Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NNo & PTNT – CN THANH XUÂN

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm NHTM và vai trò
1.1.1 Khái niệm NHTM
Theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10/ 1998,
NHTM được định nghĩa như sau: “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ
mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhân tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. NHTM là một
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai mặt cơ
bản:
- Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ
quan nhà nước.
- Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.
Các loại hình NHTM :
+ NHTM quốc doanh: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn
nhà nước.
+ NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công
ty cổ phần.
+ Chi nhánh NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo
luật pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại
+ Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn
góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có
trụ sở tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
5
Quá trình phát triển của NHTM gắn liền với quá trình phát triển
của thị trường tài chính thông qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nghiệp vụ hoạt động rất
đơn giản nhưng càng về sau, theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá, tổ
chức cũng như các nghiệp vụ của các ngân hàng càng phát triển và hoàn
thiện hơn. Ngày nay các NHTM có xu hướng phát triển ngày càng toàn
diện với quy mô rộng cùng nhiều loại hình dịch vụ huy động tối đa các
nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư cho vay. Sự phát triển của các
ngân hàng không còn nằm trong phạm vi một quốc gia mà mang tính chất
toàn cầu. Ví dụ: Ngân hàng Thế Giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB), … việc áp dụng công nghệ thông tin và hệ thống trang thiết bị
hiện đại càng làm cho hoạt động ngân hàng trở nên hoàn thiện .
Hệ thống NHTM Việt Nam từ khi ra đời cho tới nay đã dần khẳng
định được vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong việc
thực thi chính sách tài chính - tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận
tiền gửi để cho vay đối với nền kinh tế, với vai trò trung gian tài chính
trong hoạt động của mình, NHTM vẫn phải tuân theo sự quản lý của Nhà
nước mà trực tiếp là Ngân hàng Trung ương. Chính dưới sự quản lý này,
hệ thống NHTM đã thực hiện được chức năng của mình đối với nền kinh
tế.
1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.
- NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức
kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm
tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn
của doanh nghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải
tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài. Mặt khác lại có một lượng vốn
nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ
6
chức khác NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh
tế thông qua hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng
nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là
hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải
tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh
tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- NHTM là cầu nối doanh nghiệp và thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh
nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật
giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở
đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương
diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn
trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao
động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà
còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào
sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản
xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng
vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Do đó để
giải quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay vốn để
thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho
doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường. Nguồn
vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản
xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh
nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh .
7
- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để
nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động thanh toán
giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối
lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông qua việc cấp tín dụng cho nền
kinh tế, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân
phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi
vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng
luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh
sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế
nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì
các NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM
thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất,
kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM
Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định.Khi nền kinh tế tăng
trưởng quá mức nhà nước thông qua NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ
như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả
năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững
chắc.
Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM
thường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử
dụng .
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá,
tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa
các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc
phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền
kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy
8
nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc
tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng
quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh toán,
nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác NHTM tạo điều kiện thúc đẩy
hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh
doanh ngoại hối quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài NHTM đã
thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận
động của nền tài chính quốc tế .
NHTM ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản
xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần
đến sự hoạt động của NHTM. Với vai trò quan trọng của mình NHTM trở
thanh một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.3 Các nghiệp vụ của NHTM:
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung
cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay,
hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong
phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau:
a) Nghiệp vụ huy động vốn:
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất
lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới
nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi
vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động
được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản
xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cho cả nước.
Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng được mở rộng, tạo
uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt
động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế
và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các
ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển
9
kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy
động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng,
nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của
ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn
của mình sao cho hợp lý nhất.
* Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng
vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời
cũng như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định
về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra.
* Nghiệp vụ cho vay:
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng thương
mại. NHTM đi vay để cho vay, do đó có cho vay được hay không là vấn
đề mà mọi NHTM đều phải tìm cách giải quyết. Thông thường lợi nhuận
từ hoạt động cho vay này chiếm tới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của
ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách:
theo thời gian có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn, theo
hình thức đảm bảo có cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo,
theo mục đích có cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay cá
nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay thuê mua
* Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động
được từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế
dưới các hình thức như : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên
thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó.
10
* Nghiệp vụ khác
Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động kinh doanh như:
kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ
tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; kinh doanh và dịch
vụ bảo hiểm
c) Nghiệp vụ trung gian khác
Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản trên ngân hàng còn thực hiện một số
nghiệp vụ khác như:
* Dich vụ trong thanh toán:
Có thể nói ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế. Các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua hoặc bán
hàng hoá và dịch vụ bởi việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện một
cách nhanh chóng và chính xác.
* Dịch vụ tư vấn, môi giới:
Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng khoán, tư vấn
cho người đầu tư mua bán chứng khoán, bất động sản
* Các dịch vụ khác:
Ngân hàng đứng ra quản lý hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền; cho thuê
két sắt, bảo mật
1.2 Vốn của NHTM:
1.2.1 Khái niệm vốn:
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các
trung gian tài chính là khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung
là vai trò chủ đạo của các NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm
quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu
tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà NHTM phải có trước
tiên là vốn.
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư
11
hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt
động của ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng.
1.2.2.Cơ cấu vốn
* Vốn tự có của NHTM: là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó mang tính ổn định và căn cứ
để quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng.
* Vốn huy động: là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động
được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm
vốn để kinh doanh. Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác
nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi
khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất
quan trọng đối với mọi hoạt động của ngân hàng.
*Vốn đi vay: là phần vốn các Ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn
hoạt động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Nó có chi
phí tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng.
*Vốn khác: là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các
nghiệp vụ thanh toán…
1.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng:
1.3.1 Phân loại theo thời gian huy động:
- Vốn ngắn hạn: là hình thức NHTM huy động vốn không kỳ hạn và có
kỳ hạn với thời gian ngắn. Nguồn vốn này tối đa là một năm.
- Vốn trung hạn: có thời gian huy động từ một năm đến ba năm. Nguồn
vốn này được các NHTM sử dụng để cho các doanh nghiệp vay trung hạn
đối với các dự án đầu tư chiều sâu mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho bản thân doanh nghiệp.
- Vốn dài hạn: nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm và đựơc
NHTM sử dụng vào nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát
12
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước như: đầu tư vào các dự án quốc tế
dân sinh, các dự án đổi mới thiết bị công nghệ, xây mới các nhà máy…
Lãi suất mà NHTM phải trả cho chủ sở hữu các nguồn vốn này thường rất
cao.
1.3.2 Phân loại theo đối tượng huy động:
- Huy động từ các tổ chức kinh tế: với tư cách là trung tâm thanh
toán, các NHTM thực hiện việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các
khách hàng. Từ đó một lượng tiền khổng lồ được chuyển qua NHTM để
thực hiện chức năng thanh toán của nó theo yêu cầu của chủ tài khoản.
Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả, cho nên
hệ thống tài khoản thanh toán của ngân hàng luôn hình thành một số dư
tiền gửi nhất định và nó đã trở thành nguồn vốn huy động có chi phí thấp,
nếu biết khai thác sử dụng thì nguồn vốn này sẽ mang lại hiệu quả rất lớn
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
- Huy động từ các tầng lớp dân cư: mỗi một gia đình và cá nhân
trong xã hội đều có những khoản tiền tiết kiệm dự phòng để chi tiêu trong
tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì các khoản dự phòng này càng
cao. Nắm được tình hình đó, các NHTM đã tìm mọi hình thức nhằm huy
động tối đa các khoản tiết kiệm này, từ đó tạo ra một nguồn vốn không
nhỏ để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu được lợi nhuận cho
bản thân ngân hàng.
- Vốn vay từ NHNN và các tổ chức tín dụng khác: đây là nguồn
vốn ngân hàng có được nhờ quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHNN,
giữa các NHTM với nhau và với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn
này ngân hàng phải chịu với chi phí cao hơn, vì vậy chỉ trong trường hợp
ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn thì ngân hàng mới đi
vay.
1.3.3 Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi của khách hàng:
13
- Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân
hàng mà không có sự thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Với loại tiền
gửi này ngân hàng chỉ phải trả với một mức lãi suất thấp. Bởi vì tiền gửi
loại này rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, do đó
ngân hàng không chủ động sử dụng nguồn vốn này, ngân hàng phải dự
trữ một số tiền đảm bảo để có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu
cầu.
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân
hàng có sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền. Loại tiền gửi này tương
đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng.
Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này vào mục đích
kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có
rất nhiều thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,…mục đích là tạo cho
khách hàng có nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản
tiền mà họ có. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ
hạn.
1.3.4 Huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá:
- Trái phiếu ngân hàng: là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ
( cả gốc và lãi ) của ngân hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái
phiếu. Mục đích của ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy
động vốn trung và dài hạn. Việc phát hành trái phiếu, ngân hàng chịu sự
quản lý của NHNN, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán
và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng.
- Kỳ phiếu ngân hàng: đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( trong 1
năm ). Nó có đặc điểm giống như trái phiếu nhưng có thời gian ngắn hạn
hơn trái phiếu, vì vậy nó được dùng để huy động nguồn vốn ngắn hạn của
ngân hàng.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi: nó là những giấy tờ xác nhận tiền
gửi định kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét