Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH

Lời mở đầu
Mục tiêu của bất kỳ nền kinh tế nào cũng đều hướng tới sự phát triển.
Trong ba tiêu thức đánh giá sự phát triển, cơ cấu kinh tế được coi là tiêu thức
để đánh giá sự thay đổi về chất, là dấu hiệu để đánh giá, so sánh các giai đoạn
phát triển của một nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế biểu hiện dưới nhiều dạng khác
nhau: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế…
Trong đó cơ cấu ngành kinh tế là dạng quan trọng nhất, nó phản ánh trực tiếp
sự phát triển của LLSX, của khoa học kỹ thuật và của phân công lao động xã
hội. Sự chuyển dịchcơ cấu ngành phản ánh xu thế công nghiệp hoá (CNH) và
là dấu hiệu phản ánh chất lượng của quá trình phát triển, là nội dung quan
trọng nhất của phát triển kinh tế. Nó là vấn đề cơ bản cốt lõi, là nội dung quan
trọng của tiến trình CNH- HĐH của bất kỳ một quốc gia nào không muốn
đứng trong danh sách các nước nghèo nhất thế giới.
Trong xu hướng vận động chung đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH-HĐH là con đường đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là
hướng đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc
hậu, chậm phát triển để trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Nghị quết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã xác định: "Thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH" và coi "đây là nhiệm vụ
trọng tâm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới","CNH- HĐH là con đường
thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới".
Đặc biệt trong nền kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển.
Việt Nam sắp trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới thì việc
lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành hợp lý sẽ thể hiện được các lợi
thế tương đối và khả năng cạnh tranh khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, là
cơ sở cho Việt Nam chủ động hội nhập thắng lợi.
Với mong muốn được nghiên cứu sâu hơn tình hình chuyển dịch cơ cấu
ngành của Việt Nam trong quá trình đổi mới. Tìm hiểu những kết quả đạt
được và những vấn đề đặt ra hiện nay.
1
Phần I: Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong thời kỳ công nghiệp hoá.
Phần II: Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam trong quá
trình đổi mới.
Phần III: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
2
Phần I:
Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế trong thời kỳ CNH
I. Khái niệm
1.1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế
Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng
dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống
nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi
chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như
là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng sự vật, hiện tượng. Như
vậy có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể
và các hệ thống (Từ điển Triết học, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1975, tr 269-270).
Cũng như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống
phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ quan hợp thành
chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Đặc biệt
sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự
thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Vì vậy,
có thể thấy rằng cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ
về mặt chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành trong thời gian và
trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Cơ cấu kinh tế biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau cơ cấu các quan hệ
sản xuất, cơ cấu tái sản xuất xã hội, cơ cấu tổ chức - quản lý nền kinh tế quốc
dân, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành… Trong đó
cơ cấu ngành là dạng quan trọng nhất, phản ánh trực tiếp sự phát triển của LLSX
của KH-KT và sự phân công lao động xã hội.
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,
thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại về số lượng và chất lượng
giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định luôn vận động và hướng vào những mục tiêu
3
cụ thể. Hiểu theo nghĩa rộng, ngày nay cơ cấu ngành kinh tế được phân chia như
sau. Theo quan điểm của LHQ: cơ cấu ngành kinh tế được chia làm 3 nhóm
ngành lớn:
KV1 là những ngành sản xuất sản phẩm sơ chế, có đầu vào từ tự nhiên:
Nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp và công nghiệp khai thác.
KV2: Công nghiệp chế biến, xây dựng
KV3: dịch vụ: sản xuất và phân phối điện nước, thương mại, ngân hàng,
tài chính, bảo hiểm, giáo dục, y tế …
Theo quan điểm phân ngành của Viêt Nam, do Việt Nam có những điều
kiện khác biệt nên cách phân ngành của Việt Nam có một số khác biệt so với
cách phân ngành của LHQ. Công nghiệp khai thác ở khu vực I và sản xuất phân
phối điện nước ở khu vực III theo cách phân ngành của LHQ được đưa vào khu
vực II theo cách phân ngành của Việt Nam .
Cơ cấu ngành kinh tế được hiểu theo những nội dung sau:
- Trước hết, đó là số lượng các ngành kinh tế được hình thành. Số lượng
ngành kinh tế không cố định, nó luôn luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của
phân công lao động xã hội. Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân
công lao động, biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các
ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ. Các ngành kinh tế
được phân thành 3 khu vực: khu vực 1 baogồm các ngành nông lâm - ngư
nghiệp; khu vực II là ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồm các
ngành dịch vụ.
- Thứ đến, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ giữa các
ngành với nhau. Mối quan hệ này bao gồm cả về mặt số và chất lượng. Mặt số
lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn…) của mỗi ngành trong
tổng thể nền kinh tế quốc dân. Còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí của từng
ngành và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành.
Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo
từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình
4
thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế từ trạng thái này sang trạngthái khác ngày
càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển gọi là
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự
thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay
đổi vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ
cấu ngành phải dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển
dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên
tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện
đại và phù hợp hơn.
1.3. ý nghĩa của việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu ngành được coi là xương sống của cơ cấu kinh tế, là dấu hiệu phản
ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, sự phát triển của KHCN, của LLSX
và phân công lao động xã hội. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh
trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Do vậy nghiên cứu cơ cấu ngành để
đánh giá đúng tình trạng phát triển của quốc gia mình trên cơ sở đó có những
chính sách, định hướng phát triển phù hợp.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và
gắn liền với sự phát triển kinh tế. Ngược lại nhịp độ phát triển, tính chất bền
vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu
ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế
tương đối của nền kinh tế.
Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và sự phát triển chung của
nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về
phân bổ nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệu quả của việc phân bố nguồn lực.
Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển thì
việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý thể hiện được các lợi thế tương đối và khả
năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ
động tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi.
5
1.4. Những vấn đề mang tính quy luật về xu hướng chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
.
1.4.1. Cơ sở lý thuyết.
a) Quy luật tiêu dùng của E. Engel (Đức).
Ngay từ thế kỷ 19, một số quy luật tiêu dùng thực nghiệm đã được E.
Engel đề xướng. Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phương
pháp thu nhập cho các nhu cầu tác động. Bằng quan sát thực nghiệm, Engel đã
nhận thấy rằng khi thu nhập của các gia đình tăng lên đến một mức độ nhất định
thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Như vậy có thể suy
ra là tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng
lên đến một mức độ nhất định. Các nhà kinh tế sau khi nghiên cứu quy luật của
E.Engel, họ phát hiện ra rằng trong quá trình gia tăng thu nhập, tỷ lệchi tiêu cho
hàng hoá thiết yếu có xu hướng giảm, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hoá lâu bền có xu
hướng gia tăng nhưng với mức độ nhỏ hơn mức gia tăng thu nhập, còn tỷ lệ chi
tiêu cho hàng hoá dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, đến một mức thu nhập
nào đó thì tốc độ tăng tiêu dùng sẽ lớn hơn tốc độ tăng thu nhập. Như vậy, khi
kinh tế phát triển, tỷ trọng khu vực I sẽ giảm và tỷ trọng khu vực I, khu vực III
sẽ tăng lên.
b) Quy luật năng suất lao động của A. Fisher (Mỹ).
A. Fisher đã phân tích: Theo xu thế phát triển KHCN, ngành nông nghiệp
dễ có khả năng tăng cường lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc
thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao
năng suất lao động. Như vậy, để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cần
thiết cho xã hội thì không cần đến một lượng lao động như cũ và như vậy tỷ lệ
lao động nông nghiệp có xu hướng giảm trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi
đó, ngành công nghiệp ít có khả năng thay thế lao động hơn nông nghiệp do tính
chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ mới, mặt khác cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, nhu cầu về sản phẩm công nghiệp tăng nhanh đòi hỏi phải
mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp cho nên nhu cầu lao động công nghiệp
6
tăng. Do vậy theo sự phát triển của kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp chế
biến xu hướng tăng lên. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao
động nhất do đặc điểm kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế công
nghiệp và kỹ thuật mới rất cao. Hơn thế, khi kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng
dịch vụ tăng rất nhanh (tăng cao hơn mức tăng thu nhập) yêu cầu quy mô các
ngành dịch vụ không ngừng tăng. Vì vậy tỷ trọng lao động của ngành dịch vụ sẽ
có xu hướng tăng và tăng nhanh khi nền kinh tế phát triển.
Như vậy, trên cơ sở lý luận, nhu cầu chuyển dịch lao động là giản đơn lao
động trong ngành nông nghiệp và tăng đến tỷ trọng lao động trong công nghiệp
và dịch vụ.
1.4.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành.
Từ những cơ sở lý thuyết nêu trên có thể rút ra xu hướng có tính quy luật
chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH
đất nước. Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp
đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nông nghiệp sang kinh tế nông - công
nghiệp, công - nông nghiệp để từ đó chuyển sang công nghiệp phát triển và hậu
công nghiệp.
Xu hướng phát triển cụ thể được thể hiện:
- Chuyển dịch cơ cấu GDP theo ngành: giản đơn tỷ trọng nông
nghiệp/GDP, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành: lao động nông nghiệp trong
tổng lao động giảm, tăng dần lao động công nghiệp và dịch vụ trong tổng lao
động.
- Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành:
Công nghiệp: tỷ trọng lực lượng lao động công nghiệp lao động cao giảm,
công nghiệp hàm lượng chất xám cao tăng.
Dịch vụ: dịch vụ cao tăng.
II. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế trong quá trình CNH.
7
Ở góc độ của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô, nhân tố tác động tới
chuyển dịchcơ cấu ngành kinh tế được chia làm 3 nhóm sau:
- Nhóm các nhân cố "cung" (đâu vào của sản xuất)
- Nhóm các nhân tố "cầu" (đầu ra của sản xuất)
- Nhóm nhân tố về cơ chế chính sách.
2.1. Nhóm các nhân tố "cung" (đầu vào sản xuất).
2.1.1. Các nguồn lực tự nhiên.
Nhà kinh tế học cổ điển W.Petty đã từng nói "lao động là cha của của cải,
còn đất là mẹ của nó". Cơ cấu kinh tế của một quốc gia hình thành như thế nào
đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nguồn tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng. Quy
mô đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước… là điều kiện tự nhiên của các loại
hình sản xuất nông nghiệp khác nhau: khu vực Đông Nam á sản sinh ra nền nông
nghiệp lúa nước mang đặc thù "Châu á gió mùa", những vùng mua nhiệt đới ở
châu á, châu Mỹ La tinh… là điều kiện tốt để phát triển lâm nghiệp, những quốc
gia nhiều dầu mỏ phát triển mạnh công nghiệp khai mỏ… Tóm lại tài nguyên
thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế
của các nền kinh tế trên thế giới. Trong nhiều trường hợp tài nguyên thiên nhiên
tạo nên "lợi thế tuyệt đối" trong phân công lao động quốc tế của các nền kinh tế.
Nắm vững đặc điểm tự nhiên trên cơ sở đó xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu
ngành kinh tế thích hợp sẽ phát huy "lợi thế tuyệt đối" rút ngắn quá trình CNH,
HĐH.
2.1.2. Nguồn lực con người.
Nguồn lưc con người từ lâu đã được coi như là một nhân tố có ý nghĩa
quyết định đối với quá trình sản xuất. ở những thời điểm nhất định, việc phân bổ
nguồn lực này như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ
cấu của nền kinh tế. Những khía cạnh cần lưu ý của nguồn lực con người là:
+ Quy mô nguồn nhân lực.
Quy mô nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
hình thành cơ cấu nền kinh tế. Để cho các hoạt động kinh doanh đạt được hiệu
quả kinh tế theo qui mô, trong những điều kiện về KH-CN nhất định, phải có
8
một lượng lao động thích hợp. Đối với những nước có qui mô lao động, qui mô
dân số bé nhỏ là một trong những nguyên nhân gây khó khưan trong một số lĩnh
vực do vậy cần phải có chính sách nhập khẩu lao động, nhập cư hợp lý và xây
dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp. Còn đối với những quốc gia đang phát triển có
hiện tượng dư thừa lao động thì xây dựng cơ cấu kinh tế có khả năng toàn dụng
nhân công lại là ưu thế hàng đầu.
+ Chất lượng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất để hình thành cơ cấu
kinh tế đặc biệt là những ngành, những lĩnh vực đòi hỏi lao động tay nghề cao,
những ngành gắn với công nghiệp hiện đại. Chất lượng nguồn nhân lực gắn với
giáo dục, vì thế đầu tư cho giáo dục là đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội
tổng hợp lớn nhất. Xác định một nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ tạo điều
kiện có việc hình thành một cơ cấu ngành kinh tế hiện đại.
+ Xu hướng nhân khẩu học.
Xu hướng nhân khẩu họccó ý nghĩa khá quan trọng đối với việc hình
thành cơ cấu của nền kinh tế. Tác nhân này biểu hiện ở cả 2 khía cạnh cung vf
cầu. ở khía cạnh cung, xu hướng biến động dân số sẽ quyết định xu hướng biến
động của qui mô LLLĐXH. Còn xu hướng biến động sẽ có ảnh hưởng không
nhỏ tới qui mô và cơ cấu nhu cầu thị trường.
2.1.3. Nguồn vốn.
Là nhân tố quan trọng luôn ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Do khởi phát quá trình CNH trong điều kiện một nền kinh tế
nghèo nàn, hầu như đối với toàn bộ các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư
luôn là chiếc "cổ họng hẹp" đối với quá trình tăng trưởng và CDCCKT. Ngày
nay dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế với một trong những đặc
trưng nổi bật nhất của toàn cầuhoá tài chính, dòng chảy vốn đầu tư tài chính
mang tính chất toàn cầu đang gia tăng với tốc độ nhanh, qui mô lớn, đã góp phần
quan trọng vào biết nới bớt "nút thắt" về nguồn vốn đầu tư đối với các nước đang
phát triển. Nhưng xét một cách tổng quát, khát vốn vẫn là căn bệnh dai dẳng đối
với những quốc gia đang mong muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Vì lẽ đó,
9
xác định cơ cấu kinh tế không thể không tính tới khả năng của nguồn vốn đầu tư
có thể huy động được.
2.2. Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất (yếu tố thị trường).
2.2.1. Dung lượng thị trường.
Độ lớn của dung lượng thị trường là một trong những nhân tố rất có ý
nghĩa đối với sự di chuyển các nguồn lực được phân bố vào các lĩnh vực sản
xuất khác nhau. Các nhà kinh doanh là những người phân tích rất kỹ quy mô và
xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tư kinh doanh một sản
phẩm nào đó. Dung lượng thị trường được quyết định bởi quy mô dân số và mức
thu nhập. Khi thu nhập còn thấp, hầu hết mức thu nhập được chi dùng mặt hàng
thiết yếu nhưng khi thu nhập tăng lên, cơ cấu tiêu dùng thay đổi theo hướng chi
cho những sản phẩm cao cấp tăng lên. Sự thay đổi cơ cấu tác động không nhỏ
đến sự hình thành cơ cấu kinh tế.
2.2.2. Thói quen tiên dùng.
Cùng với quy mô thị trường, thói quen tiêu dùng là 1 trong những nhân tố
rất có ý nghĩa đối với các nhà kinh doanh khi bỏ vốn đầu tư và lựa chọn và đưa
ra thị trường. Tuy đây là những quyết định thuộc phạm vi quản lý vi mô nhưng
lại có ý nghĩa to lớn đến sự hình thành cơ cấu sản phẩm (cơ cấu phân ngành) của
nền kinh tế quốc dân.
2.3. Các nhân tố về cơ chế chính sách.
Với tư cách là một loại nhân tố độc lập, cơ chế chính sách thực sự có tác
động rất mạnh đến xu hướng vận động tổng quát của sự hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế về các … chuyển dịch thành phần và cơ cấu vùng lãnh thổ.
Những ví dụ chứng minh cho vai trò tác động của cơ chế chính sách đối với sự
hình thành cơ cấu tổng quát của Việt Nam là tình hình phát triển công nghiệp
nặng. Từ sự chỉ đạo này, phần lớn nguồn lực dành cho phát triển công nghiệp
nặng. Chương trình đã không thành công vì cơ cấu không hợp lý. Và đến những
năm 80 "3 chương trình kinh tế lớn lương thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng -
hàng xuất khẩu". Cơ cấu kinh tế nhờ đó mà có sự chuyển dịch nhất định, hợp lý
hơn.
III. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một số ngành công nghiệp
hóa.
10
Mặc dù quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở một mô hình đều có
chung đặc điểm về cơ cấu là chuyển từ khu vực sản xuất lạc hậu, sản xuất thấp
sang khu vực hiện đại, năng suất cao, trong đó phổ biến là từ khu vực sản xuất
nông nghiệp truyền thống sang khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại. Nông
nghiệp ở mỗi mô hình công nghiệp hóa, quá trình chuyển dịch cơ cấu lại mang
những nét đặc thù rất riêng biệt về quy mô, tốc độ và kết quả. Trong tiến trình
công nghiệp hóa, đã có những hình thức chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế như sau:
3.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa
kiểu cổ điển
Những nước công nghiệp hóa kinh tế cổ điển là những nước đi đầu trong
cuộc cách mạng công nghiệp hồi thế kỷ 17 - 18 và ngày nay là những nước công
nghiệp phát triển nhất bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga và Nhật Bản.
Đặc điểm chung của mô hình công nghiệp hóa này là:
- Cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp xảy ra trước, trở thành một
trong số những tiền đề tiên cho sự ra đời của cách mạng công nghệ (hay công
nghiệp hóa.
Cuộc cách mạng nông nghiệp trong đã làm cho sản lượng và năng suất
lao động trong nông nghiệp tăng lên. Sự tăng trưởng này một mặt làm tăng khối
lượng hàng hóa nông sản có thể cung cấp cho xã hội, và do đó có thể chuyển bớt
1 phần lao động xã hội từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất khác mà không
gây sự suy giảm sản lượng nông nghiệp cũng như những đảo lộn trong đời sống
xã hội. Mặt khác, lượng cầu về tư liệu lao động và hàng tiêu dùng trong khu vực
nông nghiệp tăng lên đã kích thích mở rộng sản xuất ở những khu vực phi nông
nghiệp. Quá trình này đã dần dần phá vỡ nền kinh tế tự nhiên chuyển thành nền
kinh tế hàng hóa và hình thành thị trường dân tộc.
- Trình tự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình cổ điển là công
nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ - giao thông vận tải và bưu điện - nông nghiệp và
lĩnh vực dịch vụ lưu thông là cuối cùng.
- Công cuộc công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành đã diễn ra một
cách từ từ, tiên tiến và đã kéo dài hàng trăm năm.
11
- Trong mô hình công nghiệp hóa kiên cố cổ điển, sự chuyển dịch lao
động từ nông nghiệp sang công nghiệp đã không gây ra những căng thẳng quá
mức về vấn đề thất nghiệp.
Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa
kiểu cổ điển đã diễn ra "như 1 quá trình lịch sử tự nhiên", để lại 1 hình mẫu
"chuẩn mực" cho những nước đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa. Ngày nay, những điều kiện ràng buộc quá trình công nghiệp hóa và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đã có những phát triển căn bản nên không nhất thiết phải bắt
buộc lặp lại quá trình chuyển dịch cơ cấu của mô hình cổ điển. Song tuyệt nhiên
không phải vì vậy mà có thể tiến hành những bước đi tùy tiện trong việc chuyển
dịch cơ cấu. Sự phát triển của những điều kiện vừa tạo ra những cơ hội đi nhanh
hơn, lại vừa gây ra những thách thức to lớn hơn, không hề làm phát triển mục
đích của công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu. Nó chỉ có nghĩa rằng, dựa trên
hình mẫu "chuẩn mực" cổ điển, điều kiện mới làm nảy sinh những nhân tố thay
thế cho phép rút ngắn toàn bộ quá trình, thay vì trong mô hình cổ điển, quá trình
công nghiệp hóa phải dài hàng trăm năm.
2.3. chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa theo cơ
chế kế hoạch tập trung.
Tuy là mô hình do Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây tiến
hành. Sự khác biệt lớn nhất giữa mô hình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với
mô hình công nghiệp hóa "cổ điển" là ở khía cạnh thể chế xã hội. Việc tập trung
mọi nguồn lực kinh tế vào tay Nhà nước tạo điều kiện cho các nước theo mô
hình công nghiệp hóa tập trung tiếp cận công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu
hoàn toàn khác với mô hình cổ điển. Mô hình này có những đặc trưng nổi bật
sau:
- Nhà nước trực tiếp tiến hành công nghiệp hóa bằng cách tập trung ưu
tiên cao độ cho sự phát triển công nghiệp nặng ngay trong giai đoạn đầu của thời
kỳ công nghiệp hóa.
- Việc duy trì tính cân đối giữa các ngành của quá trình công nghiệp hóa
được tính toán dựa trên các chỉ tiêu hiện vật. Đây là thuộc tính riêng có, gắn liền
với yếu tố thể chế của mô hình công nghiệp hóa theo kiểu kế hoạch hóa tập
trung.
12
- Quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đẩy
nhanh bằng cách áp dụng nhiều biện pháp hành chính phi kinh tế. Đây là hệ quả
phát sinh trực tiếp từ 2 đặc điểm nêu trên.
Việc thực hiện mô hình công nghiệp hóa theo cơ chế tập trung trong 3
đoạn đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể. Song, những kết quả này không
duy trì được bao lâu và chuyển sang tình trạng trì trệ kéo theo của khủng hoảng
có tính chất hệ thống dẫn đến sự sụp đổ của Liên xô và các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu.
3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình công nghiệp hóa thay thế
nhập khẩu
Mô hình CNH thay thế nhập khẩu với tư tưởng chủ đạo là thay thế những
mặt hàng trước đây phải nhập khẩu bằng sản xuất trong nước, đã từng là 1 trào
lưu phổ biến ở hầu hết các nước thuộc thế giới thứ 3 sau khi dành độc lập lặp trị
sau đại chiến thế giới thứ 2.
Đặc trưng của mô hình này là
- Chính sách bảo hộ mậu dịch: Lôgic tư nhiên của tư tưởng sản xuất hàng
CN đã thay thế nhập khẩu là hình thành 1 hệ thống các chính sách ngăn chặn
hàng ngoại nhập tràn vào trong nước và cứ thế, chính sách bảo hộ mậu dịch là hệ
thống chính sách dùng phổ biến. Các công cụ của chính sách này là thuế quan,
hạn ngạch nhập khẩu.
- Chính sách tỷ giá hối đoái:
Chính phủ phải duy trì 1 tỷ giá hối đoái trên cơ sở nâng cao giá trị đồng
tiền nội địa làm cho các nhà công nghiệp có thể có lợi do bán hàng trên thị
trường trong nước và do đó hạn chế nhấp khẩu.
Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình
này tỏ ra có kết quả trong giai đoạn đầu tiên trong nó đã không chịu đựng nổi thử
thách của thời gian . Nhược điểm của nó là sự trì trệ của quá trình chuyển dịch
chuyển dịch cơ cấu kinh tế: sản xuất nông nghiệp không được chú ý đúng mức
nên phát triển chậm chạp, thị trường nội địa không được mở rộng nên sự phát
triển của công nghiệp cũng rơi vào bế tắc. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ
nông nghiệp sang công nghiệp chậm dần và không theo kịp tốc độ gia tăng lao
13
động mới. Không có sức ép để cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất cũng như chất
lượng sản phẩm. Cán cân ngoại thương thâm hụt do chính sách bảo hộ mậu dịch.
3.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình công nghiệp hoá hướng
về xuất khẩu.
Với tư cách là 1 mô hình công nghiệp hoá mang những đặc điểm riêng
biệt, về cơ bản khác hẳn với chính sách CNH thay thế nhập khẩu, công nghiệp
hóa hướng về xuất khẩu ngày càng được biết đều do kết quả tăng trưởng kinh tế
"thần kỳ" của một số ít nhóm nước đi theo mô hình này đặc biệt là các nhóm
nước NICS Châu á: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo.
Về mặt lý thuyết mô hình này được phân tích về xu hướng quốc tế hóa
đời sống kinh tế dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại tạo ra
và lựa chọn môt cơ cấu kinh tế không cân đối để hình thành việc tăng trưởng dựa
trên những lợi thế so sánh trong quan hệ ngoại thương. Mô hình công nghiệp hóa
này có một số đặc điểm đặc trưng là:
1. Quá trình công nghiệp hóa bắt đầu bằng việc tập trung khai thác các thế
mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánh trên thị
trường thế giới đối với các nước đang phát triển, những thế mạnh khả dĩ có lợi
thế so sánh là người lao động dồi dào, giá rẻ, tài nguyên khoáng sản và nông sản.
2. Toàn bộ hệ thống chính sách đều chú ý nhằm vào khuyến khích tăng
trưởng xuất khẩu.
• Ưu tiên giản hóa miễn thuế nhập khẩu các loại vật tư, nguyên liệu, thiết
bị, phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu hoặc trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu.
• Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động hướng ra thị trường thế giới.
• Đưa ra nhiều chính sách hấp dẫn khuyến khích đầu tư nước ngoài.
Các quốc gia đi theo mô hình công nghiệp hóa này đã đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế và những cơ cấu hết sức nhanh chóng khiến mô hình này trở
thành xu hướng phổ biến. Tuy nhiên, mô hình này cũng có 1 số hạn chế là làm
cho kinh tế trong nước phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường thế giới,
và không chắc chắn những điều kiện của môi trường kinh tế quốc tế sẽ còn được
thuận lợi cho việc thực thi chính sách như trong những thập niên vừa qua .
Tất cả những nghiên cứu trên cho thấy rằng, đến nay cách giải quyết vấn
đề công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp ở các quốc gia trên thế
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét