Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG , Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

- So sánh các phơng án hoạt động khác nhau.
- Kết luận và kiến nghị.
* Căn cứ vào nội dung nêu trên, quá trình thực hiện ĐGTĐMT thờng gồm
những bớc sau:
- Tiến hành các công tác chuẩn bị cho đánh giá nh tổ chức, kinh phí, phơng
tiện làm việc, t liệu, số liệu.
- Quyết định về phạm vi đánh giá với sự nhất trí của các bên có liên quan và
theo quyết định chính thức của cơ quan có trách nhiệm.
- Nắm tình hình khái quát về hoạt động phát triển và hiện trạng môi trờng.
- Xác định, phân tích và dự báo các tác động.
- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng tránh điều chỉnh.
- So sánh và đánh giá các phơng án hoạt động khác nhau.
- Biên soạn tài liệu tổng kết việc đánh giá.
- Thu thập ý kiến quần chúng.
- Chuyển kết quả cho cơ quan có thẩm quyền quyết định về hoạt động phát triển.
4.4. Các phơng pháp đánh giá tác động môi trờng.
Có nhiều phơng pháp khác nhau để thực hiện ĐGTĐMT nh:
- Phơng pháp liệt kê số liệu về thông số môi trờng.
- Phơng pháp danh mục các điều kiện môi trờng.
- Phơng pháp ma trận môi trờng.
- Phơng pháp chập bản đồ môi trờng.
- Phơng pháp sơ đồ mạng lới.
- Phơng pháp mô hình.
- Phơng pháp phân tích lợi ích chi phí mở rộng.
Mỗi phơng pháp để có u nhợc điểm riêng và tuỳ từng trờng hợp cụ thể mà ta
lựa chọn phơng pháp này để ĐGTĐMT.
Trong chuyên đề này để thực hiện ĐGTĐMT của làng nghề xã Dơng Nội tôi
sử dụng các phơng pháp sau:
7
4.4.1. Phơng pháp danh mục các điều kiện môi trờng.
Phơng pháp này đợc thực hiện dựa trên nguyên tắc là liệt kê thành một danh
mục tất cả các nhân tố môi trờng liên quan đến hoạt động phát triển đợc đem ra
đánh giá. Danh mục đó sẽ đợc gửi tới các chuyên gia đánh giá để từng ngời cho ý
kiến đánh giá riêng của mình, sau đó tổ chức đánh giá sẽ tổng hợp các ý kiến đánh
giá lại thành kết luận chung.
Tổng tác động của hoạt động phát triển đến môi trờng đợc tính theo công
thức sau:

==
=
m
1i
i2i
m
1i
i1i
WVW.VE
Trong đó:
V
i1
: là trị số chất lợng môi trờng lúc đề án hoạt động đợc thực hiện.
V
i2
: là trị số chất lợng môi trờng lúc đề án không đợc thực hiện.
W
i
: là tầm quan trọng của nhân tố môi trờng tính theo điểm quy ớc.
Công thức trên có thể đợc dùng để tính và so sánh TĐMT của những phơng
án khác nhau cho 1 hoạt động phát triển. ở phơng pháp này ta đã xem những nhân
tố môi trờng đợc liệt kê ra là những thuộc tính của môi trờng, những thay đổi của
các thuộc tính ấy cho ta những số chỉ thị về những diễn biến của môi trờng.
4.4.2. Phơng pháp ma trận môi trờng.
Phơng pháp này phối hợp liệt kê các hành động của hoạt động phát triển với
liệt kê những nhân tố môi trờng có thể bị tác động vào 1 ma trận. Hoạt động đợc
liệt kê trên trục hoành, nhân tố môi trờng đợc liệt kê trên trục tung hoặc ngợc lại.
Cách làm này cho phép xem xét các quan hệ nhân quả của những tác động khác
nhau một cách đồng thời.
Có các loại phơng pháp ma trận:
* Phơng pháp ma trận đơn giản: trong ma trận này, hành động nào có tác
động đến nhân tố môi trờng nào thì ta đánh dấu x biểu thị có tác động, nếu không
8
thì thôi. Phơng pháp này đơn giản nhng nó không cho ta biết mức độ tác động của
hành động đến môi trờng. Vì thế nó ít đợc sử dụng.
* Phơng pháp ma trận có định lợng: để khắc phục nhợc điểm của phơng
pháp trên thì ở phơng pháp này, trên các ô của ma trận không chỉ ghi có hay
không có tác động mà phải ghi mức độ và tầm quan trọng của tác động. Theo quy
ớc thì mức độ tác động đợc đánh giá theo 10 cấp. Không tác động thì đợc điểm 1,
tác động nhiều nhất đợc 10. Tầm quan trọng của tác động đối với nhân tố môi tr-
ờng cũng đợc ghi theo 10 cấp. Hết sức quan trọng đợc điểm 10, tầm quan trọng ít
đợc điểm 1. Việc cho điểm đều dựa vào cảm tính của ngời đánh giá.
Phơng pháp này sẽ đợc áp dụng để đánh giá tác động của hoạt động in -
nhuộm ở xã Dơng Nội đến môi trờng (đợc trình bày ở chơng sau).
4.4.3. Phơng pháp phân tích lợi ích - chi phí.
Phơng pháp này đợc coi là công cụ có hiệu lực cho việc ra quyết định thực
hiện các dự án đầu t, các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nó đợc vận dụng trong
phân tích hiệu quả các dự án sử dụng nguồn lực công cộng khi mà giá cả của nó
thờng không đợc phản ánh đầy đủ trên thị trờng. Phơng pháp này đòi hỏi rất nhiều
thông tin và phải định dạng đợc lợi ích và chi phí thích hợp khi thực hiện dự án và
nó đợc thực hiện trên quan điểm xã hội.
Để thực hiện phơng pháp này, trớc hết ta xét các vấn đề sau:
* Hạch toán hiệu quả trên quan điểm mới phù hợp với mục tiêu phát triển
bền vững.
Bất cứ một dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào ngời ta đều
quan tâm tới hiệu quả công việc. Vì thế cần phải hạch toán kinh tế cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Trớc kia việc hạch toán này đợc thực hiện trên phơng diện cá nhân tức là tính
toán các lợi ích và chi phí mà chủ dự án, ngời thực hiện các hoạt động sản xuất
kinh doanh phải bỏ ra và thu đợc về khi dự án hay các hoạt động sản xuất kinh
doanh đợc tiến hành.
9
Bằng cách hạch toán này, ngời ta đã bỏ qua chi phí mà xã hội phải bỏ ra (đối
với các hoạt động gây ra ngoại ứng tiêu cực) hoặc lợi ích mà xã hội thu về (đối với
trờng hợp có ngoại ứng tích cực). Vì thế kết quả hạch toán nhiều khi không chính
xác. Có thể một dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh đợc đánh giá là có
hiệu quả trên quan điểm cá nhân nhng thực tế khi hạch toán ta lại bỏ qua khoản
chi phí rất lớn mà xã hội phải bỏ ra. Đây chính là một trong những nguyên nhân
dẫn đến ô nhiễm môi trờng, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên do đó sẽ
xảy ra sự mất công bằng giữa các thế hệ.
Vì vậy để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững nh đã đề cập ở trên thị việc
hạch toán kinh tế không chỉ đơn thuần lấy hiệu quả kinh tế để đánh giá mà phải lấy
hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trờng tức là ta phải dựa trên quan điểm xã hội để xem
xét vấn đề chứ không dựa trên quan điểm cá nhân nh trớc kia nữa.
Kinh tế học môi trờng đợc xem nh một phụ ngành trung gian giữa kinh tế học
và môi trờng. Nói cách khác trong kinh tế môi trờng công cụ kinh tế đợc sử dụng
để nghiên cứu, bảo vệ môi trờng và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh
tế phải kể đến các vấn đề môi trờng.
Với sự phát triển của kinh tế học môi trờng, giờ đây các nhà kinh tế đã bớc
đầu tìm đợc cách gắn kết những vấn đề về môi trờng bằng tiền, quy các thiệt hại
và lợi ích về mặt xã hội ra tiền, đồng thời bảo đảm giá của tài nguyên phản ánh
đúng giá trị thực của nó. Ngoài ra còn cần phải quan tâm tới vấn đề công bằng xã
hội giữa các thế hệ cũng nh trong cùng một thế hệ. Trong những năm gần đây, ng-
ời ta đã đặt vấn đề nghiêm túc hơn đối với việc bảo tồn những tài sản thiên nhiên
và tài nguyên cho thế hệ mai sau.
* Quan điểm phân tích tình hình hiệu quả xã hội thông qua việc sử dụng CBA.
Phân tích lợi ích - chi phí (CBA: Const Benifit Analysis) là một kỹ thuật để
xác định hiệu quả của các dự án, các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó giúp cho
các nhà hoạch định đa ra những quyết định hợp lý về sử dụng lâu bền các nguồn
tài nguyên khan hiếm, làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh
trong các chơng trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. CBA đợc áp dụng vào
10
việc đánh giá các hệ thống tự nhiên, đánh giá chất lợng môi trờng và đánh giá hiệu
quả mang tính xã hội.
Mọi ngời thờng lập các quyết định dựa trên cơ sở của sự cân bằng về lợi ích
đạt đợc và thiệt hại phải chịu tức là giữa lợi ích và chi phí phải bỏ ra để có lợi ích
đó.
Chính xác hơn thì cứ cái gì đợc gọi là lợi ích nếu nó mang lại nhiều phúc lợi
hơn cho xã hội còn cái gì làm giảm phúc lợi của xã hội thì đợc gọi là chi phí. Điều
này có nghĩa là việc thực hiện CBA dựa trên quan điểm xã hội.
Chức năng cơ bản của CBA là tạo ra một sự phân phối lợi ích tốt hơn cho mọi
ngời. Sự việc A sẽ đợc chấp nhận khi:
(B
A
- C
A
) > 0
Với:
B : là lợi ích
C : là chi phí
Chi phí và lợi ích ở đây không đợc đo bằng tiền mà bằng phúc lợi xã hội và
đợc tính chung cho toàn xã hội chứ không cho riêng một cá nhân nào. Việc tính
toán này là tơng đối khó khăn song không phải là không thực hiện đợc. Chúng ta
sẽ làm đợc bằng cách xem xét mọi ngời cảm thấy nh thế nào, nhìn nhận vấn đề ra
sao, c xử thế nào, nói gì, bình luận gì. Vấn đề này đợc làm rõ ở phần trình bày về
công cụ WTP (Willing ness to Pays).
Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng công cụ phân tích CBA để đánh giá
hiệu quả hoạt động in - nhuộm ở làng nghề xã Dơng Nội trên phơng diện xã hội.
Ngoài những lợi ích - chi phí mà cá nhân (chủ cơ sở in - nhuộm) phải bỏ ra và thu
đợc khi thực hiện nhuộm - in hoa trên vải, chúng ta còn phải tính lợi ích mà xã hội
thu đợc nh tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, thúc đẩy phát triển ngành dịch
vụ, thúc đẩy phát triển giáo dục, y tế, cải thiện cơ sở hạ tầng, và những chi phí
mà xã hội phải bỏ ra nh ô nhiễm nguồn nớc, không khí, ảnh hởng xấu tới sức
khoẻ ngời dân xung quanh.
11
Để tính đợc những lợi ích và chi phí này chúng ta phải dựa vào công cụ CBA
với nội dung t tởng và kỹ thuật tính toán nh sau:
* Kỹ thuật phân tích căn cứ vào sự tăng, giảm thu nhập.
Sự giảm thu nhập, chi phí y tế và giảm phúc lợi xã hội do việc sản xuất gây ra
đối với môi trờng là căn cứ cho việc tính chi phí. Có thể ớc lợng mức độ giảm thu
nhập và chi phí y tế do sự thay đổi chất lợng môi trờng gây nên. Song việc đánh
giá ảnh hởng tới môi trờng và xã hội bằng phơng pháp này khi bệnh xảy ra trong
thời gian ngắn và không có di chứng lâu dài. Các bệnh mãn tính thì khó xử lý hơn.
Còn sự tăng thu nhập và tăng phúc lợi xã hội là căn cứ để tính lợi ích. Việc tính
toán này đợc thực hiện dựa trên giả thiết là thu nhập của ngời dân từ các nguồn
khác là không đổi chỉ có sự thay đổi trong thu nhập từ hoạt động của làng nghề.
Mà cụ thể ở đây, ngời dân tại xã Dơng Nội có nguồn thu chủ yếu là từ nông
nghiệp và ta giả định rằng nguồn thu này là không đổi mà thực tế thì năng suất
nông nghiệp ở đây có tăng nhng mức tăng không đáng kể.
* Kỹ thuật tính chi phí cơ hội.
Trong đề tài này chi phí cơ hội đợc tính cho những ngời dân, những công
nhân bị giảm sút sức khoẻ, ngoài chi phí y tế ra họ còn mất đi khoản lợi ích mà
nếu họ khoẻ họ có thể làm ra. Đây chính là khoản chi phí cơ hội do dức khoẻ bị
mất đi.
* Chi phí thay thế:
Kỹ thuật này đợc dùng để tính chi phí do nguồn nớc bị ô nhiễm. Nếu nguồn n-
ớc sạch thì ngời dân có thể dùng nguồn nớc này để sinh hoạt song vì bị ô nhiễm nên
họ phải thay thế bằng nớc máy. Khoản chi phí phải bỏ ra để dùng nớc máy chính là
một phần giá trị của nguồn nớc nếu nó không bị ô nhiễm.
* Sử dụng công cụ WTP, WTA để tính CBA.
Trong phân tích CBA chúng ta cần phải cụ thể hoá sự a thích hay độ thoả
dụng của cá nhân, của xã hội thành những con số. Điều này quả là khó đo và kho
stính toán nhng thực tế chúng ta làm đợc bằng cách xem mọi ngời cảm thấy thế
nào, nhìn nhận vấn đề ra sao, c xử thế nào trớc vấn đề đặt ra.
12
Chúng ta có thể hỏi những ngời có liên quan xem họ bằng lòng trả bao nhiêu
(WTP) nếu A xảy ra (A tác động tích cực) hoặc bằng lòng chấp nhận bao nhiêu
(WTA) nếu A tác động tiêu cực.
Song trên thực tế thì những ngời đợc hỏi thờng nói không chính xác mức
WTP, WTA và thờng nói thấp hơn mức WTP mà mình mong muốn còn đối với
WTA thì thờng nói cao hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên gia kinh tế môi trờng thì WTP
mà họ trả lời chỉ bằng 70% đến 90% WTP thực sự họ mong muốn còn WTA thì
bằng khoảng 110% đến 130%.
Vì vậy trong đề tài này khi sử dụng công cụ WTP và WTA chúng tôi đã có
điều chỉnh lại để cho mức độ chính xác đợc cao hơn.
13
II-/ Bớc đầu hạch toán hiệu quả của việc thực hiện các biện
pháp giảm thiểu.
2.1. Các giả thiết cho việc phân tích hiệu quả.
- Tất cả các tổ hợp in nhuộm đều phải xử lý chất thải trớc khi thải ra môi trờng.
- Giá thành các chất xử lý nh phèn nhôm, vôi, axít H
2
SO
4
, than hoạt tính là
không đổi qua các năm.
- Quy mô của các tổ hợp là bằng nhau và trung bình thải ra 30
3
nớc thải 1 ngày.
2.2. Hạch toán chi phí của các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm.
Nh đã phân tích ở trên thì chất thải chủ yếu của hoạt động in nhuộm là nớc
thải. Nớc thải của quá trình sản xuất này không qua xử lý (hoặc chỉ xử lý sơ bộ) đã
thải ra môi trờng bên ngoài gây ô nhiễm nguồn nớc và gián tiếp gây ô nhiễm đất.
Nguồn nớc bị ô nhiễm cũng ảnh hởng tới sức khoẻ của dân c trong xã. Vì vậy việc
xử lý nớc thải của hoạt động in nhuộm trớc khi thải ra môi trờng là rất cần thiết.
Nếu nớc thải đợc xử lý thì sẽ tránh đợc sự ô nhiễm nguồn nớc, ô nhiễm đất và sức
khoẻ của ngời dân trong xã cũng không bị ảnh hởng. Do đó hoạt động in nhuộm
sẽ không gây thiệt hại về nguồn nớc, về năng suất cây trồng, về sức khoẻ dân c,
Ngoài ra các tổ hợp in nhuộm còn thải ra các chất thải rắn nh xỉ than, vải
vụn, rác thải, và các chất thải khí nh CO
2
, CO, SO
2
Vậy để có thể phát triển
bền vững, các tổ hợp in nhuộm phải kết hợp giữa sản xuất và các biện pháp để xử
lý chất thải.
2.2.1. Hạch toán chi phí xử lý nớc thải.
a. Thu hồi xút.
Xút đợc sử dụng để làm bóng vải nên vải đợc ngâm trong dung dịch xút trớc
khi in nhuộm. Dung dịch xút sau khi đợc dùng ngâm vải một thời gian thì đợc thải
ra và thay thế bằng dung dịch mới. Nồng độ của dung dịch xút khi thải ra khoảng
180mg/l. Do đó, nếu xút đợc thu hồi lại thì vừa tiết kiệm đợc xút, vừa làm giảm
nồng độ xút trong nớc thải. Nếu thu hồi xút bằng phơng pháp đã trình bày ở trên
thì chi phí là 430 đồng/1 (l) mà mỗi tổ hợp sử dụng khoảng 250 (l) dung dịch xút 1
ngày, chi phí thu hồi xút là:
430 x 250 = 107.500 đồng.
Còn chi phí cho việc thay thế dung dịch xút mới là:
540 x 250 = 135.000đ.
Vậy việc thu hồi xút sẽ tiết kiệm cho mỗi tổ hợp 1 ngày là: 27.500 đồng.
Số tiền tiết kiệm đợc do thu hồi xút của tất cả các tổ hợp 1 năm là: 196,35 triệu.
Tổng số tiền tiết kiệm do thu hồi xút của tất cả các tổ hợp trong suốt 20
năm quy về giá trị hiện tại là: 1956,9245 triệu.
b. Chi phí xử lý n ớc thải.
áp dụng công nghệ xử lý nớc thải nh đã trình bày ở trên thì mỗi tổ hợp sẽ xây
dựng 1 hệ thống xử lý gồm 1 bể điều hoà, 1 bể phản ứng, 2 bể lắng, 1 bể ép cặn.
Dung tích của các bể này khoảng 35 đến 40m
3
vì trung bình mỗi tổ hợp thải ra
khoảng 30m
3
nớc thải/ngày. Chi phí để xây dựng toàn bộ hệ thống này khoảng 55
triệu. Hệ thống đợc sử dụng trong vòng 20 năm với chi phí bảo dỡng khoảng 2
triệu/năm.
- Lợng phèn nhôm sử dụng là 600mg/m
3
với giá 3.000đ/kg.
Chi phí cho phèn nhôm 1 năm của 1 tổ hợp là:
600 x 10
-3
x 3.000 x 30 x 340 = 18.360.000đ = 18,36 triệu.
- Lợng vốn sử dụng là: 300 - 400 mg/m
3
với giá 400đ/kg.
Chi phí cho vôi của 1 tổ hợp trong 1 năm là: 1,632 triệu.
- Lợng H
2
SO
4
sử dụng là khoảng 6,7ml/m
3
với giá 2.000đ/(l)
Chi phí cho H
2
SO
4
của 1 tổ hợp 1 năm là 0,13668 triệu.
- Than hoạt tính đợc sử dụng khoảng 1 năm thay thế 1 lần với chi phí là
200.000đ hay 0,2 triệu/năm.
- Cần 1 ngời để tiến hành xử lý với tiền công là 25.000đ/ngời/ngày.
Chi phí tiền công lao động 1 năm là: 8,5 triệu.
Chi phí lu động cho việc xử lý nớc thải 1 tổ hợp 1 năm là: 28,83 triệu.
Vì quy mô của các tổ hợp tăng 5%/năm nên khối lợng nớc thải cũng tăng
5%/năm, do đó chi phí lu động cũng tăng 5%/năm. Vậy tổng chi phí xử lý nớc thải
của tất cả các tổ hợp quy về thời điểm hiện tại là: 8967,777 triệu
2.2.2. Hạch toán chi phí xử lý chất thải rắn.
Chất thải rắn của các tổ hợp chủ yếu là xỉ than, vải vụn, rác thải, Xử lý chất
thải này bằng cách thu gom tập trung tại 1 điểm quy định để công ty môi trờng đô
thị Hà Tây đa đến bãi đổ rác. Việc thu gom chất thải rắn của mỗi tổ hợp cần 1
công nhân với tiền công là 25.000đ/ngời/ngày. Mỗi tổ hợp phải trả cho công ty
môi trờng đô thị Hà Tây là 10.000đ/ngày (theo ý kiến của phó giám đốc công ty
môi trờng đô thị Hà Tây). Vậy chi phí thu gom chất thải rắn của tất cả các tổ hợp
trong suốt 20 năm là: 2490,5982 triệu.
2.2.3. Chi phí xử lý ô nhiễm không khí.
Nh đã trình bày ở trên, xử lý ô nhiễm không khí bằng việc trồng nhiều cây
xanh quanh tổ hợp. Việc trồng cây có thể huy động công nhân tham gia nên không
cần phải trả công. Do vậy chi phí này coi nh không có.
Nh vậy, khi áp dụng các biện pháp xử lý chất thải mặc dù phát sinh các
khoản chi phí nh đã nêu ở trên nhng lại không phải tính đến các C
3
(thiệt hại do ô
nhiễm nớc), C
4
(thiệt hại ô nhiễm đất), C
5
(thiệt hại ô nhiễm không khí), C
6
(thiệt
hại về sinh vật), C
7
(thiệt hại sức khoẻ dân c xung quanh).
Tổng kết lại ta có bảng sau:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét