Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014
Kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh việt nam hiện nay
5
13]. Cách thứ hai là đưa ra định nghĩa về hành vi này, tùy thuộc từng trường hợp và cách giải
quyết của cơ quan quản lý cạnh tranh mà hành vi đó có được coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường hay không. Ví dụ như Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc: "Hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị
trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh" [49,
tr 52].
Có thể nhận thấy hai cách tiếp cận này chỉ nhau ở tính chủ động của hành vi. Nếu như cách
tiếp đầu tiên dựa vào hậu quả của hành động, tức là khả năng làm cản trở, sai lệch hoặc làm giảm
cạnh tranh; thì cách thứ hai lại xem xét hành vi ở mục đích khi chủ thể hành động, nhằm tăng
cường và củng cố địa vị của mình thông qua việc ngăn chặn đối thủ thực tế hoặc tiềm năng tham
gia thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh cho phép. Bình luận trên góc độ lý luận và áp
dụng thực tiễn, khái niệm được xây dựng theo cách thức đầu tiên sẽ gây khó khăn trong cách hiểu
và áp dụng thực thi bởi cách xác định được căn cứ trên phương pháp định tính. Ngược lại, xác
định sự duy trì hay tăng cường vị trí của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lại đơn giản
hơn nhiều. Nhưng dù hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường được khái
niệm theo cách thức nào thì về cơ bản khi giải quyết các vụ việc về hành vi lạm dụng, cơ quan có
thẩm quyền của của các nước sẽ tiến hành xác định ba nội dung: (i) chủ thể được xem xét có vị trí
thống lĩnh thị trường hay không; (ii) chủ thể đó có thực hiện hành vi lạm dụng hay không; và (iii)
hành vi lạm dụng đó gây ra hoặc có khả năng gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh hay không.
Về bản chất, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một dạng của hành vi hạn chế
cạnh tranh nhằm khai thác lợi thế mà vị trí thống lĩnh thị trường đem lại. Hành vi này khác với
hành vi thỏa thuận ở chỗ các doanh nghiệp không có sự thỏa thuận trước nhưng cùng hành động
các hành vi vi phạm để loại bỏ đối thủ, gây thiệt hại đến khách hàng…
1.1.3. Khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Hiểu một cách chung nhất, kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được
hiểu là: (i) tổng thể các cơ chế, thiết chế bảo đảm cho chủ thể có quyền kiểm soát hạn chế cạnh
tranh thực hiện chức năng theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện, chấp hành, tuân thủ các quy
chuẩn hành vi đạo đức và pháp luật của các chủ thể bị kiểm soát; (ii) thực hiện chức năng ngăn
ngừa nhằm bảo đảm cho những đối tượng này luôn nằm trong quỹ đạo của các yêu cầu về pháp
luật, các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và bảo đảm để các quy định về cạnh tranh được thực
hiện đúng và có hiểu quả; (iii) trong những trường hợp nhất định, pháp luật kiểm soát hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường sẽ áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc để loại bỏ những hoạt
động sai trái và vi phạm.
Bản chất của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể hiện thông
qua hai góc độ hành vi và góc độ cơ chế. Nhìn từ góc độ hành vi, kiểm soát sự lạm dụng là sự tác
động từ phía cơ quan, chủ thể có thẩm quyền đối với doanh nghiệp bị kiểm soát Ở góc độ cơ
chế, vấn đề này được thể hiện ở ba khía cạnh là sự phân quyền trong nội bộ chủ thể có quyền
kiểm soát; kiểm soát dựa trên sự giới hạn của chủ thể có thẩm quyền đối với quyền tự do kinh
doanh của khách thể; và kiểm soát dựa trên mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm soát.
1.2. Quan niệm chung về pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
Về cách thức và phạm vi điều chỉnh. Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường cần phải được điều chỉnh trong một đạo luật chung có vài trò điều tiết các hành vi
thương mại, xây dựng và duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh như luật cạnh tranh. Ngoài ra,
trong từng pháp luật chuyên ngành cũng cần thiết phải có sự điều chỉnh vấn đề này phù hợp với
phạm vi, đối tượng và phương pháp mà luật đó điều chỉnh.
6
Về hình thức điều chỉnh, khi thiết kế các quy phạm cần phải tuân theo giá trị của văn bản
pháp luật chứa đựng nó. Điều này sẽ đảm bảo cho mức độ điều chỉnh, tính hiệu lực và khả năng
sửa đổi, bổ sung của quy định được phù hợp.
Về mục đích, việc áp dụng pháp luật kiểm soát không nhằm loại bỏ vị trí thống lĩnh thị
trường mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí này để trục lợi và bóp méo cạnh tranh. Một khi
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn
là chủ thể được pháp luật bảo vệ.
Về cơ chế điều chỉnh, cơ chế điều chỉnh pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường phải là một hệ thống các biện pháp pháp luật gồm quy phạm pháp luật (các
quy định vị trí thống lĩnh thị trường, về hành vi lạm dụng), quan hệ pháp luật (các quan hệ của
doanh nghiệp đến đối thủ, người tiêu dùng và nhà nước) và thực hiện pháp luật chống lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường (quản lý của cơ quan nhà nước, áp dụng các biện pháp chế tài, điều tra và
xử lý các hành vi vi phạm).
Về tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện. Pháp luật về kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường không những cần đáp ứng các quan niệm về phương pháp, phạm vi, hình
thức, mục đích và cơ chế điều chỉnh được phân tích ở trên mà còn phải tôn trọng các tiêu chí: tuân
theo các quy định của điều ước quốc tế về vấn đề này; tôn trọng truyền thống, tập quán và đạo
đức kinh doanh; kết hợp hài hòa lợi ích của người sản xuất, kinh doanh với những chủ thể sản
xuất, kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của nhà nước và xã hội…
1.3. Đặc điểm, vai trò của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
1.3.1. Đặc điểm
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát hành vi thống lĩnh thị trường thị trường nhằm mục đích
tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, cân bằng lợi ích của các chủ thể trên thị trường và thúc đẩy
sự phát triển của kinh tế xã hội quốc gia.
Thứ hai, pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ can thiệp
vào những nơi, những quan hệ, những hành vi không đảm bảo sự cạnh tranh mang tính hiệu quả
(những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường làm triệt tiêu hoặc hạn chế cạnh tranh).
Thứ ba, do mức độ phức tạp và nguy hại cho thị trường của hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường nên thái độ của nhà nước và cơ quan quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực pháp luật
này cũng nghiêm khắc và quyết liệt hơn.
Thứ tư, trách nhiệm kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trước hết sẽ thuộc về các cơ
quan có thẩm quyền quản lý cạnh tranh mà không cần thiết phải có sự tố cáo hay khiếu kiện từ
phía đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng của doanh nghiệp bị kiểm soát hay từ phía người dân.
Thứ năm, pháp luật chống hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là bước phát triển
cao hơn của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và là sự tiếp nối cho pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh.
1.3.2. Vai trò
Thứ nhất, góp phần duy trì tương quan thị trường trong môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Giới hạn các quyền và lợi ích của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nhằm tránh
hành vi lạm dụng. Đồng thời, điều hòa lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường với lợi
ích chung của toàn xã hội.
Thứ hai, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bằng con đường cạnh
tranh lành mạnh. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu cực do hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh gây ra. Góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường.
7
Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển của nguyên tắc tự do kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo có sự
quản lý và điều tiết của nhà nước. Đóng góp cho việc xây dựng khung hành lang pháp lý chống
hạn chế cạnh tranh nói riêng và pháp luật kinh doanh nói riêng.
Thứ tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh lành mạnh nhưng
yếu thế của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Tăng cường sức mạnh tự bảo vệ của
người tiêu dùng trước những hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp này.
Thứ năm, giúp Việt Nam nhanh chóng mở rộng thị trường và đáp ứng nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế và bảo vệ nền kinh tế thị trường quốc gia.
1.4. Pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế trong việc kiểm soát hành vi lạm
dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
1.4.1. Pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Luật cạnh tranh
Điều 11 Luật cạnh tranh 2004 xác định một hoặc một nhóm các doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường, thông qua thị phần của chủ thể trên thị trường liên quan hoặc khả năng gây
hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của doanh nghiệp. Tại Điều 13 Luật cạnh tranh 2004 và
Điều 27 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, các nhà lập pháp đã liệt kê và minh thị rõ sáu nhóm hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm.
Theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường rất
nguy hiểm và để lại hậu quả lớn cho xã hội, do đó không có quy định trường hợp miễn trừ. Các
trường hợp vi phạm sẽ được áp dụng chế tài được quy định tại Nghị định số 120/2005/NĐ-CP.
Việc giám sát và xử lý các trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh
được Luật cạnh tranh trao cho Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng quản lý cạnh tranh. Chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của hai cơ quan quản lý cạnh tranh này được quy định cụ
thể tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP.
Pháp lệnh giá
Về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, tại các Điều 11 và Điều 12
Pháp lệnh giá 2002 đã ghi nhận về hiệp thương giá giá giữa bên mua, bên bán khi không thống
nhất được giá ký hợp đồng đối với hàng hoá, dịch vụ quan trọng có tính chất độc quyền mua, độc
quyền bán không thuộc phạm vi định giá của Nhà nước; các điều từ Điều 19 đến Điều 21 của
Pháp lệnh quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải kiểm soát độc quyên khi phát hiện có
dấu hiệu liên kết độc quyền về giá, việc hình thành giá độc quyền; hay các quy định về chống bán
phá giá như các hành vi được coi là bán phá giá, các hành vi bị cấm, khiếu nại tố cáo và điều tra
xử lý bán phá giá. Tuy nhiên, các quy định này chỉ dừng ở Pháp lệnh thì chưa bảo đảm tính quyền
lực của quy phạm. Vì lẽ đó, hiện nay, Văn phòng Chính Phủ đang phối hợp với Bộ Tài chính tiến
hành tổ chức các hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật giá.
Luật chứng khoán
"Thông đồng để thực hiện việc mua bán chứng khoán nhằm tạo cung, cầu giả tạo; Giao
dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục mua, bán để thao túng giá
chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác để thao túng giá chứng
khoán" [48, Điều 9] hoặc các giao dịch của cổ đông lớn của công ty đại chúng làm thay đổi số
lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá 1% so với số lượng cùng loại đang lưu hành [48, Điều 99]; là
những trường hợp Luật chứng khoán 2006 quy định cần phải có sự kiểm soát nhằm ngăn chặn các
tổ chức, cá nhân lợi dụng vị trí thống lĩnh của mình gây ảnh hưởng đến bình ổn thị trường.
1.4.2. Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường
8
Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm chính trị xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế
giống với Việt Nam. Về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, pháp luật cấm
các doanh nghiệp đang có được vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền: sử dụng mọi hành vi hối
lộ, đút lót để có được lợi thế khi mua bán hàng hóa; nghiêm cấm mọi hành vi bán phá giá một
cách phi lý để loại trừ cạnh tranh… Trường hợp doanh nghiệp bán phá giá hoặc hạ giá các hàng
hóa tươi sống; háng ế hoặc sắp hết hạn sử dụng; hàng hóa theo mùa… sẽ được miễn trừ trách
nhiệm
Đối với các trường hợp không thuộc trường hợp miễn trừ, các chế tài kinh tế, hành chính
hoặc hình sự sẽ được áp dụng tùy theo tính chất và mức độ của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Thanh tra Trung ương có trách nhiệm giám sát chính và có toàn quyền xử lý các trường hợp vi
phạm.
Luật Thương mại Hàn Quốc gồm 14 chương, 71 điều và 3 phụ lục. Pháp luật đưa hai
cách thức nhận diện thế nào là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường: (i) nhận biết thông qua
mục đích; và thông qua dấu hiệu thị phần, quy mô doanh nghiệp và rào cản thị trường. Pháp luật
cấm các doanh nghiệp này được thực hiện các hành vi: ấn định, duy trì và thay đổi một cách bất
hợp lý giá cả; kiểm soát một cách bất hợp lý việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ… Các biện
pháp có thể được áp dụng như buộc các doanh nghiệp có hành vi vi phạm hạ giá thành; chấm dứt
hành vi, công bố công khai việc vi phạm pháp luật; bồi thường thiệt hại phạt tiền không quá 3%
doanh thu. Tuy nhiên, nếu khoản doanh thu không tồn tại hoặc có khó khăn trong việc tính toán
doanh thu thì mức phạt không quá 1 tỷ won.
Ủy ban thương mại lành mạnh có trách nhiệm duy trì chính sách pháp luật và thực thi
nhiệm vụ kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Chƣơng 2 – THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG CỦA DOANH
NGHIỆP CÓ VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƢỜNG THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
CẠNH TRANH VIỆT NAM
2.1. Thực trạng lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng trong
bối cảnh kinh tế - xã hội từ khi Luật cạnh tranh ra đời cho đến nay
2.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội từ khi Luật cạnh tranh ra đời cho đến nay
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong các năm 2005 đến 2010 giữ mức 7%/năm.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, đạt 42,9% GDP. Hầu
hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá nhưng chưa đồng đều. Bên
cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều biến động dẫn đến lạm phát tiêu dùng được xác
định ở mức cao nhất với bình quân 55%, gây khó khăn, bức bách cho hoạt động kinh doanh của
tất cả các doanh nghiệp, các ngành lĩnh vực cũng như đời sống của người dân. Nguyên nhân chủ
yếu là do tác động hệ quả của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh
tế thế giới khiến cho các hoạt động tập trung kinh tế ở quy mô có khả năng chi phối thị trường
ngày càng tăng.
Một vấn đề khác đặt ra cho bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
của Việt Nam là sự mất cân đối trong tương quan thị trường giữa khu vực kinh tế Nhà nước và
các khu vực khác. Vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền hiện nay gần như hoàn toàn thuộc về
khối doanh nghiệp nhà nước. Khách quan nhìn nhận rằng, sự cạnh tranh diễn ra trên thị trường
kinh doanh Việt Nam ngày càng khốc liệt và có nguy cơ bị lạm dụng từ phía các doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền trong và ngoài nước.
2.1.2. Nhận thức của xã hội, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước về Luật cạnh
tranh và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
9
Thông qua thực tiễn có thể thấy, đa số các vụ việc vi phạm cạnh tranh đều xuất phát từ
khả năng nhận thức chưa được đầy đủ và đúng đắn của doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về nội dung của các quy định pháp luật. Nhận thức đối tượng doanh nghiệp, hiệp
hội tăng đều qua các năm nhưng không đều. Mức độ nhận biết của cộng đồng doanh nghiệp Việt
Nam về Luật cạnh tranh đang ở mức đáng lo ngại. Ngược lại, đa phần doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài lại nghiên cứu và hiểu rất rõ về pháp luật cạnh tranh.
Đối với nhóm đối tượng cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương, ảnh hưởng của cơ
quan quản lý cạnh tranh đến chính cách cơ quan nhà nước còn rất mờ nhạt. Thậm chí, các Sở, Ban
ngành địa phương cũng không hề biết có Cục quản lý cạnh tranh; một số đơn vị nghe nói nhưng
không biết chức năng, nhiệm vụ của cơ quan.
2.1.3. Tình trạng lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường và thương mại toàn cầu hóa, ngày càng
có nhiều vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường diễn ra và bị xử lý
trên thế giới, điển hình như trường hợp Microsoft, vụ Deutsche Telekom… Ở Việt Nam, từ khi
Luật cạnh tranh ra đời cho đến nay, Cục quản lý cạnh tranh mới chỉ thụ lý và điều tra 02 vụ việc
liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường do doanh nghiệp nộp hồ sơ khiếu
nại. Về hoạt động điều tra tiền tố tụng, năm 2010, Cục quản lý cạnh tranh đã thực hiện điều tra
tiền tố tụng các vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đã từng xảy ra trong năm 2009 và
vẫn tiếp tục tiếp diễn đầu năm 2010. Về công tác xử lý, Hội đồng cạnh tranh chưa tiến hành xử lý
một vụ việc nào liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà mới chỉ dừng lại
đình chỉ một vụ việc và giải quyết trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh thị trường – lạm dụng
vị trí độc quyền. Bên cạnh các vụ việc đã được cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện và đang tiến
hành điều tra xử lý, trên thị trường Việt Nam hiện nay còn xuất hiện một loạt các hành vi khác có
dấu hiệu vi phạm điều cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cần phải được kiểm soát nhưng
chưa có căn cứ để tiến hành cáo buộc vi phạm như trường hợp hạn chế số lượng xuất bản lịch
bloc, quyết định giá bán…
2.2. Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh vấn đề kiểm soát hành vi
lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
2.2.1. Những quy định về xác định thị trường liên quan
Thị trường liên quan theo Luật cạnh tranh Việt Nam gồm hai khía cạnh: Thị trường sản
phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Theo đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị
trường của hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế được cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá
cả; thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể (được đo bằng khoảng cách không
gian, có thể là một quận, thành phố, quốc gia…) trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay
thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể so với các khu vực
lân cận. Thông thường, cơ quan điều tra sẽ căn cứ vào một trong hai khía cạnh trên để tiến hành
đo sự thay đổi về cầu tiêu dùng khi có sự tăng giá hàng hóa, dịch vụ. Pháp luật cạnh tranh Việt
Nam cũng cho rằng việc nhận diện thị trường liên quan chỉ được coi là hoàn thiện khi có đánh giá
sự thay thế về cung – xác định các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan. Trong một số
trường hợp đặc biệt thị trường sản phẩm liên quan sẽ được xác định là thị trường của một loại sản
phẩm đặc thù hoặc một nhóm các sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấu trúc thị trường và tập quán
của người tiêu dùng. Tuy nhiên, khi xác định theo các cách thức này, cơ quan điều tra gặp khá
nhiều vướng mắc như: (i) trong xác định thị trường sản phẩm liên quan, mức tăng giá giả định của
Việt Nam chưa phù hợp, dễ dẫn đến sự lạm dụng do không có biên độ dao động cụ thể; (ii) xác
định thị trường địa lý liên quan trong thực tế gặp rất nhiều phức tạp do các loại hàng hóa, dịch vụ
trên thị trường rất đa dạng, nhiều sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau và nhu cầu của người
tiêu dùng là khác nhau nên điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng khác nhau; trong xác định các doanh
10
nghiệp trên cùng một thị trường liên quan, khó khăn đặt ra là việc phân biệt thay thế về cung với
cạnh tranh tiềm năng.
2.2.2. Xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp
Thị phần
Thị phần của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp X= (doanh thu hoặc doanh số của X/
tổng doanh thu hoặc doanh số của ngành) x 100.
Đây cũng là cách thức xác định được đa số các nước trên thế giới quy định và sử dụng.
Tuy nhiên, khi áp dụng căn cứ thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường, cơ quan điều tra
gặp phải một số vướng mắc sau: (i) Thị phần luôn thay đổi theo thời gian và theo nhu cầu của thị
trường. Mọi diễn biến trên thị trường hoặc những yếu tố khách quan khác đều có thể ảnh hưởng
đến cấu trúc thị phần của thị trường liên quan đó; (ii) doanh thu, doanh số của doanh nghiệp có
thể được hình thành từ việc nhiều thị trường liên quan. Việc kiểm tra chứng từ, sổ sách kế toán, tài
chính chưa thể đem lại kết luận cần thiết và việc bóc tách số liệu sẽ không đơn giản do cần phải
biết được phân khúc thị trường để xác định thị phần; (iii) nếu theo nguyên tắc tính thị phần, cơ
quan điều tra phải cộng dồn doanh thu, doanh số của tất cả các chủ thể trên phân khúc thị trường
liên quan. Tuy nhiên, trên một trục dọc các hàng hóa, dịch vụ bị cộng dồn, doanh thu của một số
doanh nghiệp đã bị cộng chồng, trong khi lượng hàng hóa, dịch vụ luân chuyển trong các doanh
nghiệp này là như nhau. Để xử lý vấn đề này, cơ quan điều tra phải tốn kém thời gian bóc tách số
doanh thu của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau, sau đó mới xác định thị phần của
từng doanh nghiệp; (iv) xác định thị phần theo giá trị dẫn đến trong nhiều trường hợp gây khó
khăn cho cơ quan cạnh tranh trong quá trình thực thi vì không có cơ sở để xử lý vụ việc; đồng thời
cũng tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp trong quá trình cung cấp thống tin; (v) việc ấn định
mức thị phần tương ứng với doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp không đủ để chứng minh các
doanh nghiệp này có vị trí thống lĩnh thị trường.
Khả năng gây hạn chế một cách đáng kể
Phương pháp xác định này chỉ được áp dụng khi một hoặc một nhóm doanh nghiệp có
mức thị phần dưới quy định nhưng có khả năng hạn chế lớn đến cạnh tranh. Trong đó, năng lực
tài chính của doanh nghiệp; năng lực tài chính của cá nhân, tổ chức sáng lập hoặc có quyền kiểm
soát, chi phối doanh nghiệp; quy mô mạng lưới phân phối; quyền sở hữu, sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp… được coi là khả năng hạn chế một cách đáng kể. Có thể nói phương thức này
đã khắc phục cho những hạn chế đã được nói ở trên của phương thức xác định qua thị phần; góp
phần đấu tranh phòng và chống các hành vi lạm dụng sức mạnh tài chính, công nghệ từ giai đoạn
đầu; bảo đảm sự phát triển lành mạnh của thị trường và sự ổn định của môi trường kinh doanh.
Mặc dù vậy, các quy định về xác định khả năng gây hạn chế đáng kể mới chỉ dừng lại ở việc liệt
kê các tiêu chí cần được xem xét và trao quyền lựa chọn căn cứ áp dụng cho cơ quan quản lý cạnh
tranh, mà không đưa ra một con số định lượng cụ thể như mức tài chính của công ty mẹ, của
những người có quyền kiểm soát là bao nhiêu… Điều đó dễ dẫn đến sự chủ quan, tùy tiện trong
khi áp dụng, cũng như không đảm bảo việc xử lý được công bằng và hợp lý.
2.2.3. Những quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê sáu nhóm hành vi được coi là lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP từ Điều 23
đến Điều 31. Mặc dù pháp luật cạnh tranh không phân loại hành vi, nhưng căn cứ vào tính chất và
mục đích của chủ thể thực hiện có thể phân chia hành vi lạm dụng thành hai nhóm: Lạm dụng
mang tính áp đặt và trục lợi; và lạm dụng nhằm ngăn cản, loại bỏ đối thủ. Tuy vậy, dù ở nhóm
nào, hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đều gây hậu quả lớn đến
nền kinh tế và môi trường kinh doanh. Bởi lẽ đó, pháp luật cạnh tranh Việt Nam cấm tuyệt đối các
hành vi này mà không có chính sách miễn trừ.
11
Đối với nhóm lạm dụng mang tính áp đặt và trục lợi. Doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trường mong muốn thu được lợi nhuận không xuất phát từ hiệu quả kinh doanh mà bóc lột
thông qua điều kiện thương mại vô lý hoặc không công bằng. Đối tượng mà các doanh nghiệp này
hướng tới chính là khách hàng của mình.
Về hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp pháp hoặc ấn định lại giá bán
lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.Theo quy định của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, hành
vi áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ à chưa phù hợp và sẽ bỏ sót vi phạm. Vì không xử lý doanh
nghiệp tăng giá chưa đến 5% mặc dù giá trước đó đã tăng cao so với giá cấu thành của sản phẩm.
Hay ấn định giá bán lại tối đa cho khách hàng về cơ bản cũng là hành vi lạm dụng quyền lực và
đều gây thiệt hại cho người mua nhưng lại không được pháp luật cạnh tranh quy định.
Để xác định hành vi hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường,
cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng, cơ quan xử lý vụ việc sẽ
gặp khó khăn khi xác định mức độ khan hiếm của thị trường và sự biến động của thị trường.
Về áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh. Luật cạnh tranh không đưa ra cách thức xác định chi tiết tính tương tự về
giá trị và tính chất của sản phẩm khi mà giá trị ban đầu của các sản phẩm là không giống nhau,
nhất là khi xác định giá trị vô hình của dịch vụ. Mặt khác, ở khái niệm giao dịch như nhau nên
được hiểu như thế nào cũng không được quy định cụ thể.
Về áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc các nghĩa vụ không
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng. Để xác định sự vi phạm của hành vi không phải là
công việc đơn giản do dấu hiệu hành vi còn trìu tượng. Hơn nữa, các thủ đoạn áp đặt điều kiện
cho khách hàng không phải lúc nào cũng công khai và được che đậy bằng nhiều thủ thuật tinh vi
nên rất khó phát hiện.
Đối với nhóm hành vi lạm dụng nhằm ngăn cản, loại bỏ đối thủ, doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường có thể sẽ không tích tụ được tư bản nhưng có cơ hội củng cố và duy trì
hơn vị trí thống lĩnh thị trường vốn có. Việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh sẽ giảm bớt sức ép cho
doanh nghiệp; đồng thời cũng khiến khách hàng mất đi khả năng lựa chọn khi giao dịch trên thị
trường liên quan. Chính vì vậy, đối tượng mà nhóm hành vi hướng tới chính là những đối thủ hiện
hữu và đối thủ tiềm năng của mình.
Về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh. Hành vi này không bị cấm bởi mức giảm giá hiện tại mà bị lên án bởi có khả năng suy giảm
sản lượng và giá cả tăng vọt trong tương lai. Và khi xác định hành vi này cơ quan điều tra gặp khá
nhiều khó khăn do pháp luật không quy định cụ thể như: (i) giá thực tế được tính vào giai đoạn
nào và tại thời điểm nào; (ii) nếu có sự khác nhau về giá thực tế giữa các thị trường nhỏ khác nhau
thì ta lấy căn cứ nào để lựa chọn thị trường áp dụng; (iii) xác định giá dịch vụ thuộc các khu vực
địa lý khác nhau; (iv) việc bóc tách chi phí cấu thành sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất nhiều
mặt hàng không đơn giản…
Về hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới. Hành vi
nhằm hướng tới đối thủ cạnh tranh tiềm năng đang tìm cách tham gia thị trường liên quan. Vì vậy,
vướng mắc đặt ra khi xác định doanh nghiệp tiềm năng là chứng minh sự đồng nhất thị trường mà
doanh nghiệp vi phạm có vị trí thống lĩnh thị trường với thị trường mà doanh nghiệp mới đang có
ý định tham gia; hay không thể cân đong được mức độ ngăn cản của hành vi bằng số lượng do
nhu cầu đầu tư mới chỉ trong suy nghĩ; do đó trong một vụ kiện, cũng không có căn cứ chứng
minh người khiến nại có là đối thủ cạnh tranh mới hay không.
Mặc dù vậy, quan điểm nhìn nhận như trên cần phải được xem xét lại. Về mặt lý thuyết,
có những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường không mang tác động tiêu cực mà ngược
lại lại có mặt tích cực và tính phù hợp với thực tế. Khi xử lý những hành vi như vậy cần phải đối
12
chiếu tác động tích cực - tiêu cực của hành vi và cân nhắc hợp lý để đưa ra quyết định đúng đắn.
Trường hợp tác động tích cực lớn hơn tiêu cực thì có thể xem xét cho hưởng miễn trừ với những
điều kiện nhất định.
2.2.4. Các quy định về cơ quan quản lý
Theo pháp luật cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Bộ Thương mại (nay
là Bộ Công thương có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống
bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… Hội đồng cạnh tranh có
nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh
tranh. Có thể nói, về mặt lý luận, việc tổ chức hệ thống quản lý – tài phán cạnh tranh với hai cơ
quan riêng biệt của nước ta đã đảm bảo được sự phân cấp, phân quyền cũng như có tính cưỡng
chế thi hành trong xử lý các vụ việc cạnh tranh.
Tuy nhiên, do mới được thành lập và còn hạn chế về kinh nghiệm và nhân sự, hai cơ
quan này đã bộc lộ nhiều bất cập trong lý luận và thực tiễn tổ chức, hoạt động.
(i) Xét về mặt tổ chức. Hai cơ quan này chưa được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc độc
lập và chịu chi phối của Bộ Công thương;
(ii) Chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan chưa phù hợp. Trong khi Cục Quản lý cạnh
tranh quá nhiều nhiệm vụ như điều tra các vụ việc cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng… thì vai trò
của Hội đồng cạnh tranh khá mờ nhạt. Bộ máy quản lý cạnh tranh của Việt Nam là mô hình duy
nhất tồn tại trên thế giới.
(iii) Các cơ quan hành chính như Chính phủ, các bộ ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
thanh tra chuyên trách cũng được coi là bộ máy thực thi cạnh tranh theo quy định của luật chuyên
ngành. Nhưng lại hạn chế về nguồn nhân lực: cán bộ hành chính chỉ am hiểu về một chuyên
ngành cụ thể; số lượng chuyên viên hiểu biết và có kinh nghiệm chuyên sâu về cạnh tranh chưa
nhiều.
(iv) Hai hệ thống cơ chế giải quyết tranh chấp cạnh tranh hiện nay là cơ quan cạnh tranh
và cơ quan hành chính. Với khung quy định về chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ máy
này thì về cơ bản địa vị pháp lý, thẩm quyền giải quyết giữa chúng là ngang nhau mà không có sự
phân định thẩm quyền. Điều đó sẽ dẫn đến mâu thuẫn, chống chéo và ỉ lại của các cơ quan xét xử.
(v) Theo Báo cáo đánh giá năm thực thi luật cạnh tranh của Bộ Công thương, bộ máy giải
quyết cạnh tranh ở Việt Nam vẫn còn lúng túng trong xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường. Sự thiếu kinh nghiệm của cơ quan thực thi, thiếu kiến thức, ý thức của giới kinh doanh là
một trong những nguyên nhân làm cho bộ máy thực thi chưa làm tròn nhiệm vụ của mình.
2.2.5. Các biện pháp nhằm kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trường
Ở Việt Nam, các biện pháp xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được quy
định tại Điều 117 Luật cạnh tranh và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 120/2005/NĐ-CP. Theo
đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải chịu hình phạt chính là hình phạt tiền. Mức
phạt có thể lên đến 5% tổng doanh thu của năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Trong một số trường hợp đặc biệt, mức phạt có thể lên đến 10%. Các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường cũng có thể phải chịu thêm hình phạt bổ sung “tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được
từ việc thực hiện hành vi vi phạm”. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp vi phạm có thể
bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả như loại bỏ các điều khoản vi phạm
pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh… Trường hợp gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường. Pháp luật
cạnh tranh không đặt ra vấn đề phạt tù với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
13
Có thể nói, so sánh với pháp luật các nước, các biện pháp xử lý hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường của Việt Nam tương đối có sự tương đồng trong quan điểm nhận thức và
xây dựng các quy phạm. Tuy vậy, xét trên góc độ lý luận với thực tiễn xử lý, các quy định còn tồn
tại một số hạn chế sau: (i) về hình thức và mức độ xử lý đối với biện pháp phạt tiền có khung
phạt quá rộng. Đó là chưa kể đến doanh nghiệp sẽ bị phạt trên tổng doanh thu chứ không phải là
doanh thu trên thị trường liên quan. Mức phạt cũng không căn cứ trên lĩnh vực vi phạm, vai trò
của doanh nghiệp và nhóm hành vi cụ thể; (ii) về chính sách khoan hồng, Luật cạnh tranh cũng có
đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ làm căn cứ tính mức phạt, nhưng không có hướng dẫn
cách tính cụ thể. Điều này gây nhiều tranh cãi về việc áp dụng; có thể kéo theo sự tùy tiện của cơ
quan cạnh tranh trong quá trình cân nhắc và xử phạt; (iii) đối với những hành vi cố tình không
hợp tác, từ chối cung cấp thông tin, cung cấp thông tin sai lệch hay hủy tài liệu chứng cứ, mức
tiền phạt rất nhẹ chỉ từ “500.000 đến 3.000.000 đồng” nên không có tính giáo dục và răn đe; (iv)
đối với các biện pháp khắc phục hậu quả, nhìn chung còn mang tính hình thức, chưa gắn bó với
thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và thực tiễn cạnh tranh trên thị trường.
Khách quan mà thừa nhận rằng các quy định về chế tài đối với hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường trong pháp luật cạnh tranh của Việt Nam còn khá cứng nhắc. Các quy phạm
chủ yếu tập trung vào mục đích phạt răn đe, còn tính giáo dục chưa được thể hiện nhiều và các
biện pháp mang ý nghĩa tích cực khác chưa được xem xét áp dụng.
Chƣơng 3 – PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỊ
TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƢỜNG
3.1. Phƣơng hƣớng
3.1.1. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
phải được xây dựng trên quan điểm, đường lối và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
và Nhà nước
Có thể nói, ở bất cứ quốc gia nào có nền kinh tế thị trường đều đặt ra vấn đề phải điều tiết
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Những yếu tố này có liên quan chặt chẽ đến việc hình thành
thể chế kinh tế, việc tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà
nước thông qua việc tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh
tranh và hợp tác phát triển, đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế.
Nước ta cũng chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng có sự đặc thù là phát triển theo
định hướng Xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, bên cạnh việc tuân theo các nguyên tắc và quy luật
vận động khách quan của kinh tế thị trường, khi nghiên cứu xây dựng pháp luật cạnh tranh về
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chúng ta cũng phải dựa trên quan điểm,
đường lối của Đảng và Nhà nước.
Tại cuộc họp Đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta yêu cầu phải “tiếp tục hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp
luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế”
[20, tr 37] Để thực hiện chủ trương, quan điểm và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó,
pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường phải: Tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh
của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế; Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh;
Ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh để lũng đoạn thị trường;
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của doanh nghiệp và của người tiêu dùng Đặc
biệt, pháp luật cạnh tranh phải là hành lang pháp lý chung, tạo tiền đề cho pháp luật chuyên ngành
thực hiện kiểm soát cạnh tranh nói chung và kiểm soát lạm dụng sức mạnh thị trường nói riêng.
3.1.2. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
14
phải phù hợp với nguyên tắc kinh doanh; với phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức kinh
doanh; và quy luật vận động khách quan của nền kinh tế thị trường
Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một trong những công
cụ để nhà nước thực hiện quản lý cạnh tranh và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng và ban
hành quy phạm này trong Luật cạnh tranh phải phù hợp với nguyên tắc và quy luật vận động
khách quan của nền kinh tế thị trường.
Trước hết các quy phạm phải tuân thủ nguyên tắc hàng đầu và cơ bản của nền kinh tế thị
trường là nguyên tắc tự do kinh doanh. Nguyên tắc này được hiểu là mọi chủ thể đều có quyền
đầu tư, sản xuất kinh doanh theo những hình thức luật định; có quyền tự do ấn đính giá cả theo
quy luật cung cầu và sự chỉ dẫn của nhà nước về đăng ký, thương lượng và niêm yết giá; có quyền
cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong môi trường kinh doanh được pháp luật quy định và bảo hộ.
Theo ghi nhận tại Hiến Pháp 1992, trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay tồn tại
nhiều thành phần kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần này trong quan hệ sản xuất, kinh
doanh không bị phân biệt về quy mô, hình thức, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh; đều có quyền và
nghĩa vụ như nhau, bình đẳng trước pháp luật. Vì vậy, khi xây dựng quy phạm kiểm soát hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cần phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của
các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh đó, khi xây dựng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường cũng cần phải dựa trên nền tảng của các tập quán, thông lệ cạnh tranh lành
mạnh và những chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh. Bởi lẽ, “quy ước, thông lệ không thành văn
này lại là tổng hợp các quy phạm xã hội ở nhiều lĩnh vực, có tác động mạnh mẽ, điều chỉnh, kiểm
soát và chi phối hành vi kinh doanh của thương nhân”[27]. Đặc biệt ở nước ta, một đất nước có
truyền thốn nho giáo lâu đời ở phương Đông.
3.1.3. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
phải là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các chủ thể
kinh doanh và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Mặc dù quyền tự do kinh doanh cũng như sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã
được khẳng định trong Hiến Pháp và nhiều văn bản pháp luật; song trên thực tế vẫn còn tồn tại
những nội dung mang tính phân biệt đối xử, không tạo ra cơ hội cạnh tranh thực sự cho các chủ
thể kinh doanh của mọi thành phần kinh tế. “Khi không có sự bình đẳng thì sẽ không có nguyên
tắc bảo đảm cạnh tranh trung thực, công bằng, cơ chế cạnh tranh không thể vận hành và mặt tích
cực của kinh tế thị trường không thể phát huy được” [27]. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng cạnh
tranh không có tổ chức như hiện nay, cần thiết phải có pháp luật để chống lại các hoạt động hạn
chế cạnh tranh, đảm bảo sự công bằng, tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả các chủ thể kinh doanh
có tiềm năng tham gia quá trình cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh thực sự trở thành động lực phát
triển nền kinh tế.
Bên cạnh việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, “sự bình đẳng về cơ hội kinh doanh và
quyền cạnh tranh cho mọi chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, kiểm soát hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường còn là cơ sở để bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của người
tiêu dùng trong xã hội” [27]. Sự kết hợp giữa Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cơ chế
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh sẽ góp phần hoàn
thiện hơn công cụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nhà nước; giúp người tiêu dùng được
nâng cao ý thức bảo vệ quyền lợi của mình khi lựa chọn các sản phẩm của các doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh thị trường. Đồng thời cũng là công cụ để các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng thực
hiện tốt trách nhiệm của mình cũng như tích cực tham gia vào quá trình kiểm soát các hành vi hạn
chế cạnh tranh, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
3.1.4. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét