Lời Mở đầu
Trong một nền kinh tế, vốn chính là điều kiện vật chất quan trọng hàng
đầu để duy trì hoạt động và phát triển của sản xuất. Nó chính là nguồn lực bên
trong đóng vai trò quan trọng để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng kĩ
thuật trong sản xuất. Không chỉ có vậy, vốn hay còn gọi là T Bản giúp cho
những đề án kinh doanh, những ý tởng táo bạo trở thành hiện thực. Nếu vấn đề
về vốn không đợc giải quyết thì không chỉ nền kinh tế mà cả đất nớc sẽ lâm vào
khủng hoảng. Đặc biệt là nền kinh tế của Việt Nam ta hiện nay, một nền kinh tế
trẻ, mới chuyển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang kinh tế thị trờng định hớng
XHCN đợc 10 năm. Vốn là 1 vấn đề hết sức quan trọng, cấp thiết để duy trì nền
kinh tế. Để có đợc nguồn vốn dồi dào, bên cạnh việc thu hút vốn của T Bản nớc
ngoài thì có lẽ việc huy động nội lực, tiền tệ có sẵn trong nhân dân là hớng đi
thực sự đúng đắn trong thời điểm này. Để có thể huy động nguồn vốn tiềm tàng
đó thì vai trò của các Ngân Hàng Thơng Mại Nhà Nớc là hết sức quan trọng. Sự
tồn tại của các Ngân Hàng sẽ góp phần lu thông nguồn vốn trong xã hội. Ngoài
ra, sự tồn tại của các Ngân Hàng còn góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định tăng
trởng kinh tế liên tục ở mức cao. Việc sử dụng các dịch vụ Ngân Hàng còn góp
phần đa ra 1 sự minh bạch về tài chính của các cá nhân, tổ chức Nó góp phần
hạn chế các hoạt động rửa tiền phi pháp. Vì vậy, việc tổ chức hoạt động giao
dịch của các Ngân Hàng luôn đợc xem là vấn đề đặc biệt quan trọng, có ảnh h-
ởng đến quá trình phát triển kinh tế của các nớc nói chung và Việt Nam nói
riêng.
Trên thế giới hiện nay, hoạt động của các Ngân Hàng nh World Bank,
City Bank cùng với các tổ chức tài chính lớn nh quỹ tiền tệ quốc tế IMF là hết
sức quan trọng. Và ở Việt Nam ta, tuy lịch sử phát triển của ngành Ngân Hàng
vẫn còn non trẻ nhng Đảng và Nhà Nớc đã thấy đợc vai trò quyết định của nó.
Chúng ta hiện đang có 4 Ngân Hàng Thơng Mại lớn nhất: Ngân hàng Nông
Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, Ngân hàng Ngoại Thơng Việt
Nam, Ngân hàng Công Thơng Việt Nam, Ngân hàng Đầu T Phát Triển Việt
Nam. Các ngân hàng này đã điều tiết nền kinh tế Việt Nam, điều chỉnh nguồn
ngoại tệ cho phù hợp. Ngân hàng với lịch sử tồn tại của mình đã để lại rất nhiều
tiện ích nhng kèm theo nó cũng có không ít khiếm quyết và bất cập. Bởi vậy,
tìm hiểu hoạt động của các Ngân hàng là một hoạt động cần thiết để có thể đa
ra các dịch vụ Ngân hàng ngày càng mang lại nhiều tiện ích cho nhân dân.
quan điểm toàn diện với việc tìm hiểu hoạt động
của các ngân hàng ở việt nam hiện nay
1
ChơngI: Quan điểm toàn diện
1.1Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến:
1.1.1Khái niệm:
Theo quan điểm của các nhà biện chứng duy vật, họ coi thế giới nh một
chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tợng và các quá trình cấu thành thế giới
vừa tách biệt nhau, vừa có mối liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn
nhau. Cơ sở của mối liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tợng là tính thống nhất
vật chất của thế giới.
1.1.2Các tính chất:
Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến.
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
-Bất cứ một sự vật hiện tợng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tợng khác.
Không có sự vật, hiện tợng nào nằm ngoài mối liên hệ.
-Mối liên hệ biểu hiện dới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều
kiện nhất định. Song dù dới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối
liên hệ phổ biến chung nhất.
-Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo
từng cặp: mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối quan hệ chủ yếu
và mối quan hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất,
mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ chung bao quát
toàn bộ thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực của thế giới, mối
liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.
1.2Nguyên lí về sự phát triển:
1.2.1Những quan niệm khác nhau về sự phát triển:
*Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong một sự vật hay giữa các vật làm
cho sự vận động và phát triển. Xem xét về sự phát triển cũng có những quan
điểm khác nhau, đối lập nhau: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng.
-Quan điểm siêu hình: xem xét sự phát triển chỉ tăng lên hay giảm đi đơn
thuần về mặt lợng, không có gì thay đổi về mặt chất của sự vật.
-Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát
triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần,
vừa nhảy vọt, đa ra sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù trong hiện thực
khách quan hay trong t duy chủ quan, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào
cũng theo đờng thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bớc
lùi tạm thời.
2
1.2.2Tính chất của sự phát triển:
-Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi vì nh trên đã phân
tích theo quan đIểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay
trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy
sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờ đó, sự vật luôn phát triển. Sự
phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng
chủ quan của con ngời.
-Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển đợc hiểu
là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và t duy ở bất kì sự vật, hiện tợng
nào của thế giới khách quan.
-Ngoài tính khách quan và phổ biến, sự phát triển còn có tính đa dạng, phong
phú. Khuynh hớng phát triển là khuynh hớng chung của mọi sự vật, mọi hiện t-
ợng. Song mỗi sự vật, mỗi hiện tợng lại có quá trình phát triển không giống
nhau. Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu tác động
của các sự vật, hiện tợng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó
có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay
đổi chiều hớng phát triển của sự vật, thậm chí làm thụt lùi.
=>Từ việc nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện
tợng chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện về nhận thức, xem xét các hiện t-
ợng cũng nh trong hoạt dộng thực tiễn. Để nhận thức đúng đắn về sự vật chúng
ta cần phải:
+Xem xét sự vật, hiện tợng đó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận,
hiện tợng, giữa các yếu tố, thuộc tính chính của sự vật đó.
+Xem xét sự vật hiện tợng trong mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiện tợng
khác.
+Sự vật, hiện tợng luôn tồn tại trong không gian và thời gian nhất định và
mang dấu ấn của không gian và thời gian đó. Vì vậy, chúng ta phải có quan
đIểm lịch sử cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra. Để giải
quyết vấn đề thực tiễn đặt ra chúng ta cần phải chú ý đến hoàn cảnh lịch sử làm
phát sinh vấn đề đó, phải quan tâm đến bối cảnh hiện thực, cả khách quan và
chủ quan.
1.3Vấn đề về sự phát triển Ngân Hàng:
Trong sự phát triển của tất cả mọi vật, chúng đều có sự tác động qua lại
lẫn nhau. Trong tất cả mọi lĩnh vực nh: Kinh tế, chính trị, hoạt động XH thì
mối liên hệ phổ biến luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Trong sự phát
triển hoạt động của Ngân Hàng cũng không phải là ngoại lệ. Sự phát triển của
một Ngân Hàng phụ thuộc vào sự phát triển của các khâu: huy động vốn, hoạt
động tín dụng và dịch vụ Ngân Hàng. Thật vậy, đây là 3 vấn đề quan trọng nhất,
cơ bản nhất quyết định sự phát triển và tồn tại của mỗi Ngân Hàng. Vốn là một
vấn đề mà Ngân Hàng nào cũng phải quan tâm. Chỉ khi có một nguồn vốn dồi
dào thì nội lực của mỗi Ngân Hàng mới có thể đợc phát huy. Và khi đó hoạt
động tín dụng của mỗi Ngân Hàng mới đợc tiến hành một cách hiệu quả.
3
Nguồn vốn trong mỗi Ngân Hàng sẽ đẩy mạnh hoạt động tín dụng, vốn càng
lớn thì hoạt động cho vay của các Ngân Hàng sẽ càng lớn. Nhng không chỉ có
hoạt động huy động vốn và tín dụng có mối liên hệ với nhau mà dịch vụ của
mỗi Ngân Hàng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Những dịch vụ tiện
ích, nhanh chóng luôn là sự lựa chọn hàng đầu của khách hàng cả ngời gửi và
ngời vay. Thủ tục nhanh chóng, sự phục vụ tận tình, chu đáo luôn là một yếu tố
cần thiết làm nên bộ mặt của Ngân Hàng Thơng Mại.
4
ChơngII
Theo thời gian, cùng sự phát triển của các Ngân Hàng trên thế giới thì các
Ngân Hàng của Việt Nam, nổi bật là 4 Ngân Hàng: Incombank, Vietcombank,
Agribank, cũng đã phát triển nhanh chóng. Hoạt động của các Ngân Hàng
này thì trên rất nhiều lĩnh vực
2.1Giao dịch thơng mại của Ngân Hàng Thơng Mại trong lĩnh vực huy động
vốn:
2.1.1Giao dịch nhận tiền gửi:
Trong lịch sử phát triển của Ngân Hàng, nhận tiền gửi đợc xem là một loại
hình giao dịch lớn nhất và lâu đời nhất. Giao dịch nhận tiền gửi từ chỗ chỉ là
giao dịch dân sự thuần túy đã trở thành những giao dịch mang tính chất thơng
mại rõ rệt. Thế ta hiểu giao dịch nhận tiền gửi nh thế nào? Dới góc độ kinh tế,
hoạt động nhận tiền gửi đợc nhìn nhận nh một nghiệp vụ kinh doanh của Ngân
Hàng Thơng Mại và nội dung chủ yếu là tiếp nhận các khoản tiền gửi của khách
hàng thông qua việc mở các tài khoản cho khách hàng nh: tài khoản tiền gửi
định kì (tiền gửi có kì hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kì (tiền gửi không kì hạn) và
tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Việc các Ngân Hàng Thơng Mại mở các tài khoản
tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một hoạt động giữ hộ tài sản
hay quản lí tài sản cho khách hàng để nhận tiền thù lao mà quan trọng hơn nó là
nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ đi vay của Ngân Hàng Thơng Mại từ nền
kinh tế. Dới góc độ pháp lí, giao dịch nhận tiền gửi của Ngân Hàng Thơng Mại
đợc hiểu là cam kết song phơng của Ngân Hàng Thơng Mại và khách hàng gửi
tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng gửi tiền. Ban đầu, Ngân Hàng chỉ giữ hộ
khách hàng nhng về sau do yêu cầu sử dụng mà Ngân Hàng sử dụng chính số
tiền gửi này để cho vay hay đầu t vào mục đích khác nhằm mục đích sinh lợi,
với điều kiện hoàn trả cho ngời gửi tiền toàn bộ số vốn đã sử dụng, kèm theo
một khoản tiền lãi nhất định tùy theo thời hạn.
Ngày nay ở Việt Nam ta, hoạt động về giao dịch nhận tiền gửi là trong
những hoạt động cơ bản của các Ngân Hàng. Trong các Ngân Hàng, với một hệ
thống chi nhánh và phòng giao dịch đã tỏa khắp cả nớc để phục vụ khách hàng.
Với các nghiệp vụ Marketing của mình nh: Quảng cáo, mở các phiếu dự thởng
với các giải thởng có giá trị, các Ngân Hàng đã thu hút các nguồn vốn đầu t d
thừa trong nhân dân. Điển hình là 2 Ngân Hàng: Viêtcombank, Agribank. Ngân
hàng Agribank với phơng châm phục vụ ngời dân là chủ yếu đã mở mở một hệ
thống rộng khắp với hơn 2000 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc. Từ
vùng Tây Bắc núi cao hẻo lánh đến những đô thị sầm uất nh Sài Gòn, Hà Nội
Agribank luôn có mặt. Còn Ngân Hàng Vietcombank, đây là Ngân hàng quốc
doanh có uy tín hàng đầu Việt Nam. Phơng châm của Ngân Hàng là là chất l-
ợng. Đối tợng gửi tiền của Ngân Hàng Vietcombank là các công ty lớn của Nhà
5
Nớc cũng nh t nhân. Ngân Hàng có số vốn lớn nhất trong 4 Ngân Hàng Thơng
Mại lên tới 8 tỉ USD.
Tuy nhiên hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế nớc ta hơn 8%/năm.
Bởi vậy, vốn là 1 vấn đề hết sức bức thiết. Dẫn đến việc huy động vốn là quan
trọng hơn bao giờ hết. Thế nên nớc ta hiện nay đang diễn ra cuộc cạnh tranh
gay gắt của các Ngân Hàng nhằm thu hút vốn trong nhân dân. Sự cạnh tranh là
rất cần thiết nhng đôi khi cạnh tranh cũng gây ra những hậu quả khó có thể giải
quyết đợc. Đặc biệt là sự tăng lãi suất hàng loạt của các Ngân Hàng, mà chủ
yếu là các Ngân Hàng t nhân, Ngân Hàng liên doanh. Điều này có thể gây ra 1
sự hỗn loạn trong thị trờng tiền tệ, gây nhiều hậu quả, thậm chí gây ra sự phá
sản hàng loạt của các Ngân Hàng.
Để giải quyết đợc vấn đề này, Đảng và chính phủ cần có các cơ chế hợp lí
để đIều chỉnh tình hình lãi suất cho phù hợp. Nhà Nớc phải đa ra một giới hạn
lãi suất thích hợp cho tất cả các Ngân Hàng hoạt động trong nớc. Đặc biệt theo
ý kiến của bản thân em, các Ngân Hàng nên kí thỏa thuận chung về lãi suất.
Các Ngân Hàng chỉ nên cạnh tranh nhau về chất lợng phục vụ chứ không sử
dụng tăng lãi suất tiền gửi hay giảm lãi suất cho vay để thu hút khách hàng. Nếu
sử dụng phơng pháp này để thỏa mãn mục đích của mình, thiệt hại phải gánh
chịu lại chính là các Ngân Hàng.
2.1.2Giao dịch và phát triển giấy tờ có giá;
Trong lịch sử phát triển Ngân Hàng, việc phát hành các giấy tờ có giá để
huy động vốn đợc xem là loại hình giao dịch ra đời muộn hơn so với giao dịch
nhận tiền gửi của Ngân Hàng Thơng Mại. Loại giấy tờ có giá đầu tiên do Ngân
Hàng Thơng Mại phát hành ra công chúng để huy động vốn và đợc công chúng
chấp nhận nh một loại tiền, đó là chứng th tiền gửi. Về sau, do nhu cầu huy
động vốn ngày càng gia tăng, cùng với sự chấp nhận rộng rãi của công chúng
đối với các loại giấy tờ có giá này, các Ngân Hàng Thơng Mại đã bắt đâù phát
hành thêm một số loại giấy tờ có giá khác với hình thức và nội dung hấp dẫn
hơn nh tín phiếu Ngân Hàng và trái phiếu Ngân Hàng. Nói chung, tất cả các loại
giấy tờ có giá này cho dù có thể có những tên gọi khác nhau nhng đều có bản
chất giống nhau: đó là phiếu hay chứng khoán ghi nợ, trong đó phản ánh việc
Ngân Hàng mắc nợ ngời sở hữu tờ phiếu một số tiền nhất định và phải trả cho
chủ sở hữu tờ phiếu số tiền đó khi đến thời hạn ghi phiếu nợ.
Về phơng diện kinh tế, giao dịch phát hành giấy tờ có giá đợc hiểu là
nghiệp vụ huy động vốn của Ngân Hàng Thơng Mại. Nghiệp vụ này đợc thực
hiện thông qua Ngân Hàng Thơng Mại phát hành ra công chúng những loại giấy
tờ có giá dới dạng chứng khoán nợ để vay tiền của công chúng, với cam kết
hoàn trả lại số tiền đó kèm theo một khoản lãi vào ngày đáo hạn. Về phơng diện
pháp lí, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của Ngân Hàng Thơng Mại đợc hiểu
là hành vi pháp lí theo đó Ngân Hàng Thơng Mại cam kết vay tiền của khách
6
hàng trong 1 thời hạn nhất định với điều kiện sẽ hoàn trả cho khách hàng số tiền
ghi trên chứng khoán thu nhận nợ do Ngân Hàng phát hành.
Giao dịch phát hành giấy tờ có giá của Ngân Hàng Thơng Mại có đặc trng
cơ bản sau đây:
-Về bản chất pháp lí, việc phát hành giấy tờ có giá của Ngân Hàng Thơng
Mại ra công chúng thực chất là một hành vi vay tiền của khách hàng chứ không
phải là hành vi bán giấy tờ có giá cho khách hàng.
-Đối tợng của giao dịch: mặc dù tên gọi của giao dịch là phát hành giấy tờ
có giá nhng đối tợng của giao dịch không phải là giấy tờ có giá do Ngân Hàng
phát hành mà chính là những khoản tiền vốn do khách hàng đồng ý chuyển
quyền sở hữu cho Ngân Hàng với điều kiện Ngân Hàng phải hoàn trả sau một
thời hạn nhất định, kèm theo khoản tiền lãi đã thỏa thuận.
-Về t cách pháp lí khi phát hành giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng,
Ngân Hàng có t cách là ngời vay hay ngời mắc nợ, còn khách hàng mua giấy tờ
có giá có t cách là ngời cho vay hay chủ nợ của Ngân Hàng.
Có thể nói, hoạt động giao dịch và phát hành giấy tờ có giá là một trong
những hoạt động giao dịch rất quan trọng. Nó giúp huy động vốn cho Ngân
Hàng. Tuy nhiên, hoạt động này đôi khi cũng có những rủi do nhất định. Các
Ngân Hàng có thể lâm vào hoàn cảnh khó khăn, có thể dẫn đến phá sản khi nợ
cha thu đợc hết mà ngày trái phiếu đáo hạn đã đến. Bởi vậy, để hoạt động này
diễn ra với hiệu quả lớn nhất mà chúng ta có thể làm đợc, chúng ta phải xây
dựng hệ thống cho vay để có thể thu hồi vốn nhanh chóng.
2.1.3Giao dịch vay vốn của Ngân Hàng Thơng Mại từ Ngân Hàng trung ơng:
Trong lịch sử Ngân Hàng, ngoài hình thức nhận tiền gửi và phát hành các
giấy tờ có giá thì việc huy động vốn từ Ngân Hàng trung ơng cũng là hình thức
đợc các Ngân Hàng Thơng Mại a sử dụng. Bởi lẽ, lợi ích của phơng thức này là
nó cho phép Ngân Hàng Thơng Mại có khả năng huy động vốn nhanh chóng,
kịp thời để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của mình.
Tại Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực thi chính
sách tiền tệ quốc gia cũng nh hoạt động kinh doanh Ngân Hàng trong điều kiện
nền kinh tế thị trờng đều quy định tổ chức tín dụng là Ngân Hàng đợc vay vốn
ngắn hạn của Ngân Hàng Nhà Nớc theo chế độ tái cấp vốn. Xét về phơng diện
kinh tế, giao dịch vay vốn của Ngân Hàng trung ơng là 1 trong những nghiệp vụ
quản lí tài sản nợ của Ngân Hàng Thơng Mại. Nghiệp vụ này không chỉ phản
ánh khoản nợ mà nó phải trả cho chủ nợ (Ngân hàng trung ơng) mà còn thể hiện
vai trò trung gian của Ngân Hàng Thơng Mại giữa Ngân Hàng trung ơng với
các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Còn theo phơng diện pháp lí, giao dịch
vay vốn Ngân Hàng trung ơng đợc quan niệm là hành vi pháp lí do Ngân Hàng
Thơng Mại thực hiện bằng cách kí kết các hợp đồng tái cấp vốn với Ngân Hàng
trung ơng để vay vốn ngắn hạn nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh doanh của mình.
7
Giao dịch vay vốn Ngân Hàng Thơng Mại từ Ngân Hàng trung ơng có
những đặc trng sau:
-Về hạn vay vốn của Ngân Hàng trung ơng, do mục đích vay vốn của Ngân
Hàng trung ơng đối với Ngân Hàng Thơng Mại là để thực thi chính sách tiền tệ
quốc gia và thực hiện chức năng giám sát hoạt động Ngân Hàng trong nền kinh
tế nên về nguyên tắc, Ngân Hàng Thơng Mại chỉ có thể vay tiền của Ngân Hàng
trung ơng trong thời hạn ngắn và khả năng vay dễ dàng hay khó khăn luôn phụ
thuộc vào yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân Hàng trung -
ơng trong từng thời kì.
-Về hình thức vay vốn của Ngân Hàng trung ơng. Ngân Hàng Nhà Nớc đợc
tái cấp vốn cho Ngân Hàng Thơng Mại theo các hình thức cho vay lại theo hồ
sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thơng phiếu và các giấy tờ có giá khác,
cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thơng phiếu và các giấy tờ có giá khác.
Mục đích tham gia vào giao dịch. Nếu Ngân Hàng trung ơng xác lập giao
dịch này với Ngân Hàng Thơng Mại là để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
và hoàn toàn không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận thì trái lại, Ngân Hàng Thơng
Mại lại tham gia vào giao dịch này nhằm mục tiêu chính là vay tiền để thỏa
mãn nhu cầu kinh doanh tiền tệ của mình với mục tiêu cuối cùng là thu lợi
nhuận tối đa.
2.1.4Giao dịch vay vốn của Ngân Hàng Thơng Mại từ tổ chức tín dụng khác
trên thị trờng liên Ngân Hàng:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, đôi khi một Ngân Hàng Thơng
Mại có thể lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời mà việc vay vốn của công
chúng bằng hình thức tiền gửi, phát hành trái phiếu hay thậm chí vay vốn của
Ngân Hàng trung ơng không thể nào giải quyết đợc. Trong những trờng hợp nh
vậy, giải pháp thích hợp nhất mà Ngân Hàng Thơng Mại có thể lựa chọn là đề
nghị tổ chức tín dụng khác cung cấp cho mình một khoản tín dụng thông qua
hình thức kí hợp đồng tín dụng hay hợp đồng chiết khấu, tái chiết khấu các giấy
tờ có giá với tổ chức tín dụng đó.
2.2Giao dịch thơng mại của Ngân Hàng Thơng Mại trong lĩnh vực cấp tín
dụng:
2.2.1Giao dịch cho vay của Ngân Hàng Thơng Mại:
Trong nền kinh tế thị trờng, cho vay là loại hình giao dịch cấp tín dụng
mang tính truyền thống và phổ biến nhất của Ngân Hàng Thợng Mại. Xét từ góc
độ kinh tế, cho vay đợc quan niệm là một nghiệp vụ quản lí tài sản của Ngân
Hàng Thơng Mại, theo đó phản ánh khoản tiền mà Ngân Hàng có thể đòi từ
phía khách hàng, với t cách là chủ nợ. Còn ở góc độ pháp lí, giao dịch cho vay
tiền và giao dịch cho vay vốn của Ngân Hàng Thơng Mại nói riêng có thể quan
niệm là một hợp đồng qua đó ngời cho vay cam kết giao cho ngời vay một
8
khoản tiền và ngời vay cam kết sẽ hoàn trả cho ngời vay khoản tiền tơng ứng
với số tiền đã vay kèm theo khoản lãi do các bên thỏa thuận.
Đặc trng cơ bản của hoạt động cho vay:
-Giao dịch cho vay của Ngân Hàng luôn có mục đích và tạo ra hệ quả là tạo
ra một hợp đồng cho vay với khách hàng.
-Mục đích cho vay của Ngân Hàng là ứng vốn cho ngời vay sử dụng trong 1
thời hạn nhất định để đợc nhận tiền lãi, thông qua hành vi chuyển giao quyền sở
hữu vốn cho ngời vay.
-Hệ quả pháp lí của việc cho vay là Ngân Hàng phải chuyển giao quyền sở
hữu tài sản là vốn vay cho bên vay bằng thủ tục giải ngân theo phơng thức đã
thỏa thuận trong hoạt động tín dụng.
Giao dịch cho vay của Ngân Hàng Thơng Mại là một trong những hoạt
động quan trọng. Nó là nguồn thu nhập chính của mỗi Ngân Hàng giúp cho
Ngân Hàng có thể tồn tại và phát triển đợc. Tuy nhiên, đây cũng chính là hoạt
động mang nhiều rủi do cao. Nó có thể làm sụt giảm nguồn vốn của những
Ngân Hàng bởi những khoản nợ khó đòi hoặc không thể chi trả. Công việc cho
vay này tùy thuộc vào nhân viên phòng tín dụng. Đây là phòng đầu não, quan
trọng nhất, đợc hởng lơng cao nhất và cũng nhiều rủi do nhất trong lĩnh vực
Ngân Hàng. Nhiều nhân viên trong ngành Ngân Hàng do thiếu kinh nghiệm,
nghiệp vụ yếu kém đã xác minh nguồn gốc tài sản thế chấp của khách hàng lệch
so với giấy tờ gây hậu quả nghiêm trọng. Chẳng hạn một căn nhà nhng một ng-
ời lại thế chấp vay tiền tại nhiều Ngân Hàng khác nhau. Nhng đây chỉ là những
trờng hợp vô ý. Còn có ngững trờng hợp cố ý gây thất thoát tài sản Nhà Nớc
XHCN. Do họ đợc trích % hoa hồng từ hợp đồng cho vay bởi vậy họ làm ăn
thiếu trách nhiệm, đôi khi làm ngơ trớc những sai trái của ngời vay tiền. Đã có
rất nhiều sự kiện liên quan đến các hoạt động tín dụng cho vay của các Ngân
Hàng Thơng Mại. Đặc biệt trong nhng năm gần đây là vụ của Lã Thị Kim Oanh
vay tiền của các Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn Việt Nam
nhng không có khả năng chi trả gây thất thoát lớn tài sản Nhà Nớc. Một phần
nguyên nhân làm sự việc diễn ra là do các cán bộ của Ngân Hàng thiếu trách
nhiệm, nhận quà hối lộ của đối tợng. Để những vấn đề này không tiếp tục diễn
ra, các Ngân Hàng cần phảI chỉnh đốn lại đội ngũ cán bộ của mình. Chúng ta
phải tạo ra một môi trờng làm việc chuyên nghiệp. Đặc biệt là về chế độ lơng
bổng, phải trả lơng theo đúng năng lực của những ngời làm việc. Chỉ khi nào họ
có đợc cuộc sống đầy đủ cho gia đình của họ thì họ mới có thể đóng góp hết
mình cho Đảng, Nhà Nớc nói chung và hệ thống Ngân Hàng của Việt Nam nói
riêng.
2.2.2Giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá:
-Chiết khấu là dịch vụ cấp tín dụng ngắn hạn của Ngân Hàng cho khách
hàng, dựa trên kĩ thuật chuyển nhợng một trái quyền từ khách hàng cho Ngân
Hàng với giá cả đợc hai bên thỏa thuận thấp hơn giá trị bề mặt của chứng th xác
nhận trái quyền đợc chuyển nhợng.
9
-Về mặt lí thuyết, tuy là một trong những loại hình cấp tín dụng nhng giao
dịch chiết khấu giấy tờ có giá có nhiều điểm khác biệt so với các loại hình giao
dịch tín dụng khác của Ngân Hàng Thơng Mại nh giao dịch cho vay hay giao
dịch bảo lãnh Ngân Hàng.
Sự khác biệt ở chỗ:
+Giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá luôn có mục đích và hệ quả tạo ra một
hợp đồng mua bán trái quyền có tính đặc thù, có tên gọi là hợp đồng chiết khấu
giấy tờ có giá. Tính đặc thù của hợp đồng này thể hiện ở chỗ: đối tợng mua bán
là các trái quyền còn thời hạn thanh toán ngắn, giá bán của trái quyền bao giờ
cũng thấp hơn giá trị thực tế của trái quyền đợc giao dịch.
+Chiết khấu giấy tờ có giá tuy là một nghiệp vụ tín dụng nhng về phơng diện
pháp lí, nó không phải là một hành vi cho vay vì Ngân Hàng không cho khách
hàng vay số tiền mà sau đó họ sẽ phải hoàn trả trực tiếp cho Ngân Hàng vào
ngày đáo hạn.
+Giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá tuy có đIểm giống với giao dịch
Factoring ở chỗ cả hai loại hình giao dịch thơng mại này phía Ngân Hàng đều
phải ứng trớc tiền cho khách hàng đang sở hữu các trái quyền cha đến hạn thanh
toán. Nhng chiết khấu giấy tờ có giá khác với giao dịch Factoring ở chỗ nghiệp
vụ chiết khấu chỉ có thể do các Ngân Hàng thực hiện đối với khách hàng là mọi
tổ chức cá nhân, sở hữu thơng phiếu hay các giấy tờ có giá khác.
+Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá khác với nghiệp vụ cho vay cầm cố
giấy tờ có giá ở chỗ, việc chiết khấu có mục đích là hệ quả chuyển quyền sở
hữu thơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho Ngân Hàng để sau đó
Ngân Hàng đòi tiền của ngời mắc nợ theo đúng vào ngày đáo hạn.
+Nghiệp vụ chiết khấu khác với nghiệp vụ tín dụng thâu chi ở chỗ, chiết
khấu có độ an toàn cao hơn so với thấu chi và khách hàng đợc chiết khấu không
phải là ngời mắc nợ chính của Ngân Hàng. Sau khi họ đợc sử dụng số tiền trên
thanh toán vợt qua số d hiện có theo sự đồng ý của Ngân Hàng, trong hạn mức
thấu chi đã thỏa thuận.
Trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá thì điều quan trọng nhất là phải
xác minh tính hợp pháp các giấy tờ mà khách hàng đã cầm cố. Tuy nhiên trong
điều kiện nớc ta hiện nay thì giao dịch này vẫn cha đợc thịnh hành. Trong xã
hội Việt Nam hiện nay đang diễn ra tình trạng các doanh nghiệp cần vốn đầu t
muốn vay vốn Ngân Hàng không đợc. Trong khi đó một số nơi lại thừa kinh phí
dẫn đén các hành vi tham ô tài sản XHCN. Đặc biệt là các doanh nghiệp t nhân
muốn vay vốn của Ngân Hàng là rất khó khăn bởi Ngân Hàng Thơng Mại của
chúng ta hầu hết chỉ phục vụ các doanh nghiệp Nhà Nớc. Bởi vậy để có thể phát
huy đợc thế mạnh của hình thức giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá chúng ta
phải đẩy mạnh hoạt động cho vay sang các doanh nghiệp t nhân. Họ là những
ngời dám nghĩ, dám làm. Chỉ có thành phần kinh tế này mới có thể thúc đẩy
nền kinh tế nớc ta phát triển một cách mạnh mẽ.
2.2.3Giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng:
10
Xét về phơng diện thuật học, bảo lãnh Ngân Hàng vừa có ý nghĩa là danh
từ kinh tế, vừa có tính cáchlà một thuật ngữ pháp lí.
+Với ý nghĩa là một danh từ kinh tế, bảo lãnh Ngân Hàng đa giới Ngân
Hàng hiện nay và thậm chí cả những nhà làm luật quan niệm nh một nghiệp vụ
cấp tín dụng của Ngân Hàng cho khách hàng, thông qua việc Ngân Hàng cam
kết trả nợ thay cho khách hàng cho bên có quyền, nếu đến hạn mà ngời này
không tự thực hiện đợc nghĩa vụ của mình.
+Với tính cách là một thuật ngữ pháp lí, bảo lãnh Ngân Hàng đợc định nghĩa
tơng đối khác nhau giữa pháp luật thực định và luật học.
Bảo lãnh Ngân Hàng khác với các hình thức bảo lãnh khác là:
+Chủ thể của giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng chính là các Ngân Hàng có đủ
điều kiện pháp lí do pháp luật quy định. Việc bảo đảm các điều kiện này đối với
chủ thể thực hiện giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng chính là nhằm bảo đảm sự an
toàn cho quyền lợi của các chủ thể tham gia vào giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng
cũng nh lợi ích chung của toàn xã hội.
+Bảo lãnh Ngân Hàng là loại hình giao dịch pháp lí đợc chủ thể là Ngân
Hàng thực hiện một cách thờng xuyên, liên tục và mang tính chất chuyên
nghiệp. Vì thế, giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng thờng đợc giới luật gia quan
niệm là một hành vi thơng mại của Ngân Hàng và do đó chịu sự điều chỉnh của
pháp luật thơng mại cũng nh pháp luật Ngân Hàng.
+Giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng đợc thiết lập giữa 3 chủ thể. Trong đó Ngân
Hàng là chủ thể tham gia trực tiếp vào 2 quan hệ pháp luật, quan hệ giữa Ngân
Hàng với khách hàng đợc bảo lãnh và quan hệ giữa Ngân Hàng với ngời đợc
bảo lãnh, bên có quyền.
+Bảo lãnh Ngân Hàng là loại hình bảo lãnh có thu phí. Sở dĩ nh vậy là bởi vì,
khi đứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát hành th bảo lãnh, Ngân
Hàng có t cách là ngời làm dịch vụ cho khách hàng nên đơng nhiên có quyền
thu phí dịch vụ bảo lãnh nh một khoản tiền công dịch vụ.
+Giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng có mục đích và hệ quả tạo lập 2 hợp đồng,
gồm hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Hai hợp đồng này tuy có
mối liên hệ nhân quả với nhau, ảnh hởng lẫn nhau nhng vẫn hoàn toàn độc lập
với nhau về cả phơng diện chủ thể và cả phơng diện quyền, nghĩa vụ pháp lí của
các chủ thể.
+Giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng không phải là giao dịch 2 bên hay 3 bên mà
là 1 giao dịch kép. Sở dĩ có thể quan niệm bảo lãnh Ngân Hàng là giao dịch kép
là bởi vì để đạt đợc mục đích và động cơ chủ yếu của mình là phát hành th bảo
lãnh theo yêu cầu của khách hàng và gửi cho bên có quyền, bên nhận bảo lãnh
để nhận tiền thù lao dịch vụ thì Ngân Hàng không thể không tiến hành kí kết cả
2 hợp đồng theo thứ tự: hợp đồng dịch vụ bảo lãnh đợc giao kết trớc và hợp
đồng bảo lãnh đợc giao kết sau.
+Theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh Ngân Hàng là giao dịch không thể hủy
ngang bởi những ngời đại diện có thẩm quyền của Ngân Hàng Thơng Mại.
+Bảo lãnh Ngân Hàng đợc xác lập và thực hiện dựa trên chứng từ. Tính chất
chứng từ của bảo lãnh Ngân Hàng thể hiện ở chỗ cả khi Ngân Hàng phát hành
11
cam kết bảo lãnh cũng nh ngời bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu ngay khi
Ngân Hàng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của ngời bảo lãnh, của chủ thể này đều
bắt buộc phải thiết lập bằng van bản.
+Bảo lãnh Ngân Hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện. Tính chất về đIều
kiện của bảo lãnh Ngân Hàng thể hiện ở chỗ, Ngân Hàng bảo lãnh phải thực
hiện nghĩa vụ đối với ngời nhận bảo lãnh ngay sau khi ngời này đã xuất trình
các chứng từ phù hợp với nội dung của th bảo lãnh hay cam kết bảo lãnh do
Ngân Hàng phát hành mà không phụ thuộc vào việc ngời đợc bảo lãnh có khả
năng tự thực hiện nghĩa vụ của họ hay không.
Giao dịch bảo lãnh Ngân Hàng là 1 trong những giao dịch mới phát triển
của ngành Ngân Hàng trong thời gian gần đây. Tuy đây là dịch vụ tạo ra nhiều
lợi nhuận cho Ngân Hàng và kèm theo nó là những mối quan hệ đối với những
ngời đợc bảo lãnh nhng nó cũng đi kèm với không ít dủi do. Đây là những dủi
do tiềm tàng cho Ngân Hàng có thể gây thất thoát lớn cho các Ngân Hàng.
Chăng hạn 1 Ngân Hàng Thơng Mại đứng ra bảo lãnh cho một doanh nghiệp
nào đó trên thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên, cổ phiếu của doanh nghiệp này bị
sụt giảm mạnh thì Ngân Hàng sẽ chịu những tổn thất rất nặng nề. Bởi vậy để
tránh khỏi những dủi do đó, các Ngân Hàng phải có sự kiểm định kĩ lỡng trớc
khi kí hợp đồng bảo lãnh cho 1 tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp cụ thể. Việt
Nam ta hiện nay thì loại hình này cha thực sự phát triển mà chỉ tồn tại dới dạng
tiềm năng. Nguyên nhân là do nền kinh tế nớc ta cha phát triển đến độ chín, thị
trờng chứng khoán nớc ta vẫn đang trong thời kì non trẻ. Đây đợc mong là loại
hình giao dịch tơng lai đem lại nhiều lợi nhuận cho các Ngân Hàng Thơng Mại
Nhà Nớc cũng nh các Ngân Hàng cổ phần ở Việt Nam.
2.3Giao dịch mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh
toán:
Khái niệm:
Dịch vụ Ngân Hàng từ lâu đã trở thành 1 nghề kinh doanh phổ biến của các
Ngân Hàng trong nền kinh tế thị trờng. Về mặt học thuật, dịch vụ Ngân Hàng đ-
ợc hiểu là thỏa thuận giữa Ngân Hàng và khách hàng về việc Ngân Hàng sử
dụng chuyên môn kĩ thuật nghiệp vụ Ngân Hàng để làm giúp khách hàng 1 số
công việc nhất định theo yêu cầu của khách hàng. Trên cơ sở đó, yêu cầu khách
hàng thanh toán cho mình một khoản tiền công dịch vụ.
Trong lịch sử Ngân Hàng thế giới, những dịch vụ Ngân Hàng truyền thống
và lâu đời nhất đợc biết đến từ thế kỉ 15 là dịch vụ mở tài khoản tiền gửi thanh
toán cho khách hàng và dịch vụ làm trung gian thanh toán cho khách hàng và
các chủ tài khoản với nhau.
Cơ chế hình thành giao dịch mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung
ứng dịch vụ thanh toán:
Việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng và cung ứng dịch vụ
thanh toán cho khách hàng tuy có thể tách ra 2 loại hình giao dịch độc lập với
nhau để kí kết cả 2 loại hợp đồng nhng rõ ràng điều này là không cần thiết.
12
Trong khi chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng một giảI pháp khác hợp lí hơn. Đó
là chỉ cần giao kết 1 hợp đồng nhng bao gồm cả 2 nội dung. Ngân Hàng cam
kết mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng và cam kết cung ứng dịch vụ thanh
toán cho khách hàng.
Trong thời đại ngày nay, ở Việt Nam có rất nhiều loại hình dịch vụ Ngân
Hàng tiện ích nh: Dịch vụ chuyển khoản, các loại thẻ tín dụng, ATM hay
VISA
+Trong dịch vụ chuyển tiền của Ngân Hàng ở nớc ta hiện nay thì nói chung
cũng đã đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, dịch vụ này so với các
nớc trong khu vực và trên thế giới thì rất lạc hậu. Dịch vụ này còn chậm vì hệ
thống thông tin nội bộ của Ngân Hàng cha nhanh nhạy. Điều quan trọng là hệ
thống các Ngân Hàng Thơng Mại của nớc ta không kết nối với nhau. Chẳng
hạn, một khách hàng muốn chuyển tiền từ Ngân Hàng Agribank đến Ngân
Hàng Vietcombank hay ngợc lại không thể thực hiện đợc. Sự không kết nối
mạng lới Ngân Hàng với nhau không những khó khăn trong việc chuyển khoản
mà còn gây nhiều khó khăn trong nhiều vấn đề khác. Bởi vậy, Đảng và Nhà N-
ớc ta cần nhanh chóng tạo ra mạng thông tin nội bộ giữa các Ngân Hàng với
nhau.
+Tuy nhiên, loại phổ biến nhất, thông dụng nhất trong các loại hình dịch vụ
Ngân Hàng ở Việt Nam hiện nay là thẻ ATM (hay còn đợc gọi là máy rút tiền
tự động). Đây là dịch vụ rất tiện ích, phổ biến mà tất cả các các Ngân Hàng lớn
nhỏ trên toàn thế giới đều sử dụng. Nó giúp khách hàng có thể thanh toán ở siêu
thị, các loại phí dịch vụ nh điện thoại hay nhiều loại hình khác. Đặc biệt, nó
giúp khách hàng có thể rút tiền từ tài khoản của mình mà không cần phải đến
Ngân Hàng, tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Nó giúp cho khách hàng không
phải thờng xuyên mang theo tiền mặt trong ngời. Tuy nhiên, cùng những tiện
ích của mình thì loại hình dịch vụ ATM vẫn có rất nhiều bất cập ở trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam ta nói riêng. Trên thế giới đã có nhiều trờng hợp thẻ
ATM bị làm giả và lấy tiền của khách hàng. Nó làm mất lòng tin nơi khách
hàng. Việt Nam ta gần đây nhất là vụ khách hàng kiện Ngân Hàng
Techcombank. Chị Trần Thị Thanh Thủy ở xí nghiệp thơng mại mặt đất Nội Bài
khởi kiện Ngân Hàng TMCP Kỹ Thơng Việt Nam về việc mất 30 triệu đồng khi
sử dụng thẻ thanh toán ATM đã thu hút sự chú ý của d luận. Không những thế,
thị trờng Ngân Hàng nớc ta đang diễn ra cuộc chạy đua phát hành thẻ ATM
giữa các Ngân Hàng với nhau. Cuộc cạnh tranh diễn ra dới các hình thức nh
giảm giá làm thẻ ATM của Ngân Hàng Vietcombank, hay Ngân Hàng
Agribank thì miễn phí dịch vụ làm thẻ ATM. Tuy số lợng thẻ đợc làm ra rất
nhiều nhng tiện ích của thẻ ATM không đợc phổ biến rõ cho khách hàng biết.
Đồng thời, cơ sở vật chất kĩ thuật của nớc ta còn quá yếu kém, nghèo nàn, lạc
hậu để có thể dùng thẻ ATM làm phơng tiện thanh toán. Không những thế, việc
nhập khẩu các loại máy ATM chất lợng không đảm bảo với công nghệ lạc hậu
làm cho dịch vụ này ít phát huy hiệu quả. Điển hình là Ngân Hàng Nông
13
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam tuy số lợng máy ATM là rất lớn nh-
ng các máy của Ngân Hàng này thờng làm việc kém hiệu quả, hay diễn ra hiện
tợng nuốt thẻ, gây mất thời gian cho khách hàng. Có ngời phải đi nhiều phòng
giao dịch mới có thể rút tiền, mới có thể thực hiện đợc giao dịch mà mình mong
muốn. Đó là một vấn đề hết sức bất cập, gây mất lòng tin của khách hàng. Hay
nh Ngân Hàng Ngoại Thơng Việt Nam có chất lợng và uy tín nhất trong khối
Ngân Hàng Thơng Mại Nhà Nớc cũng có những thiếu xót nhất định. Bởi vậy, để
có đợc những dịch vụ tiện ích đến với đông đảo khách hàng, đáp ứng đợc nhu
cầu của khách hàng thì Ngân Hàng Nhà Nớc Việt Nam cần phải có một sự điều
chỉnh nhất định, trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta phải tiếp thu công nghệ mới nhất,
tiên tiến nhất trên thị trờng thế giới. Đặc biệt là máy móc công nghệ phải đi trớc
một bớc, phải nhập các thiết bị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực đủ mạnh, tránh
để nớc ta tụt hậu và trở thành bãi rác thải của thế giới.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét