Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Khảo sát điền dã văn học người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương I
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Vị trí và lịch sử hình thành khu dân cư người Hoa ở Thành phố
Hồ Chí Minh
Đồng bào người Hoa ở nước ta có số lượng trên 1 triệu người, là nước có
số người Hoa ít hơn nhiều so với một số nước trong khối Asian. Riêng ở đồng
bằng Nam Bộ có hơn 630 nghìn người (hơn 80%), trong đócó hơn 50 vạn người
sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây cũng là địa bàn cư trú tập trung đông
người Hoa nhất ở nước ta hiện nay. Theo các tài liệu lịch sử, người Hoa đến cư
trú ở các vùng phía Nam nước ta vào những năm thuộc thập niên 80 của thế kỷ
XVII, nhưng xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh với số lượng lớn vào khoảng
những năm 1778 cùng với sự thành lập của trung tâm người Hoa ở Chợ Lớn.
Chợ Lớn xưa được gọi là “xứ Sài Gòn”, nguồn gốc của tên đất Sài Gòn
hiện giới nghiên cứu còn đang tranh luận, chưa ai đưa giả thiết đủ tính thuyết
phục. Có thể ngày xưa, người bản địa sống nơi đất cao, rừng cây gòn, nay còn
dấu ấn là Phú Lâm, nhưng điều chắc chắn là phía bắc vùng Chợ Lớn khá cao,
người Việt dành xây cất chùa chiền, thí dụ như chùa Giác Lâm, chùa Cây Mai,
chùa Gò…. Từ giồng đất này, chạy thẳng xuống vùng đồng bằng lại gặp khu vực
thấp lè tè ăn xuống phía Nam, đến ngọn rạch Bến Nghé. Con rạch này ăn thông
ra sông Sài Gòn. Ở Bến Nhà Rồng thuận lợi cho việc chở lúa gạo ra bến cảng.
Người Hoa đến cư ngụ ở nước ta, đa số là nông dân, những người lao
động bần cùng của nước Trung Hoa cũ, sống cơ cực nghèo nàn và chịu cảnh
chiến tranh tàn phá liên miên nên buộc phải tha phương cầu thực. Trong số đó có
một số quan binh của triều đình nhà Minh chạy sang Việt Nam với ý nguyện
phản Thanh phục Minh; việc di dân ra nước ngoài với số lượng lớn phải mãi đến
khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, mới tạm thời chấm dứt.
Có thể chia người Hoa ở Nam bộ thành hai bộ phận chính tương ứng với
thời điểm và lý do di trú: bộ phận thứ nhất bao gồm những người Hoa vốn theo
đường lối phản Thanh phục Minh qua Việt Nam tỵ nạn chính trị vào những năm
nửa cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, như nhóm Trần Thượng Xuyên, Dương
5
Ngạn Địch, Mạc Cửu và hậu duệ của họ, nhóm này được gọi chung là nhóm
Minh hương; bộ phận thứ hai gồm những người Hoa sang Việt Nam làm ăn sinh
sống từ giữa thế kỷ XVIII đến nay, nhóm này từng được gọi là người Thanh để
phân biệt với người Minh hương. Quá trình Việt hóa của hai bộ phận này vì thế
cũng khác nhau về tính chất: nếu những người như Phụ quốc Đô đốc Trần
Thượng Xuyên, Tổng binh Mạc Cửu… và hậu duệ của họ như Trần Đại Định,
Mạc Thiên Tích… đã hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam trước hết theo con
đường chính trị, thì bộ phận thứ hai lại từng bước Việt hóa theo con đường kinh
tế - xã hội, hai con đường này để lại dấu vết của chúng khá rõ ràng trong sinh
hoạt văn hóa của người Hoa ở Nam Bộ, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay. Chẳn hạn người Hoa Minh hương ở Nam Bộ các thế kỷ trước được tổ chức
thành đơn vị “xã” như Thanh Hà xã, Minh hương xã, nên xã Minh hương ở Gia
Định có đình (đình Minh hương Gia Thạnh), còn các nhóm người Hoa ở bộ phận
thứ hai được tổ chức thành đơn vị “phủ” rồi “bang” như phủ Phước Châu, phủ
Triều Châu, phủ Ninh Ba, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam…,
hoàn toàn không có đình nhưng nhìn chung đều sở hữu riêng hoặc chung một
hội quán.
Nhìn chung việc các nhóm di dân người Hoa nhập cư với quy mô lớn
như trên đã nêu đã ảnh hưởng đáng kể tới diện mạo văn hóa của cộng đồng Việt
Nam ở Nam Bộ, trong đó có Gia Định. Chẳng hạn trên phương diện ngôn ngữ,
họ đã đưa vào Đàng Trong cách đọc Huỳnh, Phước, Võ theo Minh âm, Thanh
âm thay thế cách đọc Hoàng, Phúc, Vũ theo Đường âm, những mà cho đến nay
nhiều người vẫn ngộ nhận là do kiêng húy; ở mảng hệ thống công cụ sản xuất và
sinh hoạt cũng như những phong tục tập quán hôn thú, tang tế nói chung đều yếu
tố có nguồn gốc du nhập từ Hoa Nam, góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt
vật chất và tinh thần của cộng đồng Việt Nam ở Nam Bộ nói chung và thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng.
6
1.2. Đặc điểm tình hình về kinh tế văn hóa khu dân cư người Hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh
Đồng bào Hoa có mối quan hệ chặt chẽ với các dân tộc ở nước ta, nhất là
các dân tộc ở Nam Bộ và quan hệ chặt chẽ với cộng đồng người Hoa ở nước
ngoài, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Sau giải phóng năm 1975, đồng bào
người Hoa đặc biệt là người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh còn có mối quan hệ
mật thiết với người Hoa ở các nước Mỹ, Úc, Canađa và các nước Tây Âu.
Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn là những người đến từ
các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và các vùng đồng bằng duyên hải phía Nam
Trung Quốc, trong đó đông nhất là người Triều Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông).
Người Hoa có chung một chữ viết, gọi là chữ Hán, hoặc chữ Hoa, nhưng tiếng
nói lại hoàn toàn khác nhau. Tiếng Quảng Đông và tiếng Triều Châu là hai ngôn
ngữ thông dụng trong đồng bào Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tiếng
Quảng Đông thường được sử dụng rộng rãi hơn nhiều so với hệ thống các tiếng
nói khác. Tiếng Phúc Kiến, tiếng Hải Nam và tiếng Hẹ nhìn chung được sử dụng
ở phạm vi hẹp hơn. Đồng thời đồng bào Hoa rất yêu mến chữ Hoa và tiếng nói
địa phương của mình.
Là một trong những bộ phận cấu thành của cộng đồng 54 dân tộc anh em
trên mảnh đất Việt Nam, đồng bào người Hoa đã cùng các động đồng cư dân
khác không ngừng khai hoang mở cõi, xây dựng nên một miền đất trù phú qua
các thời kỳ lịch sử giữ nước và dựng nước, ngày nay cùng nhau tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội ngày càng yên bình, ấm no và hạnh
phúc hơn.
Là một trong những tộc người cùng làm chủ đất nước, nhất là ở các tỉnh
phía Nam, đồng bào người Hoa tự hào có các mối quan hệ bà con thân thiện với
những người Hoa khắp năm châu, tạo những điều kiện thuận lợi kêu gọi, hợp tác
hội nhập, góp phần xây dựng đất nước. Cộng đồng dân cư mang tính đặc trưng
cùng nền văn hoá phương Đông này, đến nước ta cũng như các nước Đông Nam
Á khác, họ đã sớm hoà nhập vào khối cộng đồng dân cư bản địa, cùng đồng cam
cộng khổ để xây dựng đất nước.
7
Về văn hóa cảnh quan, người Hoa đến đây cùng với người Việt vàmột số
cộng đồng các dân tộc anh em khác đã làm biến đổi vùng đất hoang sơ chỉ có
nước mênh mông (như sứ giả nhà Nguyên trên đường đến Cao Miên đã ghi lại)
thành một vùng đất phì nhiêu, trù phú; lịch sử đã ghi nhận sự đóng góp của cha
con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tại vùng đất cực tây Nam Bộ, cũng như sự khai
thác lập ấp của nhóm cư dân Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch… tại Đồng
Nai, Mỹ Tho là rất to lớn. Riêng cha con họ Mạc đã có công biến vùng Mang
Khảm hoang vu thành một Hà Tiên thơ mộng, biết tô đẹp thập cảnh Hà Tiên
bằng sự khai phá tôn tạo của con người.
Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nơi người Hoa tập trung sinh sống, họ đã tạo nên
một trung tâm đô thị sầm uất, một China Town như cách gọi quen thuộc của báo
chí nước ngoài trước năm 1975. Khu vực Chợ Lớn với những đường giao thông
thuỷ bộ thuận lợi, nối liền khu trung tâm buôn bán qua kênh Bến Nghé đến cảng
Nhà Rồng, trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh và từ đó toả đi các tỉnh tây
Nam Bộ. Những dãy phố, chợ búa, cửa hàng, cửa hiệu và cơ sở sản xuất, buôn
bán tấp nập hiện ra trong qua khứ và hiện nay, đó là công sức lao động, công lao
không ngừng tạo dựng của đồng bào người Hoa.
Về văn hóa sản xuất, cùng với việc du nhập hàng loạt của đồng bào người
Hoa, các ngành nghề cổ truyền, những tri thức về sản xuất, kinh doanh của
người họ cũng đã được mang vào Nam Bộ, Sài Gòn - Chợ Lớn. Những người
thợ thủ công tài hoa khi di cư vào nước ta đã chuyển tải các ngành sản xuất gốm
sứ, gạch ngói, dệt vải, dệt lụa, thuộc da, làm giấy, bút mực, nghề in ấn,… Lúc
đầu tất nhiên họ giữ bí quyết nghề nghiệp, nhưng sau do yêu cầu của sản xuất,
họ đã hiểu được tầm quan trọng của việc chuyển giao công nghệ. Đến nay nhiều
sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ đã trở
thành những sản phẩm thành công trong nước và quốc tế, thể hiện đỉnh cao của
sự giao thoa văn hóa Hoa - Việt.
Về văn hóa cộng đồng, do điều kiện sinh sống của người Hoa ở vùng đất
mới, nên ý thức cộng đồng luôn luôn được đề cao, được củng cố. Tinh thần cố
kết cộng đồng: gia đình, họ tộc, đồng hương, đồng nghiệp đặc biệt được quan
tâm giữ gìn như một giá trị tinh thần thiêng liêng. Lòng biết ơn, tinh thần nghĩa
8
hiệp đùm bọc lẫn nhau và ý chí quyết lập nghiệp là những giá trị được cộng
đồng người Hoa hết sức nâng niu, trân trọng. Chính nhờ các giá trị văn hóa, ý
thức cộng đồng nói trên đã giúp cho người Hoa tồn tại như một nhóm xã hội đặc
thù, vừa hoà nhập với các cộng đồng khác, vừa giữ được những đặc điểm riêng
có tính ưu trội của riêng mình.
Về văn hóa tinh thần, người Hoa đến vùng Nam Bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn
mang theo một nền văn hóa đã phát triển phong phú, đa dạng và đặc sắc.
Trước hết là văn hóa tín ngưỡng, tâm linh với việc thờ cúng rất nhiều nhân
thần và nhiên thần, hai hệ thống thần linh đã ăn sâu vào tâm thức của họ. Về
nhân thần có những thánh nhân được tôn thờ và truyền tụng trong đời sống tinh
thần của cộng đồng như Quan Công, Bao Công, Bổn Đầu Công, Bà Thiên Hậu,
Quan Âm Bồ Tát… Về nhiên thần cũng có rất nhiều biểu tượng thiêng liêng
được tôn thờ, như Ngọc Hoàng - Thượng Đế, Thổ Công - Táo Quân, Thần Tài,
Phật Di Lặc…. Các công trình kiến trúc tôn giáo, tâm linh uy nghi được dựng
lên: như miếu Thiên Hậu (Hội quán Tuệ Thành), Chùa Ông (Hội quán Nghĩa
An), Nhị Phủ Miếu (Chùa Ông Bổn), Quỳnh Phủ Hội quán, Hội quán Sùng
Chính và Chùa Quan Âm (Hội quán Ôn Lăng)…. Cùng với các nghi lễ trong
những ngày lễ tết, như Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Hàn Thực,
Đoan Ngọ, Trung Nguyên, Thượng Nguyên… làm cho đời sống tâm linh của
người Hoa vừa thiêng liêng vừa huyền ảo nhưng vẫn gắn với đời sống nhân sinh
của con người. Có người cho rằng: thông qua hệ thống tín ngưỡng, tâm linh và
các tục lệ, lễ thức, nhân cách và tâm lý người Hoa được hình thành, góp phần
củng cố các quan hệ gia đình, ý thức cộng đồng hướng tới những ước vọng về
một cuộc sống an sinh, bền vững.
Văn hóa nghệ thuật của người Hoa cũng hết sức phong phú với các loại
hình dân ca, dân vũ và các loại nhạc cụ đặc sắc. Dân ca có các làn điệu hát
Quảng, hát Tiều, dân vũ có múa lân - sư - rồng và dàn nhạc có nhạc Xã… làm
tăng thêm tính phong phú đa dạng, tính đặc sắc đặc thù cho văn hóa Nam Bộ nói
chung và Sài Gòn - Chợ Lớn nói riêng.
Nền kinh tế - văn hoá nghệ thuật cổ đại hưng thịnh một thời của Mạc
Cửu, Mạc Thiên Tích với "Thi đàn chiêu anh các", hay Gia Định tam gia với hệ
9
thống các tác phẩm nổi tiếng như Gia Định tam gia thi, Gia Định thành thông
chí,…hay những hoạt động của đồng bào người Hoa ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ
19 nửa đầu thế kỷ 20 đã thực sự làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam.
Sau khi hòa bình lập lại, ở một số nơi, nhất là ở các quận thuộc thành phố
Hồ Chí Minh, người Hoa hoạt động kinh tế - văn hoá rất giỏi và sôi nổi. Chợ
Lớn ngày nay là tên đất của khu vực quận 5, quận 6 gồm đa phần là cư dân
người Hoa sinh sống với nhịp sống lao động, sinh hoạt náo nhiệt ngày đêm, hoạt
động bán buôn, bán lẻ có thể nói phồn thịnh hơn bao giờ hết. Lại còn đủ thứ vui,
thú ăn chơi tao nhã, hội hè đình đám. Ngày nay, tất nhiên tình thế đã thay đổi,
việc mua bán ngày càng có nề nếp hơn. Vào Chợ Lớn, “món gì cũng có, có tiền
là có ngay”. Người qua lại tấp nập, không người nhàn rỗi. Nếu chúng ta thấy
nhiều người Hoa và Việt tụ họp ở quán cà phê bình dân hoặc hiệu ăn sang trọng,
không phải họ hưởng lạc thuần túy, chẳng qua là gặp nhau để thông báo về giá
cả, tình hình cung cầu, biến động thị trường hoặc “gút lại công việc làm ăn nào
đó” mà thôi.
Có thể nói giới công thương người Hoa không những thông hiểu mà còn
nhạy cảm với đường lối chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, hiện
nay trên các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, thương mại, dịch vụ, ngân hàng, lĩnh vực
nào cũng có phần đầu tư của giới công thương ngưòi Hoa. Điều đáng nói là
phạm vi đầu tư của họ không chỉ đóng khung trong các quận, huyện của thành
phố mà còn mở rộng ra các vùng lân cận thuộc các tỉnh khác, thậm chí vương
sang cả nước bạn Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan…. Ngành nghề mà họ đầu tư bao
gồm cả những nghề sinh lợi ngay như nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch, vui
chơi - giải trí lẫn những ngành nghề phải đầu tư lâu dài, phải liên tục đổi mới
thiết bị, công nghệ, phải cạnh tranh vất vả, mới thu được lợi nhuận như các
ngành sản xuất tiêu dùng, chế biến hàng xuất khẩu, ngành xây dựng cơ bản, xây
dựng cơ sở hạ tầng…. Nguồn vốn của họ ngoài vốn tự có, vốn của các tập đoàn
công thương gia trong nước, còn có nguồn vốn do thân nhân bà con nước ngoài
hỗ trợ. Nhìn chung, hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa ngày càng sôi
nổi, nhộn nhịp, phát triển theo chiều hướng đi lên. Những năm qua, họ đã đóng
10
góp đáng kể vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố và góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động của thành phố.
Tuy sống ở khu vực gần như riêng biệt, nhưng từ lâu, người Việt và
người Hoa vẫn khăng khít trong việc làm ăn mua bán; lại giống nhau trên nét lớn
về tín ngưỡng dân gian, đa thần, thờ Phật, thờ Quan Công, ăn Tết âm lịch, mùng
5 tháng 5 (Đoan Ngọ), ăn rằm tháng 7, vui tiết trung thu….Nhưng ở đồng bào
người Hoa có một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu và đề cao:
- Hiếu khách, nhớ ơn bạn bè, đã mang ơn thì nhớ ơn rất bền lâu.
- Lấy chữ Tín làm đầu, đã hứa là giữ lời hứa mặc dầu bị thiệt thòi. Trả nợ
đúng thời hạn, chấp nhận bị lỗ vốn khi hàng hóa sụt giá thình lình. Không thích
dùng giấy tờ, giao kèo, hoặc kiện tụng đến cửa quan. Giải quyết êm thấm nội bộ
là tốt nhất.
- Không tự ái vụn vặt vì lời ăn tiếng nói lúc xã giao, giúp đỡ tận tình với
bạn bè.
- Gắn bó với người Việt trong giai đoạn chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Thời Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, người Hoa ở Hội kín đã trợ giúp
nghĩa quân, mặc dầu việc lớn không thành, nhưng những đóng góp của họ là
không thể phủ nhận. Công nhân, lớp người nghèo thành thị người Hoa đã hưởng
ứng những cuộc tranh đấu giai đoạn khi vừa có Đảng, thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ. Nhiều người Hoa đã can đảm hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng
của cách mạng, thậm chí thân sa vào vòng tù đày nơi khám Chí Hòa, nơi nhà tù
Côn Đảo, nhưng họ vẫn quyết một lòng trung trinh với Đảng với đất nước. Lòng
từ thiện của người Hoa còn biểu hiện rõ rệt trong các phong trào xóa đói giảm
nghèo, quyên góp cứu trợ đồng bào khi thiên tai, lũ lụt.
1.3. Tình hình chung về văn học trong cộng đồng người Hoa ở thành
phố Hồ Chí Minh
Người Hoa đến Việt Nam cư trú lâu dài, đã mang theo những hoài cảm
lẫn văn hóa vùng đất tổ. Con cháu họ tiếp tục được thừa kế văn hóa của tổ tiên
mang từ cố quốc sang, lại tiếp thu vốn văn hóa tinh hoa của vùng đất mới cho
11
nên đã nảy sinh không ít nhân tài. Vì thế, hai giai đoạn phát triển rực rỡ của văn
học Hoa văn thành phố Hồ Chí Minh đều được lưu tiếng đến đời sau.
Trong giai đoạn đầu, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, văn học Hoa văn
phát triển rực rỡ, vẫn còn lưu lại tiếng thơm cho đến ngày nay với các thi xã như,
thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên vốn thuộc thành Gia Định,
nhóm Gia Định sơn hội, một số thành viên trong Bạch Mai thi xã. Tên tuổi gắn
liền với văn học thời kỳ này phải kể đến Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh,
Huỳnh Ngọc Uẩn, Trương Hảo Hợp, Diệp Minh Phụng, Vương Kế Sanh, Vương
Văn Anh… tên tuổi của họ đã hợp chung và hoà vào dòng chảy văn học Việt
Nam, trở thành yếu tố cấu thành không thể thiếu trong dòng văn học Việt Nam
giai đoạn cổ trung đại. Giai đoạn tiếp theo, được xem là thời kỳ suy thoái của
văn học người Hoa.
Sau khi Pháp đánh chiếm miền Nam, tiếng Việt ngày càng bị Latinh hóa,
Quốc ngữ cũng dần dần định hình, trước phong trào vận động sử dụng chữ Quốc
ngữ rầm rộ của nhà cầm quyền, không còn mấy người học Hán văn, thành ra văn
học Hoa văn càng ngày bị suy thoái. Nhà thơ Trần Tế Xương đã từng than rằng:
phong trào nho học đã suy tàn, mười người học thì có đến chín người thôi. Vì
muốn bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc, những gia đình người Hoa giàu có đã
đưa con cái họ về lại Trung Quốc để học tập sách thánh hiền, lớp trẻ này do đó
mà sự liên hệ về tình cảm và văn hóa đối với “đất mới” miền Nam Việt Nam
không còn chặt chẽ như các thế hệ cha ông chúng.
Sau giai đoạn suy thoái, khoảng giữa thế kỷ 20, văn học người Hoa bắt
đầu phát triển trở lại, đây là giai đoạn được đánh giá là thời kỳ phát triển thứ hai
trong lịch sử phát triển của dòng văn học người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sau chiến tranh Trung - Nhật và cuộc đại chiến thế giới lần hai, càng có nhiều trí
thức người Hoa từ Trung Quốc di cư đến Việt Nam, không chỉ thông hiểu văn
học truyền thống, họ còn rất hiểu biết về Tây học và tư tưởng tiến bộ. Họ mở
trường học, mở toà soạn tòa báo nhằm thúc đẩy việc phát triển văn hóa Hoa văn.
Về phương diện văn học, những việc làm đó đã cổ vũ mạnh mẽ cho sự phát triển
văn học bạch thoại, đặc biệt là thơ và tản văn mới. Từ cuối thập niên 40 đến đầu
thập niên 70 của thế kỷ XX, trong số những di dân người Hoa này đã xuất hiện
12
không ít những nhân tài và những con người lòng tràn đầy nhiệt huyết đối với
văn học, như Đặng Hồng Nho, Hoắc Văn, La Phong, Diệp Truyền Hoa, Trần
Hữu Cầm, Triệu Đại Độn Có thể nói đây là những người đi đầu trong việc tạo
ra đỉnh cao thơ hiện đại và thơ cổ ở cả hai thập niên 60 và 70.Giai đoạn này có
khá nhiều tác phẩm được xuất bản, như Thập nhị thi tập, Tượng Nham cốc thi
diệp, Thuỷ thủ, Kiếp Dư ngâm thảo, Thính Vũ lâu thi thảo, Long Trai thi tập,
Diệp Truyền Hoa thi tập, Hiến cấp ngã đích ái nhân, Thuỷ chi mê, Bút luỹ,
Phong xa, Trung học sinh, Mê phong…. Về thành tựu đa dạng phong phú của
văn học ở giai đoạn này, trước mắt vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào
xoáy vào nội dung nêu trên, lại thêm các công trình trên phần nhiều thất lạc, hiện
chúng tôi chỉ tìm lại được khoảng 50% số tài liệu nêu trên.
Giai đoạn thứ tư, giai đoạn tiềm tàng của văn học Hoa văn. Sau giải
phóng miền Nam năm 1975 đến trước ngày đất nước bắt đầu mở cửa, văn học
Hoa văn ở trạng thái lắng xuống bởi giáo dục Hoa văn bị đình trệ suốt hơn 10
năm, hình thành một thời văn hóa trống rỗng của người Hoa. Nhìn chung cũng
vì kinh tế khó khăn nên những người chấp bút đành phải gác bút để tìm kế sinh
nhai, không ai còn tâm trí dành cho việc sáng tác. Một bộ phận giới trí thức và
nhân sĩ trung lưu ngày trước cũng lần lượt tìm đường ra nước ngoài định cư.
Những nhân tố kể trên cùng với nhiều lý do khác khiến cho văn học Hoa văn
không còn được như trước nữa.
Giai đoạn sau khi nước ta cải cách mở cửa đến nay, trước mắt ở thành
phố Hồ Chí Minh chỉ còn có một tờ báo Hoa văn là báo Sài Gòn Giải Phóng, từ
năm 1987 báo này đã thành lập “Câu lạc bộ Văn hữu” (Câu lạc bộ bạn văn), câu
lạc bộ này đã tiếp nhận tất cả các bạn văn ở tờ phụ san Văn nghệ vốn định kỳ
hàng tuần phát hành, tạo không khí cho các văn sĩ chấp bút và sáng tác. Từ năm
1990, hoạt động văn học Hoa văn phát triển mạnh trở lại. Ở giai đoạn này, ngoài
những cây bút đã nổi danh trước giải phóng sau một thời gian dài gác bút nay
“tái xuất giang hồ”, như Ngân Phát 銀 髮 , Ông Nghĩa Tài 翁 義 才 , Lý Chí
Thành 李志成,Trần Quốc Chính 陳國正,Thu Mộng 秋夢,Thạch Linh 石羚
…; còn xuất hiện không ít những cây bút mới nổi, như Dư Vấn Canh 余問耕
13
Tuyết Bình 雪萍,Phương Phương 方方,Khâu Lăng 丘淩,Ngọc Hoa 玉華,
Trường Phong 長風…; sự tích cực tham gia của thế hệ các văn, nhà thơ thuộc
thế hệ trước, đã cổ vũ tinh thần các bạn văn, khiến họ không ngừng tích cực
tham gia vào văn đàn đương đại.
Mặt khác, ngày nay với những đổi mới về kinh tế chính trị, không ít
người Hoa ra nước ngoài định cư thường quay lại Việt Nam để thăm hỏi bạn bè,
gia quyến, hoạt động giao lưu văn hóa của đồng bào người Hoa thành phố với
các nước lân cận vì thế không ngừng mở rộng thêm. Vì thế trình độ văn hóa của
người Hoa ngày càng cao, việc này hiển nhiên kích thích một bộ phận văn sĩ
người Hoa tái cầm bút sáng tác. Những năm lại đây, ngoài Câu lạc bộ Văn hữu
của báo Sài Gòn Giải Phóng, Hội Văn học Hoa văn cũng được Hội Văn học
Nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh ráo riết chuẩn bị cho việc thành
lập. Hai tổ chức này kết hợp với Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc và một số nhà
xuất bản khác không ngừng ấn hành một số sách vở Hoa văn, trong đó quan
trọng có thể kể đến Mê giang nhã ngâm 湄江雅吟

Việt Nam hiện đại thi sao
越南現代詩淩

Hướng dương tập 向陽集

Minh Đạo thi từ tập 明道詩詞集

…và gần đây còn có Đặc san Văn học nghệ thuật Hoa Việt 華越文學藝術特刊
(đến nay đã ra được 7 số) của các tác giả Chợ Lớn và các tác giả dùng chữ Hán
sáng tác trên khắp toàn cầu. Ngoài ra, các nhà văn người Hoa còn có cơ hội tham
dự Hội nghị văn học Hoa văn thế giới tổ chức ở khắp mọi nơi trên thế giới.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét