũng dễ dàng tự cắt đuôi để chạy khi bị bắt và ở chỗ cắt
sẽ mọc đuôi mới. Đuôi có thể mọc lại vài lần.
Dựa vào đặc tính sinh hoạt của thằn lằn, người ta câu thằn lằn ở những nơi và vào những giờ
chúng hay đi lại.
Thằn lằn lột xác vào mùa hè, thường sau những cơn mưa và có thể lột xác ba bốn lần trong mùa.
Sau khi lột xác thằn lằn cũng ăn da như nhiều loại thằn lằn khác. Người ta chủ yếu bắt thằn lằn
sống về làm thịt ăn.
Thành phần hóa học
Chỉ mới biết trong thằn lằn có protit ăn được. Còn có chất gì chữa bệnh đặc biệt khác chưa rõ.
Công dụng và liều dùng
Nhân dân tại nhiều vùng bắt thằn lằn làm thịt cho những trẻ em bị hen suyễn, gầy, ít ăn. Mỗi ngày
ăn nửa hay một con tùy theo tuổi.
Chú ý: Nhân dân miền Bắc gọi con thằn lằn mô tả trên đây là thằn lằn hay rắn mối và gọi con vật
giống thằn lằn nhưng nhỏ hơn, sống trong nhà là con thạch sùng, nhưng ở một số tỉnh miền Nam
lại gọi con thằn lằn mô tả trên là con rắn mối, còn con thạch sùng sống trong nhà là con thằn lằn.
Cần chú ý tránh nhầm lẫn.
(Ngày 14/5/2004 - TC SK&ĐS)
Tại sao người có thai phải uống viên sắt và axit folic?
Hiện nay ở các trạm y tế xã nơi tôi ở khi đi khám thai ai cũng được khuyên uống viên sắt, có xã
còn phát thuốc cho về dùng không phải mua. Xin hỏi việc uống viên sắt và axit folic có phải bắt
buộc hay không và tại sao? Nguyễn Thị Cầm (Văn Giang - Hưng Yên)
Từ nhiều năm nay, ngành y tế đã khuyến cáo các bà mẹ có thai nên uống viên sắt và axit folic
trong suốt quá trình thai nghén và nhiều trạm y tế xã trong toàn quốc đã phát viên sắt và axit folic
cho các bà mẹ có thai để sử dụng không phải mua nếu như xã đó được một dự án về chăm sóc
bà mẹ khi có thai tài trợ.
Sắt là một yếu tố vi lượng rất cần thiết cho cơ thể mọi người vì nó là chất quan trọng tạo nên
hemoglobin, thành phần chính của hồng cầu (máu đỏ). Không đủ sắt, cơ thể con người sẽ bị thiếu
máu và từ đó ảnh hưởng nhiều đến chức năng của tất cả các cơ quan trong cơ thể. Nhu cầu sắt
hằng ngày tùy lứa tuổi có khác nhau: trẻ em dưới 1 tuổi là 10mg/ngày, trẻ từ 1-5 tuổi là 6-
7mg/ngày; phụ nữ tuổi sinh đẻ 24mg/ngày; phụ nữ có thai cần 30mg/ngày vì phải cung cấp cho
thai và dự trữ (ở cả mẹ và con) cho việc nuôi con sau khi sinh nở. Nhu cầu về sắt đối với phụ nữ
nói chung cao hơn đàn ông do họ phải mang thai, nuôi con nhỏ và ngay cả phụ nữ bình thường
cũng có nhu cầu sắt cao hơn vì thường xuyên bị mất một lượng máu nhất định qua các kỳ kinh
nguyệt.
Trên thế giới, tình trạng thiếu máu do thiếu sắt là khá phổ biến (1/3 dân số thế giới). Ở nước ta, số
liệu điều tra năm 2000 cho thấy 40% phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ và 53% phụ nữ có thai bị thiếu
máu do thiếu sắt.
Còn axit folic, đây là một loại vitamin nhóm B, có tên gọi khác là vitamin B9 hay vitamin Bc. Axit
folic có vai trò quan trọng tham gia quá trình tổng hợp axit amin, axit nucleic (nhân của tế bào), có
tác dụng đến sự trưởng thành và tái tạo của hồng cầu. Thực nghiệm trên súc vật cũng như việc
theo dõi ở người có thai bị thiếu axit folic đã cho thấy tỷ lệ các thai sinh ra bị dị tật ống thần kinh
tăng lên rõ rệt. Việc dùng axit folic được khuyên không những chỉ cho người đang mang thai mà
còn khuyên nên dùng thường xuyên cho mọi phụ nữ từ tuổi dậy thì trở đi. Nhu cầu axit folic ở phụ
nữ lúc bình thường là 200 microgam (mcg), khi có thai là 400mcg và khi nuôi con bú là 300mcg.
Chính vì những điều nói trên, người ta khuyên phụ nữ có thai nên nhất loạt dùng dự phòng viên
sắt và axit folic, điều này có lợi cho cả mẹ và con.
Hiện nay các hãng dược phẩm thường phối hợp hai chất sắt và axit folic vào cùng một viên thuốc,
trong đó chất sắt có hàm lượng 60mcg và axit folic có hàm lượng 400mcg mỗi viên. Liều dùng dự
phòng thiếu máu cho các bà mẹ đang có thai là mỗi ngày uống một viên, đều đặn trong suốt thời
kỳ thai nghén cho đến sau khi đẻ một tháng.
Liều 60mg sắt dùng mỗi ngày có cao quá không? So với nhu cầu của cơ thể thì đúng là cao (nhất
là khi chưa tính đến lượng sắt được cung cấp qua thực phẩm ăn hằng ngày) nhưng khi vào cơ thể
qua đường tiêu hóa không phải tất cả lượng sắt uống vào đều được hấp thu hết. Người ta đã thấy
sắt ở trong sữa mẹ được hấp thu tốt nhất, thứ đến là sắt trong thực phẩm có nguồn gốc động vật
(thịt, trứng, gan gia súc), sắt trong thức ăn thực vật hấp thu kém hơn và sắt do thuốc viên cung
cấp hấp thu cũng hạn chế. Vì thế liều 60mg sắt/ngày là đã được tính toán phù hợp, hơn nữa nếu
hấp thu có dư ra thì sắt sẽ được dự trữ ở cả cơ thể mẹ và thai để liên tục cung cấp cho cơ thể tạo
hồng cầu.
Uống viên sắt và axit folic thường có vị tanh ở miệng khi uống, giống như ngậm trong mồm cái
đinh sắt. Sau khi uống vài ba ngày, phân thường có màu đen và đi cầu thường bị táo nhưng có thể
xử trí đơn giản bằng cách uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh và các thức ăn có tính nhuận tràng
như khoai lang, đu đủ, chuối Nên chú ý là khi dùng viên sắt không nên uống nước chè vì chất
chát trong chè (ta-nanh) sẽ làm sắt kết tủa, cơ thể không hấp thu được nữa. Nếu có điều kiện nên
ăn thêm các hoa quả tươi có nhiều vitamin C hoặc uống thêm vitamin C thì khả năng hấp thu sắt
của cơ thể sẽ tăng lên.
BS. Phó Đức Nhuận
Cách phòng bệnh hen và cơn hen ở trẻ em
Số lượng trẻ em bị hen đã tăng vọt trên toàn cầu trong 10 năm gần đây. Để giảm nguy cơ mắc
bệnh, phòng chống cơn hen, nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như làm giảm sự lệ thuộc vào
thuốc men, chúng ta nên biết và thực hiện một số việc có thể làm được trong chăm sóc sức khỏe
cho các cháu bị hen suyễn.
Theo các nhà di truyền học, có rất nhiều gen hoặc nhóm gen có thể làm các cháu dễ mắc bệnh
hen hơn. Ở các trẻ em này, người ta thấy có sự lệch lạc trong việc hệ miễn dịch dùng các tế bào
có phản ứng tốt (TH1) – chủ yếu để bảo vệ cơ thể, bằng các tế bào cực đoan (TH2) gây ra dị ứng
và viêm. Mặc dù vậy, trẻ em có bị hen hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào môi trường sống.
Khác với người lớn, đại bộ phận trẻ em bị hen có biểu hiện dị ứng. Việc phòng chống dị ứng hoa
sẽ góp phần quan trọng vào phòng hen phế quản. Một bất ngờ nhất trong lĩnh vực này là phát hiện
của các nhóm nghiên cứu ở châu Âu cho thấy các cháu sớm bị các bệnh nhiễm trùng đường hô
hấp, các bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em, bệnh giun cũng như các cháu được tiếp xúc trực
tiếp với môi trường, thú vật, có tỷ lệ bị hen và các bệnh dị ứng ít hơn hẳn so với các cháu bị cô
lập. Điều này cho chúng ta thấy, việc cha mẹ quá sợ hãi các bệnh nhiễm trùng, và bắt các cháu
sống trong điều kiện quá vệ sinh, không gần gũi với môi trường sẽ gây mất thăng bằng cho hệ
miễn dịch và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng, hen và cả các bệnh tự miễn.
Để phòng hen, một số bác sĩ đã áp dụng phương pháp giải mẫn cảm đặc hiệu (Immunotherapy),
bằng cách làm cơ thể trẻ quen dần với các dị nguyên đã được xác định bằng phương pháp thử dị
ứng. Kết quả không ổn định và những biến chứng có thể xảy ra đã làm phương pháp này không
được chỉ định một cách rộng rãi.
Để giảm dị ứng hoa, chúng ta nên giảm tối đa việc sử dụng các chất hóa học trong cuộc sống như:
thuốc rửa, lau chùi, các thuốc chữa bệnh, các chất bảo quản thức ăn, phấn rôm, các loại xà phòng
và sampoo có mùi thơm sặc sụa Việc dùng estrogen trong thời kỳ tiền và mãn kinh hoặc các
thuốc ngừa thai đã làm tăng số lượng phụ nữ bị suyễn và các bệnh dị ứng khác. Một công trình
được đăng tại tạp chí Dị ứng và miễn dịch mới đây còn cho thấy tỷ lệ trẻ em bị suyễn tăng lên một
cách đáng kể nếu mẹ của chúng dùng các loại thuốc ngừa thai trước khi có mang. Nhóm thuốc
chẹn beta dùng trong bệnh tim mạch, cao huyết áp và đôi khi cả trong điều trị nhức đầu, aspirin và
các thuốc cùng nhóm và nhiều dược phẩm khác có thể làm cho hen nặng lên. Nhóm kháng ACE
để điều trị cao huyết áp, suy tim và các biến chứng của bệnh tiểu đường có thể gây ra tình trạng
ho như suyễn. Các bà mẹ đang cho con bú cần phải tránh dùng các thuốc kể trên.
Về mặt dinh dưỡng: cho trẻ ăn sữa mẹ đã được chứng minh lặp đi lặp lại là có tác dụng tốt để
phòng mọi bệnh tật cho trẻ em, đáng kể nhất là các bệnh dị ứng trong đó có hen. Không cho các
cháu ăn sớm trứng, sữa bò, cam, quýt, kẹo bánh nhất là các loại có các chất hóa học để tăng mùi
thơm trong gia đình có biểu hiện di truyền về dị ứng. Theo một số nghiên cứu tại Anh, việc không
đưa muối ăn vào bữa ăn của trẻ sớm và hạn chế dùng muối đã làm giảm các cơn hen cũng như
số lượng thuốc men phải dùng để điều trị.
Các khoáng chất như selen, magnesium và canxi (có nhiều trong nước khoáng thiên nhiên, rau,
quả, hạt tươi) được cho là có tác dụng tốt trong việc làm giảm cơn hen cũng như bệnh hen. Nên
cho các cháu có thói quen ăn hoa quả và rau tươi (có nhiều chất anti-oxidants như vitamin C, E,
lycopene) sẽ có lợi về nhiều mặt trong đó có phòng và chữa hen. Trong những năm gần đây, các
nghiên cứu về dinh dưỡng đã cho thấy rất rõ ràng, một chế độ ăn nhiều cá, dùng dầu cá có nhiều
axit béo Omega-3 và không no đơn tính đã làm giảm bớt các phản ứng viêm và có tác dụng tích
cực trong việc phòng và chữa hen phế quản. Dầu của hạt hướng dương, ngô và một số hạt khác
cũng như mỡ nhân tạo có nhiều axit béo Omega-6 và không no đa tính có thể làm tăng các phản
ứng viêm và cần phải loại bỏ cho bệnh nhân hen. Một nghiên cứu gần đây nhất ở Mỹ: Việc dùng
bừa bãi hoặc quá liều các vitamin tổng hợp, nhất là nhóm B đã làm tăng dị ứng hoa và hen ở trẻ
em.
Tìm ra và cách ly trẻ với các dị nguyên gây hen như bụi bặm (bụi nhà, sách, bụi do côn trùng),
phấn hoa, các dị nguyên trong thức ăn, môi trường, lông súc vật, các chất gây kích thích là việc
cần làm. Khi nhà có trẻ bị hen, việc tránh hút thuốc lá, đun nấu tạo mùi, dùng bếp than, lò sưởi loại
đốt (cả bằng điện) sẽ rất có hại. Các cháu bị hen cũng không nên bơi ở các bể bơi công cộng vì
chất chlorine để làm sạch nước có thể gây kích thích và dẫn đến cơn hen bất ngờ. Chúng ta cũng
cần khử chlorine trong nước tắm và nước uống bằng cách đun hoặc dùng nước giếng cũng sẽ
giúp trẻ em rất nhiều trong phòng và chống dị ứng. Trẻ bị hen không nên dùng phấn bảng, và
không nên tiếp xúc với bất kể hóa chất gì kể cả xà phòng bột, phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc
diệt côn trùng, các sản phẩm xăng dầu
Chúng ta đều biết việc tạo một cuộc sống tinh thần bớt căng thẳng, giảm các cảm giác tức giận,
sợ hãi, buồn nản sẽ có tác dụng rất tốt cho bệnh hen và hầu hết các bệnh mạn tính khác. Tiếp
xúc, vui chơi với bạn bè, mô tả bằng cách viết ra hoặc kể lại những cảm giác, và lo âu của mình về
bệnh hen đã được công nhận là có tác dụng điều trị rất tốt. Một thái độ bình tĩnh, động viên, không
hoảng loạn, ồn ào khi thấy bệnh nhân lên cơn hen sẽ rất có lợi cho trẻ. Không cho các cháu có các
hoạt động thể lực đột ngột, quá sức, hoặc tiếp xúc với không khí lạnh có thể giúp phòng cơn hen ở
một số trẻ bị hen.
TS. Hoàng Xuân Ba (Viện nghiên cứu về dị ứng California)
(Ngày 1/8/2005 - Báo SK&ĐS) Bổ sung DHA bằng cách nào?
DHA là acid béo không no cần thiết, có tên gọi đầy đủ là DocosaHexaenoicAcid, một acid béo
thuộc nhóm acid béo omega-3 (acid béo không no có 22 carbon, 6 nối đôi, nối đôi đầu tiên ở vị trí
carbon số 3). Ngoài acid béo thuộc nhóm omega-3, còn phải kể đến acid béo không no omega-6
(arachidonic acid - AA, 20 carbon, 4 nối đôi, nối đôi đầu tiên ở vị trí carbon thứ 6). Những acid béo
không no cần thiết này cơ thể chúng ta không tự tổng hợp được mà phải đưa vào cơ thể từ nguồn
thực phẩm.
Nhu cầu của acid béo không no cần thiết
Theo khuyến cáo của WHO (1990), tổng số chất béo trong khẩu phần nên từ 15-30% năng lượng,
trong đó chất béo không no có nhiều nối đôi - PUFA (omega-3, omega-6) nên có từ 3-7% tổng
năng lượng; khoảng 0,6-0,8g/kg thể trọng/ngày (tối đa 1,5g/kg thể trọng/ngày). Trong đó acid béo
omega-6 (linoleic acid); 40-60mg/kg thể trọng/ngày; tổng số acid béo nhóm omega-3: 50-
150mg/kg/ngày, trong đó DHA nên 35-75mg/ngày. Tỷ số DHA:AA nên từ 1:1 tới 1:2 là thích hợp.
Vai trò của DHA
Cần thiết cho phát triển hoàn thiện chức năng nhìn của mắt.
Cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo hệ thần kinh. Nghiên cứu trên động vật thí nghiệm thấy DHA
có nồng độ cao trong tổ chức thần kinh như võng mạc mắt, tổ chức não.
Ở người trưởng thành chúng có tác dụng giảm cholesterol toàn phần, và triglyceride máu, LDL-
cholesterol (cholesterol xấu) giúp dự phòng vữa xơ động mạch, bệnh nhồi máu cơ tim.
Nếu thiếu DHA trong quá trình phát triển trẻ sẽ có chỉ số thông minh IQ thấp: Nghiên cứu theo dõi
tới khi trẻ 8-9 tuổi người ta thấy trẻ được bú sữa mẹ, và chế độ ăn đủ DHA có chỉ số IQ cao hơn
8,3 điểm và giảm thấp hơn có ý nghĩa tỷ lệ chậm phát triển hệ thần kinh.
Bổ sung DHA bằng cách nào?
Với thai nhi: Chế độ ăn trước và trong khi có thai rất quan trọng đối với tình trạng dự trữ các acid
béo không no cần thiết (EFAs) cho thai nhi. Đặc biệt trong 3 tháng cuối, trung bình 1 ngày thai nhi
cần 2,2g EFAs/ngày, và cần cho sự phát triển hệ thần kinh và mạch máu.
Các trẻ đẻ non và sơ sinh bình thường đòi hỏi phải cung cấp đủ DHA bởi chúng không có khả
năng chuyển tiền tố DHA từ dầu thực vật, hay các thức ăn thay thế sữa mẹ khác sang DHA. Sữa
mẹ cung cấp đủ EFAs cho trẻ, vì vậy việc cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và cho bú kéo dài
tới 24 tháng là rất quan trọng. Trong sữa mẹ từ 40-45 ngày sau khi sinh DHA chiếm 0,3%, AA:
0,4% và DPA: 0,2%.
DHA có nhiều trong dầu cá, cá và thủy sản DHA, cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo võng mạc
mắt và não bộ trẻ em. Việc ăn cá, thủy sản thường xuyên sẽ cung cấp cho cơ thể đủ DHA.
Nhóm acid béo omega-3 còn có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh tim mạch, đột quỵ và
giảm viêm khớp.
Quan sát dịch tễ học cho thấy những vùng dân cư, những nước tiêu thụ dầu thì tỷ lệ tử vong do
bệnh tim giảm. Alpha - linolenic acid có vai trò đặc biệt trong giảm tỷ lệ mắc bệnh tim mạch. Những
người thường xuyên ăn dầu thực vật giàu alpha-linolenic acid ít có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và
đột quỵ so với những người có chế độ ăn ít các acid béo này.
TS. Nguyễn Thị Lâm (Viện dinh dưỡng)
(Ngày 28/7/2005 - Báo SK&ĐS) Ngoáy tai lợi hay hại?
Không ít người có thói quen ngoáy tai hằng ngày. Tuy nhiên ngoáy tai thường xuyên chắc chắn sẽ
trở thành thói quen có hại nhiều hơn có lợi!
Cấu trúc của ống tai: đi từ lỗ tai đến màng nhĩ có chiều dài khoảng 25mm (ở người lớn) và gồm
hai phần.
- Phía ngoài là ống tai sụn (thành ống được cấu tạo bằng sụn), dài khoảng 8 – 9mm. Da phủ ở
phần ống tai này dày, có lông và có các tuyến nhày trong phần bì và các tuyến ráy trong phần tổ
chức dưới da. Sản phẩm tiết ra từ các tuyến này tạo thành một chất xi màu vàng nhạt hoặc sẫm
rất quánh, có độ pH axit cao nên có tác dụng bảo vệ lớp biểu bì của ống tai. Thật là sai lầm nếu
xem ráy tai như một chất bẩn cần phải lấy bỏ cho tai được “sạch”! Ngược lại, ráy tai cùng với lông
của phần ống tai sụn, tạo nên một rào chắn hết sức hiệu quả để ngăn chặn bụi bặm và các côn
trùng nhỏ, không cho đột nhập sâu vào trong ống tai!
- Phía trong là ống tai xương (thành ống được cấu tạo bằng xương), dài khoảng 15 – 16mm. Da
phủ ở phần ống tai xương nhẵn, khô, dính rất chặt vào màng xương phía dưới nên không có lông
cũng như không có các tuyến.
Nếu cần lau sạch bụi bặm tích tụ ở ống tai, khi ngoáy tai chỉ cần giới hạn chiều sâu ở phạm vi ống
tai sụn, đồng thời bảo đảm tránh mọi đụng chạm vô ý vào màng nhĩ ở sâu bên trong! Mặt khác
không nhất thiết phải lau sạch hết chất ráy tai (vì lợi ích của nó như đã nói trên). Những người có
thói quen hằng ngày lau quá kỹ, đặc biệt còn sử dụng chấm các thuốc sát khuẩn mạnh để ngoáy
tai, vô tình dẫn đến làm tổn thương lớp biểu bì của da ống tai, gây ra một dạng viêm da mạn tính
ống tai, với các triệu chứng:
+ Ngứa, đòi hỏi ngoáy tai thường xuyên và tạo ra cái vòng luẩn quẩn!
+ Tạo ra các sản phẩm bệnh lý bất thường, như: nút biểu bì (gồm nhiều lớp da đồng tâm bị bong
ra rồi cuộn lại), nút ráy (gồm sản phẩm tiết của các tuyến nhày, tuyến ráy cộng thêm các yếu tố
viêm kết dính lại) làm bịt kín khẩu độ của ống tai, gây điếc và ù tai, bắt buộc thầy thuốc tai - mũi -
họng phải can thiệp lấy ra. Trong những trường hợp này, ngoáy tai bằng que bông chỉ làm đẩy sâu
vào gây khó khăn thêm cho thầy thuốc khi phải can thiệp!
Tóm lại, chỉ nên lau tai mỗi khi có triệu chứng ngứa trong tai và trong hoàn cảnh phải tiếp xúc
nhiều với môi trường bụi. Khi lau bằng que bông, chỉ giới hạn lau ở độ sâu không quá 1cm (phần
ống tai sụn) là nơi bụi bặm được tích tụ lại nhờ rào chắn của lông ống tai và các chất tiết.
Mỗi khi thấy xuất hiện các triệu chứng: ngứa, rát nhiều trong tai, nghe kém bất thường, ù tai v.v
cần phải khám thầy thuốc chuyên khoa tai - mũi - họng.
GS. Phạm Kim
(Ngày 27/7/2005 - Báo SK&ĐS) Thuốc cho người bị hen suyễn
Hen suyễn là tình trạng viêm mạn tính và tăng tiết dịch của đường hô hấp với những cơn hen cấp
tái diễn, các cơn hen này diễn biến bất thường. Khi cơn hen qua đi, người bệnh đa phần cảm thấy
bình thường, nhưng thật ra quá trình viêm vẫn âm ỉ tiếp diễn, mà hậu quả đáng ngại nhất là
thường xuyên gây ra những cơn hen cấp và tắc nghẽn không hồi phục làm tàn phế hô hấp.
Nguyên tắc sử dụng thuốc
Mục tiêu dùng thuốc là phải kiểm soát và quản lý được bệnh, bằng cách sử dụng thuốc mạnh và
thích hợp hơn cho tới khi đạt yêu cầu. Trước mỗi lần định tăng liều thuốc, tăng lực tấn công bác sĩ
phải nắm chắc người bệnh đã theo đúng y lệnh chưa và kỹ thuật bơm xịt thuốc có đúng không.
Khi đã quản lý được bệnh, cần giữ cách điều trị như thế trong ba tháng, rồi hạ dần từng mức đến
khi thuốc được sử dụng ở mức thấp nhất và gây triệu chứng khó chịu, bực bội cho người bệnh ở
mức tối thiểu.
Thuốc nên dùng
- Thuốc cắt cơn hen (Hen suyễn từng cơn):
Là thuốc thuộc nhóm cường giao cảm beta 2, tác dụng nhanh, dạng hít (RAIBA = Rapid Acting
Inhaled Beta 2 Agonist), là thuốc hàng đầu, vì thuốc có tác dụng khởi phát nhanh nhất (3-5 phút),
kéo dài trong 4-6 giờ, ít tác dụng phụ nhất, so với các dạng thuốc uống hoặc tiêm. Ví dụ như
Salbutamol (Ventolin), nhất là dạng hít định liều MDT (Meter Dose Inhaler) rất nhỏ gọn, tiện dụng,
có thể mang luôn theo bên mình như bửu bối phòng thân; Với trẻ dưới 5 tuổi, có thể gắn dụng cụ
MTD này vào máy hít của trẻ (Baby haler) có mặt nạ mềm và hệ thống van giúp cho bé dễ dàng
hít.
Trong trường hợp hen suyễn xảy ra, có thể xịt phòng ngừa 20 phút trước khi vận động nặng.
- Thuốc kiểm soát hen (Hen suyễn dai dẳng):
Hen suyễn dai dẳng cần phải chữa trị chủ yếu hàng ngày, nên cần giải thích cho bệnh nhân hiểu là
dù không thấy triệu chứng gì về hô hấp cũng vẫn phải xịt thuốc để ngừa bệnh, chứ không phải chờ
đến khi lên cơn rồi mới trị. Cũng cho bệnh nhân biết là hen suyễn là một bệnh viêm mạn tính và
thuốc Corticoid xịt là thuốc duy nhất để chữa trị và thuốc này không giúp giải quyết tức thời cơn
khó thở, mà cần phải có thuốc giống Beta 2, giãn phế quản (Ventolin).
+ Thuốc Corticoid dạng hít (ICS = Inhaled Cortico / Steroide
Như Beclomethasone (Becotide), Budesonide, Fluticasone… là thuốc hàng đầu cho bệnh hen
ngày từ 2-6 lần/tuần, hoặc có triệu chứng ban đêm 3-4 lần/tháng.
Nếu không quản lý được bệnh, không nên tăng liều mà phối hợp thêm một thuốc giống Beta 2,
dạng xịt, có hiệu năng (12giờ) như Formoteol (Foradil) hoặc Salmeterol (Serevent), hoặc
Fluticason (Flitotide, Seretide). Hoặc uống mỗi ngày 1 viên Bambuterol (Oxeol) hay uống kháng
Leucotrien (Singulair) kèm thêm.
+ Thuốc Corticoid dạng hít phối hợp với thuốc cường giao cảm Beta 2 Agonist) có tác dụng chậm:
Thuốc cường giao cảm Beta 2, dạng hít, tác dụng chậm (LAIBA) là thuốc hàng đầu cho bệnh hen
bậc 3, có triệu chứng thường xuyên hàng ngày, hoặc triệu chứng ban đêm, từ 2-6 lần/tuần và
bệnh hen bậc 4 có triệu chứng liên tục cả ngày lẫn đêm.
Phổ biến nhất là Fluticasone, Salmeterol vì có tác dụng hiệp đồng trên kiểm soát hen, cải thiện
chức năng phổi, đạt hiệu quả sớm, giúp giảm nhu cầu dùng thuốc cắt cơn. Hiện đang có xu hướng
dùng cho cả hen bậc 2.
Liều dùng tăng hay giảm phải theo nguyên tắc đã nói ở trên, chỉ khi nào kiểm soát hen ổn định liên
tục trong 3 tháng mới được giảm liều. Dù bệnh ổn định trong thời gian dài cũng không bao giờ
quên mang theo thuốc cắt cơn vì cơn hen cấp có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và đe dọa sinh mạng.
Thuốc tránh dùng
- Các thuốc làm nặng thêm tình trạng hen:
Thường là phản chỉ định của các thuốc điều trị bệnh khác, do sơ ý không chú ý đến các phản chỉ
định này, hoặc không hỏi kỹ tiền căn hen như Propanolol, Metoprolol, Atenolol… dùng để điều trị
cao huyết áp, như Aspirin, như kháng viêm không Steroid (Piroxicam, Meloxicam…) thường dùng
để giảm đau, hạ sốt, kháng viêm như Acetylcystein dùng trị ho có đờm khò khè của trẻ em, nên đã
ảnh hưởng làm nặng thêm tình trạng hen.
- Các thuốc trị hen không phải dạng hít:
+ Triamcinolone dạng tiêm (kenacort, Kcort…) gây tác dụng phụ rất nặng, các chuyên gia đã bỏ
hẳn từ năm 1988, không dùng đến nữa, chỉ dùng dạng hít.
+ Corticoid tiêm hoặc uống: Chỉ nên dùng ngắn hạn từ 3-10 ngày trong cơn hen cấp, vì dùng lâu
ngày gây loãng xương, cao huyết áp, đái tháo đường, đục thủy tinh thể, béo phì, ức chế thượng
thận, yếu cơ.
+ Viên uống phóng thích chậm chứa Sabutamol (Volmax) LAOBA = Long Acting Oral Beta 2
Agonist):
Gây kích thích tim mạch, lo lắng, ợ chua, rung cơ, nhức đầu, hạ kali máu. Chỉ dùng phối hợp trong
hen bậc 3, bậc 4 với các thuốc khác.
+ Theophyllin-Aminophyllin: Liều gây độc, gây co giật, loạn nhịp tim, rất gần với liều điều trị. Dạng
tiêm tĩnh mạch cần thận trọng chỉ dùng trong cơn hen nặng cấp cứu, không đáp ứng được với
RAIBA, Oxygen, Corticoid tiêm, RABA tiêm. Dạng viên uống phóng thích chậm (Sustained
Realeased) thường gây buồn nôn, nôn mửa, chủ yếu dùng phối hợp với các thuốc khác trong hen
bậc 3, bậc 4.
+ Leucotriene Modifier: Vai trò của kháng leucotriene trong điều trị hen chưa chắc chắn và so với
LAIBA thì kém hiệu quả trong tác dụng hiệp đồng với ICS, chủ yếu dùng phối hợp với các thuốc
khác trong hen bậc 3, bậc 4.
+ Thuốc cường giao cảm, tác dụng nhanh dạng tiêm, dạng uống (RABA): Dễ gây rung cơ, nhức
đầu, tim đập nhanh, kích thích thần kinh. Dạng tiêm chỉ dùng thận trọng trong cơn hen nặng, cấp
cứu. Dạng uống chỉ dùng khi không có dạng hít.
+ Adrenalin: Cũng gây rung cơ, nhức đầu, tim đập nhanh, kích thích thần kinh, kèm thêm co giật,
lạnh run, sốt và ảo giác. Không bao giời dùng, trừ khi cấp cứu mà không có RABA.
DS. PHAN QUỐC ĐỐNG
Những thói quen ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản
Mỗi người đều có lối sống, thói quen và sở thích riêng rất khác nhau. Đôi khi lối sống và thói quen
này lại ảnh hưởng trên một số vấn đề về sức khỏe, đặt biệt là sức khỏe sinh sản.
Thói quen là những hành vi định hình trong cuộc sống, bắt nguồn từ một nguyên nhân đôi khi rất
tình cờ hay do bị lôi kéo từ một cá thể khác như thói quen hút thuốc, uống rượu , và tùy loại mà
thói quen ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG
Một chế độ ăn uống thích hợp giúp tăng cường cho việc sản xuất tinh trùng nên có đầy đủ ngũ cốc
ít chế biến (gạo lức, bắp, khoai đủ loại), rau, trái cây có màu sắc tự nhiên (xanh - đỏ - tím - vàng),
giàu chất xơ, vitamin C, vitamin nhóm B, vitamin E. Các thức ăn động vật như cá, thủy hải sản và
chất béo cần được cung cấp ở mức độ vừa phải, dưới 30% tổng số Calo và phải có sự cân đối
giữa các chất acid béo no và không no,
Chế độ tiết thực giàu đậu nành
Đậu nành chứa 8% nước, 5% chất vô cơ, 15-25% glucose, 15-20% chất béo, 35-45% chất protein
với đủ các loại amino acid cần thiết, các loại sinh tố và khoáng chất. 100g đậu nành cung cấp
411calo, 34g protein, 18g béo, 165mg calcium, 11mg sắt. Protein của đậu nành rất tốt để thay thế
cho protein động vật vì có ít mỡ và cholesterol; Trong đậu nành có một hóa chất tương tự như kích
thích tố nữ estrogen, đó là chất isoflavones. Chất đạm của đậu nành làm hạ thấp cholesterol, một
chế độ dinh dưỡng có nhiều đậu nành sẽ làm cholesterol giảm đi 12%, LDL giảm 13%. Sản phẩm
từ đậu nành gồm sữa, đậu phụ, tương Đậu nành cũng dùng để chế biến thức ăn cho người bị
bệnh thấp khớp, bệnh gout, người mới khỏi bệnh, người lao động quá sức, làm sữa uống cho trẻ
em.
Đậu nành là một thực phẩm tuyệt hảo tuy nhiên cũng có trường hợp nên tránh dùng như những
người hiếm muộn. Các chuyên gia về sức khỏe sinh sản của Anh khuyên phụ nữ chuẩn bị có thai
không nên ăn nhiều thức ăn chế biến từ đậu nành. Các nhà khoa học đã phát hiện một hợp chất
trong đậu nành có tên là genistein có tác dụng tiêu diệt tinh trùng trước khi chúng kịp kết hợp với
trứng. Nữ giáo sư Lynn Fraser, thuộc trường King’s College London, cho biết chỉ cần một lượng
nhỏ chất này cũng đủ để tiêu diệt các tinh trùng. Nếu chất genistein xuất hiện trong tử cung của
phụ nữ thì tinh trùng sẽ bị làm suy yếu trước khi chúng kịp thụ tinh với trứng. Ngoài ra một số hợp
chất tương tự như genistein ở một vài sản phẩm làm từ cây hublông và bia cũng gây ảnh hưởng
tới tinh trùng với phương thức tương tự.
Trong khi đó, một protein khác có trong tinh dịch lại có tác dụng ngược lại là làm cho tinh trùng có
khả năng kết dính với trứng giúp cho việc thụ thai nhanh hơn đó là protein SED1.
Protein SED1
Khi nghiên cứu trên chuột, các chuyên gia phát hiện rằng tinh trùng không có protein SED1 không
có khả năng liên kết với trứng. Họ cũng thấy rằng ở những con chuột không có SED1, khả năng
sinh sản của chúng giảm nghiêm trọng, ngay cả khi tinh trùng của chúng hoàn toàn bình thường.
Những điều các nhà khoa học tại Đại học Emory tìm ra có thể cung cấp manh mối tìm hiểu về
những gì ẩn sau một số trường hợp vô sinh ở đàn ông. Một trong những yếu tố khiến cơ may làm
bố của một người đàn ông khó có thể đạt được là khi giao hợp, chất lượng tinh trùng không đảm
bảo và khả năng “bơi lội” của tinh trùng kém, dẫn đến việc chúng không đủ sức “đi đến nơi cần
thiết”, và như vậy không thể nào gặp được hoặc không còn đủ khả năng đâm thủng màng trứng
để thụ tinh.
Chế độ tiết thực giàu vitamin
Chế độ tiết thực giàu vitamin đặc biệt là vitamin E, có tác dụng tốt đến việc sinh sản tinh trùng. Thí
nghiệm trên động vật cho ăn khẩu phần không có vitamin E người ta thấy tinh hoàn nhỏ lại, giảm
hoạt động sinh dục. Vitamin E làm tăng khả năng tái sinh của ống sinh tinh, làm tăng số lượng tinh
trùng. Với phụ nữ, vitamin E cũng có tác dụng tốt cho hoạt động buồng trứng và sự phát triển vú.
Ngoài vitamin E, vitamin C có tác dụng giúp cho tinh dịch không bị dính kết với nhau. Các loại
vitamin A, vitamin nhóm B, nhất là vitamin B12 có tác dụng tốt đối với tế bào sinh dục.
Các yếu tố vi lượng cũng cần thiết cho sự sinh tinh đã được xác định trong đó phải kể đến kẽm và
mangan. Nồng độ kẽm trong tinh dịch có liên quan trực tiếp đến độ di động của tinh trùng và nếu
chế độ ăn thiếu kẽm có thể làm giảm cả về số lượng tinh trùng lẫn thể tích tinh dịch.
Trà: Trà, chè tươi hay cà phê làm tăng tỷ lệ tinh trùng hoạt động và tăng tuổi thọ bởi chất cafein.
Chè cũng là thực phẩm có chứa nhiều mangan nên thói quen uống trà sẽ có lợi cho những người
hiếm muộn.
CÁC THÓI QUEN CẦN TRÁNH
Rượu: Uống rượu nhiều, ảnh hưởng lớn đến tinh trùng. Các nghiên cứu cho thấy rằng tác hại của
rượu đối với tinh trùng có thể phục hồi chỉ một phần sau khi ngưng rượu một thời gian.
Thuốc lá: Khói thuốc lá là hỗn hợp có khoảng 500 thành phần khác nhau, chứa tới hơn 4.000 hóa
chất, trong đó có nhiều chất độc hại. Người đầu tiên đề cập đến ảnh hưởng của thuốc lá trong thai
kỳ là nhà khoa học Mỹ Simpson. Theo đó, việc người mẹ hút thuốc có thể khiến thai chậm phát
triển trong tử cung, sinh non tháng, tử vong chu sinh và lâu dài, chậm phát triển tinh thần… Khói
thuốc khi vào cơ thể sẽ tạo thành carboxyhemoglobin khử, theo tuần hoàn máu của mẹ rồi qua
nhau thai một cách dễ dàng. Lượng máu đi qua nhau thai rất lớn (10-12 ml/100g thể trọng trong 1
phút) sẽ kích thích thần kinh giao cảm làm co thắt các huyết quản tử cung - nhau và khiến thai bị
nhiễm toan. Hậu quả là thai nhi thiếu HbO2 nhưng dư thừa HbO và nicotine. Hút thuốc thường gây
một số trục trặc về sức khỏe ở phụ nữ như mãn kinh sớm, thai lạc chỗ, sảy thai, thai chết lưu và
ung thư cổ tử cung.
Y phục: Nhiệt độ thích hợp để tinh hoàn sản xuất tinh trùng từ 35,5oC đến 36oC, nghĩa là thấp
hơn nhiệt độ cơ bản. Để tạo ra môi trường nhiệt độ thích hợp, cơ thể tự điều chỉnh bằng cách vào
lúc nhiệt độ bên ngoài cao thì da bìu giãn nở ra để bìu thõng xuống, tỏa nhiệt được nhiều hơn;
ngược lại lúc lạnh da bìu săn lại do các cơ co rút kéo tinh hoàn lên cao sát với ổ bụng để sưởi ấm
cho nó. Do đó, thói quen tắm nước quá nóng, nhất là ngâm mình lâu trong bồn tắm nước nóng là
điều làm giảm khả năng sản xuất tinh trùng. Ngoài ra, cũng không nên mặc quần lót quá chật hay
quần lót chế tạo bằng ny lông.
Thuốc: Thuốc men cũng có ảnh hưởng trên khả năng sinh sản và tình dục. Thuốc chữa cao huyết
áp, một số loại kháng sinh, thuốc dùng trong điều trị các bệnh thấp khớp, nhiễm nấm, viêm loét
ruột kết, động kinh… đều có ảnh hưởng đến số lượng cũng như chất lượng tinh trùng và có khả
năng gây nên tình trạng vô sinh.
TẠO MÔI TRƯỜNG SỐNG THÍCH HỢP
Thói quen để điện thoại di động trong túi quần trước cũng làm cho lượng tinh trùng sản xuất ra ít
hơn, do tác động của sóng vô tuyến.
Ngồi lâu một chỗ cũng có tác hại như trên vào tinh hoàn.
Xây dựng thói quen tập thể dục và dinh dưỡng theo chế độ tiết thực hợp lý để tránh béo phì vì béo
phì là nguyên nhân gây nhiều bất lợi trong hoạt dộng tình dục và sinh sản.
Thói quen đi xe đạp liên tục mỗi ngày nhiều giờ và kéo dài hàng tháng cũng sẽ có ảnh hưởng đến
số lượng tinh trùng. Nghiên cứu ở những vận động viên đua xe đạp trong thời gian luyện tập trước
khi thi đấu người ta thấy số lượng và chất lượng tinh trùng của họ đều giảm so với thời gian trước.
Điều này có thể giải thích là do tinh hoàn thường xuyên bị sức nén và cọ sát nên bị sung huyết làm
nhiệt độ vùng bìu luôn luôn ở mức cao.
Thói quen dùng các chất bôi trơn khi giao hợp có ảnh hưởng không tốt cho việc di chuyển của tinh
trùng.
Tiết chế tình dục trong thời gian lâu hoặc tiếp xúc lâu với các kim loại như chì, sắt, acide, tiếng
ồn từ trường, sóng điện từ, tia X…. có thể làm tinh trùng suy yếu, mất khả năng hoạt động và di
chuyển, thậm chí là làm ngưng việc sản xuất tinh dịch. Chất polycarbonate thường dùng làm bình
sữa, chai nước, màng phủ epoxy trong đồ hộp tiết ra hợp chất bis phenol-A có khả năng gây vô
sinh.
Môi trường, lối sống và thói quen không những tác động toàn diện lên sức khỏe mà còn ảnh
hưởng tới khả năng sinh sản và các hoạt dộng tình dục khác nữa.
BS. HỒ ĐẮC DUY
(Ngày 18/7/2005 - TC SK&ĐS) Cách khắc phục mệt mỏi
Mệt mỏi là gì?
Sau một thời gian làm việc, năng lực hoạt động của cơ thể tạm thời bị giảm sút. Hiện tượng đó gọi
là mỏi mệt. Biểu hiện dễ thấy nhất là mắt thâm quầng, khuôn mặt đờ đẫn.
Nguyên nhân
Nguyên nhân sinh mệt mỏi tùy thuộc vào những hoạt động khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là do hệ
thống thần kinh trung ương, bộ phận chỉ huy bị mệt mỏi trước tiên. Ngoài ra còn có những nguyên
nhân khác như:
- Thiếu oxy do làm việc nặng mà không kịp thở hoặc làm việc nơi không thoáng khí.
- Thiếu chất bồi dưỡng do làm việc lâu, cơ thể bị đói gây hạ đường huyết. Bình thường, nồng độ
đường trong máu (đường huyết) từ 80-100mg%. Khi nồng độ đường trong máu tụt xuống dưới
50mg% thì cơ thể sẽ mệt mỏi và có khi dẫn đến hôn mê.
- Có nhiều chất độc tích lũy trong cơ thể do phổi hoạt động kém, khí carbonic ứ đọng không được
thải bỏ kịp thời.
- Nhiệt độ cơ thể tăng: Khi làm việc ở nơi nhiệt độ cao, ngoài nắng cũng có thể gây mệt mỏi.
- Cơ thể bị mất nước: Khi cơ thể bị mất nước sẽ làm giảm thể tích máu, đưa đến cảm giác mệt
mỏi.
- Stress: Thần kinh căng thẳng khiến chúng ta nín hơi, làm giảm lượng oxy đến tim sẽ nhanh
chóng gây cảm giác kiệt sức.
- Các vấn đề về mắt: Các bệnh mắt cũng có thể là căn nguyên gây mệt mỏi mãn tính.
Cách khắc phục

Xem chi tiết: cac bai thuốc


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét