Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay

Đề án kinh tế chính trị
phép, quota, hạn ngạch xuất nhập khâu đều không đợc sử dụng, các biểu
thuế này đều phải có lộ trình rõ ràng công khai về việc giảm dần đến tự do
hoá hoàn toàn (thuế suất bằng 0%).
- Làm ăn hay thơng lợng với nhâu phải trên cơ sở có đi có lại: khi
nền kinh tế thịt rờng của một nớc thành viên bị bị hàng nhập khâu đe doạ
thái quá hoạc bị những biện pháp phận biệt đối xử gây hại, thì nớc đó có
quyền khớc từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có thể có những hành động khẩn
cấp cần thiết, đợc các nớc thành viên khác thừa nhận, đề bảo vệ quyền lợi
cua nền kinh tế trong nớc.
- Công khai mọi chính sách thơng mại và đầu t.
Với các điều kiện và nguyên tắc trên, nớc đi sau nh nớc ta có
nhiều thuận lợi, nhất là học hỏi kinh nghiệm của các nớc đi trớc, nhng
cũng phải chịu rất nhiều khó khăn thách thức, mà quan trọng hàng đầu là
bảo hộ nền sản xuất trong nớc và các doanh nghiệp việt nam, nhất là các
doanh nghiệp mới chân ớt chân ráo bớc vào nền kinh tế thị trờng. Đây
khong chỉ đơn thuần là việc bảo hộ thuần tuý cho nền kinh tế, cho từng
doanh nghiệp, mà còn là vấn đề của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn mới việc hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với quá
trình tự do hoá. Không thể có hội nhập quốc tế mà không có tự do hoá kinh
tế, đây là một đặc điểm mới của xu thế toàn cầi hoá ngày nay. Vấn đề quan
trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế là cần xác định mức độ tiến trình
hội nhập và tự do hoá nh thế nào cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế
để có thể phát huy đợc các thế mạnh của đất nớc, tận dụng đợc những u
thế của hợp tác quốc tế, tạo rá sự phát triển vợt bậc của nền kinh tế quốc
gia, nâng cao vị thế của mình trong phân công lao động quốc tế.
2. Các nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Nhiều thế kỉ trớc, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệ
đóng tàu, khai phá giao thông, những phát triển của thị trờng hàng hoá đã
tạo điều kiện mở mang giao lu buôn bán giữa các quốc gia. Trải qua quá
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
trình phát triển lâu dài, quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng trở nên phổ biến,
bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều hình thức. Đặc biệt vài chục năm gần đây
xuất hiện những yếu tố kinh tế kỹ thuật rất mới dẫn đến bớc phát triển nhảy
vọt cua toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế. Sau đây là 6 yếu tố cơ bản thúc đẩy
quá trình toàn cầu hoá:
2.1. Sự phát triển ngày càng cao của lực lợng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bớc quá độ từ nền
kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này đợc thể hiện rõ ở các
quốc gia phát triển. Cùng với nó các quốc gia đang phát triển cũng đã kết
hợp bớc chuyển nông nghiệp lên công nghiệp kết hợp những bớc nháy tắt
để rút ngắn quá trình xây dựng những cơ sở của nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lợng
khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận
lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ nh: các công nghệ mới làm
tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và
thời gian. Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ
dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao
lu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển nh vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm
phá vỡ hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con ngời trên tất cả
các mặt giãu các quốc gia. Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một
thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù muốn
hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và đơng nhiên
để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không tham gia
quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế.
2.2. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trờng
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến
trình phát triển của kinh tế thi trờng. Kinh tế thị trờng phát triển đã mở ra
điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh
chính: Thứ nhất, kính tế thị trờng mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
của lực lợng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm
vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, nh vậy cũng có nghĩa là thúc
đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc
của sản xuất và tiêu thụ. Thứ hai, nền kinh tế thi trờng phát triển của các
quốc gia đa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế
thị trờng.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận
hành : cơ chế thi trờng.
Kinh tế thi trờngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau
giữa các nền kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng
không chỉ ở sự mở rộng qui mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc
lẫn nhâu giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sự phát triển theo chiều sâu.
Đó là sự bùng nổ phát triển của thi trờng tài chính gắn liền với sự xuất hiện
của một loạt công cụ mới trong thanh toán giao dịch. Thi trờng sản phẩm
hàng hoá cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện ở qui mô cha từng có của khối
luqongj giao dich thơng mại và ở sự phát triển của các dang giao dịch mới
nh thơng mại dịch vụ và điện tử.
Nh vậy có thể thấy s phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trờng
chínhlà cơ sở, điều kiệncho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia
trên thế giới ngày nayđèu dựa trên cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng
tiện và công cụcủa kinh tế thị trờng trong hoạt động kinh doanh, đa lại
một không gian rộng lớn, không gian toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và
lu chuyểncác yếu tố của chính quá trình sản xuất ấy,
2.3 Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết
thúc chiến tranh lạnh bớc vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển.
Trong vài thập niên trở lại đây nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ
nhng kéo theo đó là những vấn đề mang tính chất toàn cầunh sự phân hoá
giàu nghèo, sự ô nhiễm môi trờng, dịch bệnh Những vấn đề này liên quan
đến mọi quốc gia, có tác động trên phạm vi toàn thế giới, nó quyết định sự
phát triển tồn vong của toà thể cộng đồng nhân loại.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
Do đó khi giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu phải có sự nỗ
lực của mọi quốc gia, sự liên kết sức lực của cả cộng đồng. Bản thân mỗi
quốc gia cho dù tiềm lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết nổi vấn đề
liên quan đến toàn thế giới. Đây chính là cơ sở khách quan qui định , thúc
đẩy cho việc tiến tới thống nhất những qui phạm chung cho quá trình phát
triển kinh tế.
2.4 Sự bành trớng của các công ty xuyên quốc gia
Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa t bản tất yếu
dẫn đến sự tâp trung sản xuất và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền
sản xuất thế giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những năm đầu của thế
kỷ 21 này dới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã đa lại
sự phát triển cha từng có của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát
2/3 nền thong mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu t trực tiếp ở nớc ngoài và
9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới. Với sức mạnh
nh vậy các công ti xuyên quốc gia không những có u thế trong phân phối
tài nguyên trên phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động
quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và
kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận
toàn cầu đã tạo ra mạng lói liên kết kinh tế quốc tế. Các quốc gia có thể
tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng
mức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu t trực tiếp nứoc ngoài vào các
nớc đang phát triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào
nền kinh tế thế giới nói chung.
Nh vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty
xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách
biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
tộc từng bớc thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc
tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào
nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
2.5 Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu
vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu
và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu
hoá.
Trong các tổ chức kinh tế- thơng mại-tài chính toàn cầu và khu vực
có ảnh hỏng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến
ƯTO, IMF, ƯB và các tổ chức khu vực khác nh EU, NAFTA, APEC Với
các mục tiêu chức năng của mình các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và
thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lí các hoạt động
này. Cho dèu tính hiệu quả của các tổ chức này còn đựoc đánh giá khác nhau
xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc gia, song không ai không thừa nhận sự
cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí đang đặt ra yêu cầu về hoàn thiệncơ
cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng.
Tác động của các tổ chức toàn cầu và đặc biệt là các tổ chức khu vực
đến xu thế toàn cầu hoá kinh tế thể hiện ở hai điểm chính:
-Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia
đựoc hỏng những u đãi của hoạt động kinh doanh khu vực; thúc đẩy các
quốc gia trong khu vực tiến đến những chuẩn mực chung trong quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở các thoã thuận hợp tác song phơng và
đa phơngđã làm tăng lên sự gắn bó tuỳ thuộc lân nhau giữa các nền kinh tế,
thực chất nó đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc
trong nội bộ tổ chức.
-Thứ hai hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến
hình thành một thị trờng thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham
gia phải có lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
Nói tóm lại các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa
là động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
2.6 Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát
triển.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụ
thuộc rất nhiều vào chính sách của các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ
nhất thì việc đóng cửa đất nớc không giao lu thông thơng với nocs
ngoài của các quốc gia đã làm cho lu thông quốc tế bị hạn chế nền kinh tế
thế giới suy thoái mạnh.Nhng từ sau chiến tranh thế giới thứ haithì các
quốc gia phát triển đã nhận thấy vấn đề cần phải tự do háo thơng mại, giảm
các hàng rào thuế quan nhằm bành trớng thế lực ra bên ngoài. Và cho đến
naythì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải cách mở cửa, thực
hiện t nhân hoá và tự do hoá mở ra không gian mới cho sự gia tăng xu thế
toàn cầu hoá. Đặc biệt trong quá trình cải cách nhiều quốc gia đã chuyển
hớng phát triển kinh tế từ hớng nội sang hớng ngoại mà cốt lõi là chuyển
từ công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu.
Với chiến lợccôngnghiệp hoá hớng về xuất khẩu buộc các quốc gia
phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế không chỉ phải
dựa vào nhu cầu bên trong mà phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng thế giới,
sản xuất sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của thị trờng
quốc tế. Muốn vậy đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa nền kinh tế, cho nhập
các thành tựu công nghệ, thu hút vốn đầu t để xây dựng và phát triển một
cơ cấu ngành kinh tế phù hợp. Nh vậy với chiến lợc hớng về xuất khẩu,
trên thực tế đã đẩy đến xu thế gắn bó phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,
giữa các nền kinh tế thông qua thực hiện phân công lao động quốc tế dựa
trên thế mạnh của từng nền kinh tế đân tộc.
Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu
hoá trong những năm gần đây chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
khác xem nh xung lực đẩy mạnh thêm cho xu thế toàn cầu hoá. Đó là sự
phát triển về dân chủ, văn hoá
3. Triển vọng phát triển toàn cầu hoá và hội nhập KTQT
3.1. Toàn cầu hoá không còn là âm mu của các nớc t bản phát
triển nhằm thôn tính thế giới
Chúng ta đã biết rằng sau chiến tranh lạnh thế giới vận động theo trật
tự đa cực với một siêu cờng là Mỹ. Với sức mạnh của mình Mỹ đóng vai trò
chi phối bàn cờ thế giới. Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ
2 Mỹ luôn chiếm 30% GDP thế giới. Và đến khi cờng quốc Xô Viết sụp đổ
thì Mỹ thực sự trở thành một siêu cờng duy nhất, Mỹ đã xúc tiến một chiến
lợc nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình. Mu đồ của Mỹ là "không để
có một kẻ thách thức nào ở lục địa Âu - á nổi lên có đủ khả năng thống trị
nơi đây và thách thức nớc Mỹ. Mỹ muốn quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh
hởng, chịu sự chỉ huy, điều khiển của mình.
Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ thao túng các định chế kinh tế toàn cầu,
đòi các quốc gia phải mở rộng cửa thị trờng, tham gia hội nhập vào bàn cờ
kinh tế quốc tế theo các luật chơi đã đợc định sẵn xuất phát từ nhu cầu, lợi
ích và quan niệm chuẩn mực giá trị lối sống Mỹ. Vì vậy không phải ngẫu
nhiên mà có ý kiến đã đồng nhất toàn cầu hoá với Mỹ hoá.
Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế t bản ta thấy bản thân
các nền kinh tế này cũng đã trải qua thời kì bảo hộ cao chống lại sự xâm
naâpj từ bên ngoài. Nhng do sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất
đã đặt ra nhu cầu mở rộng giao tiếp và mở rộng thị trờng ngoài biên giới.
Sự phát triển CNTB của Mác đã chỉ ra luôn bị hai giới hạn bởi thị
trờng và nguyên liệu, cho nên xu hớng bành trớng tìm kiếm thị trờng và
nguyên liệu có nguồn gốc trong kết cấu phát triển của CNTB. Việc tạo ra sự
phát triển vợt bậc của lực lợng sản xuất trong CNTB so với các xã hội
trớc đó cũng chính là cơ sở, là điều kiện cho quá trình bành trớng ra bên
ngoài.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
Nh vậy xu thế quốc tế hoá toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự
hình thành và phát triển của CNTB đã lợi dụng những thành tựu của khoa
học - kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành
của những liên minh độc quyền cấu kết với nhau chi phối các quan hệ kinh
tế.
Ngay trong thời kì đầu tiên này, quá trình quốc tế hoá đã chịu sự chi
phối của CNTB. Và khi hệ thống CNXH bị sụp đổ thì các nớc đế quốc mu
toan lợi dụng xu thế toàn cầu hoá để nhằm xoá bỏ các nớc XHCN chúng
muốn "buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phơng thức sản xuất TBCN".
Các nớc TBCN cũng nhận thấy những cơ hội kiếm lợi lớn qua toàn cầu hoá
nên càng thúc đẩy mạnh mẽ toàn cầu hoá. Họ đòi hỏi các quốc gia đang phát
triển phải mở cửa thị trờng, phải chấp nhận các luật chơi đã có do chính họ
đặt ra nhằm loại bỏ những u thế, những lợi thế so sánh của các quốc gia đi
sau. Đồng thời họ đặt ra hàng loạt điều kiện cho các nớc đang phát triển
trong quá trình tiếp xúc thị trờng của chính họ. Trên thực tế họ mong muốn
tạo lập một mô hình kinh tế một loạt giá trị chung cho thế giới theo quan
điểm của họ.
Tuy nhiên sự thống trị, chi phối đó của CNTB mà đứng đầu là Mĩ chỉ
là tạm thời.
Thừa nhận sự chi phối của CNTB đối với quá trình toàn cầu hoá kinh
tế hiện nay, thừa nhận tính chất chính trị của quá trình toàn cầu hoá không
có nghĩa chúng ta tẩy chay, từ chối tham gia toàn cầu hoá kinh tế, mà ngợc
lại phải đấu tranh vì sự toàn cầu hoá hớng tới sự tiến bộ và phát triển của
nhân loại. Chủ nghĩa t bản đang mu toan phổ biến các giá trị và luật chơi
t bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Song điều đó vấp phải xu hớng
vơn tới tự do bình đẳng của cả nhân loại. Vì vậy chính trong toàn cầu hoá
chủ nghĩa t bản cũng sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá
không chỉ có Mỹ và các nớc t bản phát triển mà còn có hàng loạt các quốc
gia trên thế giới, trong đó có cả các quốc gia đang trên con đờng đi lên
CNXH. Do vậy quá trình toàn cầu hoá không phải đơn giản là sự phổ biến
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
các giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu tranh, thoả thuận, sàng
lọc, trong đó các giá trị văn minh, nhân đạo của loài ngời sẽ đợc chấp
nhận, đó chính là quá trình hội nhập giao thoa của các nền kinh tế, các giá trị
văn hoá, chính trị, và trong quá trình ấy những cái gì là tiến bộ sớm muộn
sẽ tất yếu đợc phát triển. Đó là quy luật phát triển của xã hội. Những diễn
biến trong tổ chức thơng mại thế giới vừa qua chính là một ví dụ phản ánh
xu thế đó. Và cũng vì vậy sẽ là không thoả đáng khi xem toàn cầu hoá hiện
nay thuần tuý mang tính chất t bản chủ nghĩa. Sự đan xen của các lợi ích
trong quá trình tham gia hội nhập của các chủ thể phản ánh tính phức tạp và
đầy mâu thuẫn của chính quá trình này.
3.2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng
Xu thế toàn cầu hoá từ khi xuất hiện cho đến nay trong quá trình phát
triển luôn vấp phải sự chống đối của những ngời có quan niệm sai lệch về
toàn cầu hoá. Nhng điều đó không thể thay đổi đợc tính tất yếu của xu thế
này. Toàn cầu hoá vẫn diễn ra và diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các
phơng diện từ kinh tế cho đến chính trị, văn hoá, xã hội. Trong tất cả các
mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế phát triển nhất, có tác động đến các lĩnh vực
khác của xu thế này. Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ
gắn liền với xu thế khu vực hoá diễn ra cũng không kém phần nhộn nhịp.
Trớc xu thế đó thì hội nhập kinh tế quốc tế đã đang trở thành yêu cầu
bức thiết đối với mỗi nớc. Ngày nay số đông các nớc trên thế giới đã nhận
thức đợc rằng toàn cầu hoá là sản phẩm văn minh của nhân loại và do đó họ
đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy toàn cầu hoá. Nh
vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang gia tăng nhanh chóng cùng với xu
thế toàn cầu hoá.
II. Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Nhìn lại chặng đờng phát triển của dân tộc ta, trên thực tế chúng ta
cha bao giờ tách khỏi nền kinh tế thế giới, chúng ta đã đang và sẽ tiếp tục
quá trình hội nhập.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Đề án kinh tế chính trị
Giai đoạn từ năm 1945 cho đến khi chúng ta thực hiện đổi mới quan
hệ Việt Nam với khu vực bị ngừng trệ. Chúng ta chỉ tiến hành quan hệ với
các nớc XHCN mà đáng chú ý là việc tham gia vào hội đồng tơng trợ
kinh tế (SEV). Nhng bớc sang giai đoạn đổi mới mà bắt đầu từ đại hội
Đảng 6 của Đảng đã mở ra phơng cách mới chúng ta đã tiến hành chuyển
sang cơ chế thị trờng. Cùng với những đổi mới bên trong chúng ta thực hiện
chuyển nhợng chiến lợc trong kinh tế đối ngoại từng bớc hội nhập vào
nền kinh tế thế giới và khu vực.
Tiếp tục tinh thần đại hội VII, đại hội VII, VIII và gần đây nhất là đại
hội IX cùng các nghị quyết của hội nghị trung ơng đã tạo nên cơ sở rất
quan trọng để triển khai thúc đẩy hội nhập kinh tế.
Thực hiện các đờng lối đổi mới trong hơn 10 năm qua chúng ta đã có
những bớc đi ban đầu tơng đối bài bản trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới (nếu nh cuối năm 80 kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng trong điều kiện Việt Nam bị bao vây cấm vận ngặt nghèo tởng
nh khó đứng vững nổi, nhng với quyết tâm đổi mới mở cửa từng bớc hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực chúng ta đã đợc đợc những thành tích
đáng khích lệ.
Năm 1993 Việt Nam đã nối lại quan hệ tín dụng với IMF và WB. Và
từ đó liên tiếp đợc các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức viện trợ phát
triển (ODA) của Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức tài chính khác thờng
xuyên viện trợ để giải quyết những vấn đề khó khăn tạo điều kiện cho nhiều
ngành kinh tế phát triển.
Đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với trên
160 quốc gia trên thế giới, kí kết các hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc.
Năm 1995 gia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam á, tham gia các
Hiệp định về khu vực đầu t khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các
chơng trình u đãi thuế quan (CEPT) hành động chung (CAPT). Đây là
những bớc hội nhập thực sự vào hành động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội quan trọng nhất trong khu vực.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét