Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên ở viện đại học mở hà nội



Quản lý chính là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau [10, Tr. 13].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều
hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
xã hội” [5, Tr. 31]
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc
trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ
quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà
trường.
1.1.2.2. Mục tiêu của quản lý giáo dục
Thông qua định nghĩa về quản lý giáo dục ta có thể thấy mục tiêu của quản lý giáo dục.
Đó chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học
hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường. Những thông
số này được xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế – xã
hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
1.1.2.3. Đối tượng của quản lý giáo dục
Đối tượng của quản lý quá trình giáo dục đào tạo là sự hoạt động của cán bộ, giáo viên,
học sinh, sinh viên và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và
chương trình giáo dục đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo đã quy định với chất
lượng cao.
Công tác quản lý quá trình giáo dục đào tạo có nhiệm vụ quản lý sự hoạt động của cán
bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình giáo
dục đào tạo của nhà trường.
1.1.2.4. Phương pháp quản lý giáo dục
Cũng như bất cứ một hệ thống quản lý nào khác, quản lý giáo dục phải sử dụng các
phương pháp quản lý chung. Tuy nhiên, các phương pháp quản lý khác phải là đa năng, hoàn
toàn đúng với mọi trường hợp, vấn đề là người sử dụng, vận dụng nó một cách linh hoạt sẽ cho
kết quả cao hơn.
Có nhiều phương pháp quản lý được áp dụng trong quản lý quá trình Giáo dục-Đào tạo:
Phương pháp thuyết phục, Phương pháp tổ chức hành chính, Phương pháp tâm lý, Phương pháp
kinh tế.
1.1.2.5. Đặc điểm của quản lý giáo dục


Muốn quản lý quá trình giáo dục đào tạo đạt được kết quả như mong muốn, người quản
lý cần phải đáp ứng một số yêu cầu sau: Phải nắm vững bản chất, chức năng, nhiệm vụ, nội dung
và các yếu tố của quá trình.
1.1.3. Quản lý nhà trường (trong bối cảnh hiện nay)
Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản.
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm
sao đưa hoạt động đó dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý
lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và
tiến tới mục tiêu giáo dục.
1.1.4. Sinh viên, một số đặc trưng tâm lý – xã hội của sinh viên hiện nay
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên
- Sinh viên: là danh từ được gọi chung cho người học ở bậc cao đẳng, đại học.
Sinh viên có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Là những người đã tốt nghiệp tú tài… đã qua kỳ thi tuyển sinh đại học cấp quốc gia mới
được trúng tuyển chính thức vào học các trường đại học, cao đẳng. Họ là thanh niên ưu tú, có
học lực từ khá đến xuất sắc ở trường trung học phổ thông, các loại (trường chuyên hoặc bình
thường), thông minh, tiếp thu nhanh, có động cơ, ý thức học tập, ham học hỏi…
- Về cơ cấu tâm lý – xã hội có đặc điểm riêng là: có độ tuổi từ 17,18-24,26, chưa có nghề
nghiệp, còn lệ thuộc gia đình, việc làm không ổn định, có tri thức, được đào tạo chuyên môn, tâm
lý dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách. Nhận thức cũng chưa đầy đủ, dễ bị kích động
và lôi kéo khi những gì vượt qua phạm vi của khái niệm khoa học hạn hẹp đã học. Đây là một
trong những nhược điểm mà nhà trường, các nhà giáo dục cần lưu ý để khắc phục và hướng các
em đi đúng mục tiêu đào tạo.
1.1.4.3. Nhiệm vụ của sinh viên
1.1.4.4. Quyền của sinh viên
1.1.4.5. Các hành vi sinh viên không được làm
1.1.5. Biện pháp quản lý sinh viên
1.1.5.1. Biện pháp quản lý
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một
công việc cụ thể nào đó”.
1.1.5.2. Biện pháp quản lý sinh viên


Biện pháp quản lý sinh viên là nội dung, cách thức, cách giải quyết vấn đề sinh viên của
nhà trường cùng những lực lượng ngoài nhà trường có liên quan đến sinh viên nhằm hình thành
nhân cách của sinh viên theo yêu cầu, mục tiêu đào tạo, tiến dần tới mục đích đào tạo.
1.2. Nội dung công tác quản lý sinh viên
1.2.1. Hoạt động quản lý sinh viên
1.2.1.1. Hoạt động quản lý sinh viên là gì?
Hoạt động quản lý sinh viên là công tác quản lý của các nhà quản lý giáo dục, các lực lượng
giáo dục và các tổ chức sư phạm trong trường học tham gia, lập và thực hiện kế hoạch, tổ chức lãnh
đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch giáo dục - đào tạo sinh
viên của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục - đào tạo đã quy định với chất lượng đào tạo.
1.2.1.2. Mục đích quản lí sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Quản lý sinh viên nhằm góp phần hình thành và phát triển ở sinh viên nhân cách người
lao động có chất lượng và trình độ cao, có lý tưởng cách mạng, đạo đức trong sáng, nhận thức
chính trị vững vàng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có hiểu biết kiến thức khoa học – kỹ thuật
công nghệ rộng và chuyên sâu, có tay nghề cao cả về lý thuyết lẫn thực hành đáp ứng yêu cầu
của thị trường lao động và xã hội. Có ý thức kỷ luật, trung thực, say mê nghiên cứu khoa học và
có khát vọng vươn lên trong học tập để chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức khoa học, trung thành với
Đảng, cách mạng, tận tuỵ suốt đời cống hiến sức trẻ, trí tuệ cho nhân dân và cho Tổ Quốc Việt
Nam XHCN.
1.2.1.3. Nhiệm vụ quản lí sinh viên
Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và điều
chỉnh bổ xung về công tác sinh viên.
1.2.1.4. Nguyên tắc quản lí sinh viên
Nội dung phương pháp và việc tổ chức quản lý sinh viên phải đảm bảo nguyên lý giáo
dục và đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Nguyên tắc kết hợp Nhà nước xã hội
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính kế hoạch
+ Nguyên tắc về tính cụ thể, cá thể, thiết thực và hiệu quả
+ Nguyên tắc trách nhiệm, tự chủ và phân công trách nhiệm
1.2.2. Nội dung công tác quản lý sinh viên
Công tác quản lý sinh viên là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên theo
đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành. Tổ chức


giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên. Tổ chức, quản lý đời sống vật chất và
tinh thần của sinh viên.
1.2.2.1. Nội dung công tác quản lý sinh viên (Công tác học sinh-sinh viên)
1.2.2.2. Hệ thống tổ chức làm công tác quản lý sinh viên.
1.2.3. Vai trò, vị trí của công tác sinh viên ở trường đại học
Công tác quản lý sinh viên là một bộ phận trọng tâm, chủ yếu hình thành nhân cách cho
sinh viên trong toàn bộ quá trình tổ chức đào tạo ở các trường đại học. [2, Tr .3]
1.2.4. Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội sinh viên trong công tác quản lý sinh viên
Tiểu kết chương 1
Sau khi trình bày các khái niệm, công cụ và thuật ngữ có liên quan với trọng tâm bàn về
vai trò quản lý sinh viên, những vấn đề đặc điểm của quản lý sinh viên trong chương 1, luận văn
đã làm rõ các cơ sở lý luận khoa học về vấn đề nghiên cứu. Tác giả dựa vào tài liệu, tư liệu, phân
tích hệ thống một cách cơ bản và làm rõ các khái niệm về sinh viên trong bối cảnh nhà trường ở
nước ta hiện nay. Đồng thời nêu lên một số khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý sinh viên và
nội dung công tác quản lý sinh viên hiện nay. Những cơ sở lý luận của công tác quản lý sinh viên
nêu trên tạo điều kiện và định hướng cho việc tìm hiểu thực trạng và đề ra giải pháp cho công tác
quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn hiện tại và tương lai.

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ
HÀ NỘI

2.1. Giới thiệu chung về Viện Đại học Mở Hà Nội
“Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào
tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm
lực cán bộ khoa học, kỹ thuật cho đất nước”
“Viện Đại học Mở Hà Nội là tổ chức hoạt động trong hệ thống các trường đại học Quốc
gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý và được hưởng mọi quy chế của một trường đại
học công lập” [32, Tr. 4]
2.2. Thực trạng sinh viên hệ chính quy tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Số sinh viên đang học tại Viện hiện nay: 46.542 sinh viên
- Hệ chính quy : 8042 sinh viên
- Hệ tại chức : 5.500 sinh viên
- Hệ từ xa : 32.000 sinh viên
- Các hệ khác : 1.000 sinh viên


Đặc điểm của sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội: Sinh viên học hệ
chính quy của VĐHMHN là công dân Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tốt
nghiệp phổ thông trung học hoặc tương đương; Đạt yêu cầu trong kỳ thi tuyển sinh Đại học
chính quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; Không trong thời gian bị thi hành án và bị
truy cứu trách nhiệm hình sự; Có đủ sức khoẻ để học tập và lao động theo quy định. Sinh
viên Viện Đại học Mở Hà Nội là học sinh đã tốt nghiệp phổ thông ở tất cả các tỉnh thành
trong cả nước có tuổi đời từ 18 đến 24 tuổi và có lực học phổ biến ở mức trung bình khá.
Vì điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, không có ký túc xá nên 100% sinh
viên của nhà trường đều ở ngoại trú rải rác trên khắp địa bàn thành phố Hà Nội.
* Những mặt tích cực của sinh viên
* Những mặt hạn chế của sinh viên
2.3. Thực trạng biện pháp quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
2.3.1. Các văn bản pháp quy về quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội
2.3.1.1. Các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác quản lý sinh viên hệ chính quy
được thực hiện ở Viện Đại học Mở Hà Nội
2.3.1.2. Quy định của Viện Đại học Mở Hà Nội về công tác quản lý sinh viên
Viện Trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội quy định chức năng của các đơn vị trong Viện về
công tác quản lý sinh viên như sau:
- Phòng Quản lý Đào tạo: Có chức năng quản lý đào tạo sinh viên từ khâu tuyển sinh, quá
trình học tập đến việc tổ chức cho sinh viên thi tốt nghiệp.
- Phòng Công tác chính trị và sinh viên: Phòng mới được thành lập từ ngày 29 tháng 4
năm 2005, Phòng có nhiệm vụ: Là đầu mối trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị tư
tưởng cho sinh viên, xây dựng môi trường học đường trong sạch, lành mạnh, góp phần nâng cao
chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên.
- Phòng Tổ chức - Hành chính: Cấp giấy chứng nhận cho sinh viên giải quyết các vấn
đề hành chính, dân sự
- Thư viện
- Văn phòng Đoàn TNCS HCM
- Các khoa chuyên môn: quản lý trực tiếp sinh viên, phối hợp với các phòng, ban và các
tổ chức có liên quan trong việc quản lý sinh viên.
2.3.2. Thực trạng việc quản lý học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy
Việc quản lý học tập của sinh viên của Viện thực hiện theo đúng quy chế của BGD&ĐT
song chất lượng đào tạo chưa cao, số sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi còn rất ít, đa số sinh viên
tốt nghiệp chỉ đạt ở mức trung bình khá. Công tác quản lý học tập của sinh viên chưa được quan tâm


đúng mức, năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên còn rất hạn chế. Chưa ứng dụng được công
nghệ tin học vào công tác quản lý đào tạo.
2.3.3. Thực trạng Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được quan tâm
với nhiều hình thức đa dạng. Viện đã tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá, văn
nghệ, thể dục, thể thao và các hoạt động khác của sinh viên. Những hạn chế trong công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên: Công tác giáo dục chưa được thường
xuyên, việc tổ chức cho sinh viên nghe báo cáo thời sự còn ít; chưa tổ chức được các diễn đàn
cho sinh viên được gặp Ban giám hiệu nhà trường bày tỏ tâm tư nguyện vọng nên chưa thực sự
nắm bắt được diễn biến tư tưởng của sinh viên; Quy định về đánh giá phân loại đạo đức cho sinh
viên chưa được triển khai, nên chưa thúc đẩy được việc tu dưỡng, rèn luyện của sinh viên
2.3.4. Thực trạng việc thực hiện các chế độ chính sách đối với sinh viên Viện Đại học Mở Hà
Nội
Viện đã thực hiện đầy đủ các chế độ miễn giảm học phí dành cho sinh viên thuộc các đối
tượng gia đình chính sách, chế độ bảo hiểm cho sinh viên, xác nhận vay tín dụng đào tạo… theo
đúng quy định, tuy nhiên là một trường đại học công lập nhưng lại hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ tài chính nên việc cấp học bổng cho sinh viên còn hạn chế.
2.3.5. Thực trạng công tác quản lý sinh viên ngoại trú
Hịên nay Viện không có ký túc xá cho sinh viên do đó 100% sinh viên ở ngoại trú, trong
đó một số ở với gia đình, số còn lại phải thuê nhà ở chiếm khoảng 70% Hiện nay Viện vẫn
chưa quản lý được sinh viên ngoại trú. Một số khoa mới chỉ dừng ở việc cho sinh viên kê khai
địa chỉ chỗ ở và điện thoại để tiện liên lạc khi cần thiết.
2.3.6. Quản lý sinh viên thông qua công tác Đoàn, Hội và các phong trào trong nhà trường
Thông qua tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên
VĐHMHN đã phát động các phong trào học tập, nghiên cứu khoa học, tình nguyện chung sức
cùng cộng đồng, văn thể…các phong trào đã thu hút được đông đảo sinh viên tích cực hưởng
ứng tham gia. Tuy nhiên sự phối hợp hoạt động của Đoàn, Hội còn chưa cao. Đoàn còn nặng về
tính hình thức, hoạt động bề nổi, chưa đi sâu vào công tác giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện cho sinh
viên.
2.3.7. Thực trạng công tác thi đua khen thưởng và kỷ luật
Viện Đại học Mở Hà Nội thực hiện chế độ khen thưởng cho những sinh viên có thành
tích trong học tập, rèn luyện, công tác phong trào, nghiên cứu khoa học… và kỷ luật đối với
những sinh viên mắc khuyết điểm, vi phạm quy chế, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật.


2.3.8. Kết luận về thực trạng công tác quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà
Nội
(1) Mặt mạnh của công tác quản lý sinh viên
Công tác quản lý sinh viên được thực hiện theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ quản lý
của VĐHMHN có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với nghề. Đảng uỷ, Ban giám hiệu Viện rất
quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, quan tâm đến việc đổi mới hoàn thiện cơ chế
quản lý.
- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được quan tâm,
Viện đã tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao và các
hoạt động khác của sinh viên. Viện đã thực hiện nghiêm túc quy chế của Bộ GD&ĐT về việc
giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự phối hợp giữa các bộ phận làm công tác chính trị, tư
tưởng ngày càng nhịp nhàng và có hiệu quả (như phối hợp giữa phòng Đào tạo và phòng Công
tác Chính trị và sinh viên trong việc tổ chức học chính trị đầu khoá cho sinh viên, trong việc phát
động các phong trào học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên; phối hợp giữa đoàn Thanh niên,
hội Sinh viên, với phòng Công tác chính trị và sinh viên trong việc phòng chống các tệ nạn và
xây dựng các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao…)
- Công tác quản lý việc học tập của sinh viên được thực hiện theo đúng chương
trình, kế hoạch đã định và các quy chế, quy định hiện hành, việc xét lên lớp cho sinh viên
hàng năm được thực hiện nghiêm túc. Đối với những sinh viên yếu Viện đã có thông báo
kịp thời về gia đình để cùng gia đình động viên các em cố gắng học tập, rèn luyện.
- Viện đã thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với sinh viên về
miễn giảm học phí, bảo hiểm, vay vốn…
- Biểu dương được những sinh viên đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện nghiên cứu
khoa học và xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế.
(2) Mặt yếu của công tác quản lý sinh viên
Phòng Công tác Chính trị và sinh viên mới được thành lập còn thiếu về nhân lực, công
tác quản lý sinh viên còn chưa thực sự động viên được tinh thần học tập, rèn luyện của sinh viên.
Chất lượng đào tạo của Viện chưa cao, đa số sinh viên tốt nghiệp chỉ đạt loại trung bình khá, số
sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi và loại xuất sắc còn rất ít.
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên vẫn còn những hạn
chế như: Việc học tập giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin còn chưa thực sự hiệu quả, đa số
sinh viên học các môn này còn chưa hào hứng. Việc học chính trị đầu khoá chỉ được thực hiện
cho sinh viên khoá mới, đa số các khoa chưa có tuần sinh hoạt chính trị cho sinh viên vào đầu
năm học. Việc tổ chức nói chuyện thời sự, sinh hoạt tư tưởng cho sinh viên còn rất ít.


- Việc quản lý học tập của sinh viên đã được thực hiện theo đúng quy chế nhưng chưa có
những đổi mới về công tác quản lý cho phù hợp với đặc điểm của Viện, phù hợp với xu thế
chung của thời đại nên chất lượng đào tạo chưa cao, năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
còn yếu. Phương pháp giảng dạy vẫn phổ biến dạy theo phương pháp thầy giảng trò ghi thụ động
không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của sinh viên.
- Viện Đại học Mở Hà Nội không có ký túc xá cho sinh viên, 100% sinh viên của Viện ở
ngoại trú. Hiện nay Viện chưa quản lý được sinh viên ngoài giờ lên lớp, chưa nắm được tình
hình sinh hoạt và đời sống vật chất của sinh viên. - Công tác quản lý
đào tạo, quản lý sinh viên còn lạc hậu. Phòng Quản lý đào tạo của Viện còn bị động, phụ thuộc
vào các khoa trong việc quản lý học tập của sinh viên, toàn Viện chưa có chương trình quản lý
sinh viên thống nhất.
- Công tác thi đua khen thưởng trong học tập và rèn luyện của sinh viên chưa kịp thời,
chưa thực sự thúc đẩy sinh viên tích cực trong học tập.
(3) Nguyên nhân của mặt yếu:
Viện Đại học Mở Hà Nội chưa có những đổi mới về công tác quản lý sinh viên cho phù
hợp với thực tế của Viện, để đưa công tác quản lý sinh viên vào nề nếp hơn, động viên được tinh
thần học tập, rèn luyện của sinh viên.
- Viện chưa có những biện pháp thích hợp để tăng cường quản lý việc học và tự học của
sinh viên.
- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên mới chỉ dừng ở nội dung theo
phương pháp tuyên truyền, cổ động thời sự mà chưa được thường xuyên, liên tục, chưa đi
vào chiều sâu.
- Viện chưa thực hiện được công tác quản lý sinh viên ngoại trú.
- Chưa ứng dụng được công nghệ tin học vào công tác quản lý SV.
- Công tác thi đua khen thưởng chưa thực sự khuyến khích được sinh viên phấn đấu trong
học tập và rèn luyện, chưa động viên được các đơn vị và cá nhân làm tốt công tác quản lý sinh
viên, phần kinh phí dành cho công tác thi đua khen thưởng còn quá ít.
2.3.8. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản lý sinh
viên
Trong thực tế và tim hiểu mức độ nhận thức của cán bộ quản lý công tác quản lý SV, kết
quả điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dò ý kiến ở 200 Trưởng, phó Phòng, Khoa, Trung tâm,
Đoàn, Hội SV, Giáo viên chủ nhiệm lớp và cán bộ quản lý sinh viên tại thời điểm tháng 11/2007


cho thấy nhận thức rất tích cực của đội ngũ cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản
lý SV.
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy rằng đa số cán bộ quản lý trong nhà trường và đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm đều nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý sinh viên, Thứ nhất:
Mức độ rất cần thiết là 89,5%; Thứ 2: Mức độ cần thiết là: 10,5% ; Thứ 3: Mức độ không cần
thiết là 0%, từ đó nhận thấy cần có những biện pháp hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý sinh
viên trong thời gian tiếp theo để đáp ứng yêu cầu của công tác này.
Tiểu kết chương 2
Công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội trong thời gian vừa qua đã đạt
được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập tồn tại như: Chưa có biện pháp
thích hợp để tăng cường quản lý việc học và tự học của sinh viên. Công tác giáo dục chính trị tư
tưởng sinh viên dừng lại ở mức tuyên truyền cổ động, chưa đi vào chiều sâu cũng như đa dạng
về hình thức. Công tác thi đua khen thưởng chưa thực sự khuyến khích được sinh viên phấn đấu
trong học tập và rèn luyện, chưa động viên được các đơn vị và cá nhân làm tốt công tác quản lý
sinh viên, phần kinh phí dành cho công tác thi đua khen thưởng còn quá ít.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, qua đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của công
tác quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà Nội chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp
quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội với mong muốn góp phần khắc phục
những hạn chế trong công tác quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện trong nhà trường.

Chương 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
SINH VIÊN Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn của biện pháp
3.1.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
3.2. Một số biện pháp quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội
3.2.1. Biện pháp thứ nhất: Tăng cường quản lý hoạt động học và tự học của sinh viên
3.2.1.1. Mục đích ý nghĩa của biện pháp
Giáo dục đại học có vai trò rất quan trọng, bởi đây là giai đoạn “Dạy chữ - dạy người - dạy
nghề” giai đoạn mà mỗi tri thức thu nhận, tích luỹ được trong quá trình học tập sẽ là cái gốc cho sinh
viên bước vào cuộc sống. Dạy đại học vì thế phải dạy cho sinh viên cách học để họ có thể tự học tập,
chủ động chiếm lĩnh tri thức.


Năng lực tự học và tự nghiên cứu của sinh viên đại học là một yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo. Quản lý hoạt động học của sinh viên cần phải chú ý đến
những biện pháp để tăng cường ý thức chủ động và sáng tạo của sinh viên.
3.2.1.2. Nội dung biện pháp
Để tăng cường quản lý hoạt động học của sinh viên chúng ta phải tiến hành đồng bộ các
nội dung sau:
- Tổ chức quản lý tốt hoạt động học trên lớp
- Tổ chức quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp: ở nhà, ở thư viện, ở hệ thống mạng
internet.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: dạy- tự học, nhằm khai thác tối đa năng lực
của người học.
- Đổi mới công tác tổ chức thi, kiểm tra đánh giá.
3.2.1.3. Điều kiện thực hiện biện pháp
- Lãnh đạo VĐHMHN cần xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện đổi mới phương pháp
dạy học; Và phải thực sự đổi mới đội ngũ giáo viên, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đổi
mới PPDH từ đó giáo viên có ý thức và nhu cầu đổi mới đồng bộ cả năng lực và kỹ năng của
mình trong quá trình giảng dạy.
- Phải có giải pháp về học liệu
- Lãnh đạo Viện phải nghiên cứu đầu tư cho khâu biên soạn giáo trình, học liệu phục vụ
cho việc tự học của sinh viên.
- Có chính sách tạo động lực đối với giáo viên và cán bộ trong trường đi đầu trong trong
đổi mới PPDH và tổ chức thi, kiểm tra.
3.2.2. Biện pháp thứ hai: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh
viên
3.2.2.1. Mục đích ý nghĩa của biện pháp
Giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên là một hoạt động có tổ chức,
có mục đích, có kế hoạch của nhà trường nhằm chuyển hoá những chuẩn mực, giá trị tư tưởng,
chính trị, đạo đức và pháp luật thành những phẩm chất giá trị của cá nhân sinh viên.
Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên có ý nghĩa quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện sinh viên, giáo dục để sinh viên nắm vững quy chế
của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như nội quy, quy định của nhà trường và pháp luật của Nhà
nước; Giúp sinh viên nhận thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong việc học tập lĩnh
hội tri thức, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét