Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hành cổ phiếu hoặc cố gắng dùng lợi nhuận không chia. Tuy nhiên, các DN
thường không quan tâm nhiều đến việc giữ một mức cân bằng nhất định mà việc
điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoản nợ thường tuỳ thuộc vào thực tế tình
hình sản xuất - kinh doanh và các điều kiện khác.
Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của tín dụng Ngân hàng đối với
các DN của Việt Nam trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển và
hoạt động chưa hiệu quả. Đối với các DNVVN NQD thì tín dụng Ngân hàng lại
càng quan trọng bởi trong các loại hình DNNQD thì: Công ty hợp danh và công
ty tư nhân không được quyền phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào; Công
ty cổ phần, công ty TNHH có quyền phát hành trái phiếu, song không phải DN
nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu, vì nhà đầu tư phải
đánh giá uy tín của DN rồi mới quyết định: mua hay không; các DN vững mạnh
và có uy tín trên thị trường thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra
công chúng để thu hút vốn. Trên thực tế, điều kiện để phát hành trái phiếu cũng
khá phức tạp, nhất là trong điều kiện thị trường tài chính hiện nay của Việt Nam;
ngoài ra do đa số DNVVN có thời gian hoạt động chưa lâu nên chưa tạo được
uy tín trên thị trường, để có thể phát hành trái phiếu đối với các DN NQD, nhất
là các DNVVN là một việc rất khó khăn, chi phí lớn và mất thời gian; vì vậy,
với yêu cầu về vốn phải nhanh chóng, kịp thời thì tín dụng Ngân hàng là một
giải pháp tốt.
Đồng thời, trong điều kiện mà thị trường tài chính chưa phát triển và hoạt
động chưa hiệu quả thì nguồn vốn tự có của DN là tương đối quan trọng trong
việc mở rộng sản xuất - kinh doanh; tuy nhiên, ở nước ta nguồn vốn này còn rất
hạn chế; vì vậy mà khi cần vốn thì các doanh nghiệp nói chung và các DNVVN
NQD nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào nguồn vốn trên thị trường tài chính “phi
chính thức” (nguồn lực vốn và tài sản tự thân, vốn góp của các thành viên, vay
của người thân, bạn bè hoặc đi “vay nóng”, vay trả góp với lãi suất cao ), với
lượng vốn “cấu vá” từ nhiều nguồn nhỏ lẻ khác nhau thì tính chất không ổn định
là khá rõ ràng, ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch mở rộng sản xuất - kinh doanh
của DN; nguồn vốn vay từ Ngân hàng còn chưa được tận dụng hiệu quả, các
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DNVVN NQD tuy thiếu vốn để đầu tư sản xuất - kinh doanh song rất khó tiếp
cận với các nguồn tài chính chính thức; tuy vay Ngân hàng là phương thức huy
động vốn dài hạn mà các DN Việt Nam áp dụng phổ biến nhất, song không phải
bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tiếp cận được với nguồn vốn này và khả
năng vay cũng bị hạn chế so với quy mô hiện tại của doanh nghiệp và nhu cầu
của dự án, phương thức sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi.
Có thể nói: không có doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng nếu
doanh nghiệp đó muốn tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.Tín dụng
ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với phát triển của các DNVVN NQD,
điều này được thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Nâng cao hiệu quả dụng vốn: khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, DN
phải tôn trọng các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng (HĐTD), bảo
đảm trả nợ một cách đầy đủ và đúng hạn, đồng thời phải tôn trọng các điều
khoản khác của hợp đồng cho dù DN sản xuất - kinh doanh hiệu quả hay không.
Ngân hàng chỉ cho vay khi đã thẩm định đầy đủ về tư cách pháp lý của DN và
các điều kiện khác, tất cả phải chứng minh được rằng DN kinh doanh có hiệu
quả, khả năng tài chính lành mạnh và có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy,
ngay từ khi thành lập phương án sản xuất - kinh doanh, DN đã phải cân nhắc
"sản xuất - kinh doanh cái gì”, “bằng cách nào”, “đầu vào và đầu ra như thế
nào”, không chỉ quan tâm tới việc thu hồi đủ vốn mà DN còn phải quan tâm đến
việc sử dụng vốn như thế nào cho hiệu quả, để có thể tăng nhanh vòng quay vốn,
đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất đi vay Ngân hàng thì mới đảm bảo có
lãi sau khi trả lãi cho Ngân hàng. Trong quá trình cho vay, Ngân hàng cũng phải
tiến hành kiểm soát trước, trong và sau khi DN thực hiện dự án để đảm bảo DN
sử dụng vốn đúng mục đích, đồng thời có thể phát hiện những yếu kém của dự
án và qua đó có thể tư vấn cho DN về những biện pháp khắc phục nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
- Tín dụng Ngân hàng đảm bảo cho DN hoạt động liên tục: tín dụng Ngân
hàng giúp cho DN đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, trang trải
chi phí cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất - kinh doanh và phát triển DN.
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình hội nhập, khi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, DN muốn tồn
tại và phát triển thì phải thường xuyên cải tiến kĩ thuật, đầu tư mới công nghệ,
thay đổi mẫu mã, nghiên cứu tạo ra những sản phẩm mới; song trên thực tế,
không có DN nào có đủ 100% vốn đảm bảo nhu cầu phát triển sản xuất - kinh
doanh; vì vậy, để có thể mở rộng sản xuất - kinh doanh và phát triển thì DN chủ
yếu vẫn phải dựa vào tín dụng Ngân hàng.
1.1.3. Các hình thức tín dụng Ngân hàng
1.1.3.1. Phân theo thời gian
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân hàng, vì
thòi gian liên quan mật thiết tới tính an toàn và sinh lời cũng như khả năng hoàn
trả của khách hàng.
Phân theo thời gian, tín dụng phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời gian dưới 12 tháng,
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động, hoặc nhu cầu vốn ngắn hạn.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến
5 năm, thường dùng để tài trợ cho các tài sản cố định như: phương tiện vận tải,
trang thiết bị chóng hao mòn hay một số loại cây trồng vật nuôi
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm, dùng để tài trợ cho các công
trình xây dựng như: nhà cửa, cầu đường hay các loại máy móc, thiết bị có giá
trị lớn, có thời gian sử dụng lâu, khấu hao chậm.
1.1.3.2. Phân theo hình thức cấp tín dụng
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, điều 49 quy định: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá
nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước”.
Theo hình thức tài trợ, tín dụng phân thành: cho vay, cho thuê, bảo lãnh,
chiết khấu thương phiếu.
- Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng, là hình thức tín
dụng mà Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng và khách hàng cam kết hoàn trả
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gốc và lãi trong khoảng thời gian nhất định. Cho vay gồm rất nhiều hình thức đa
dạng, như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay thấu chi,
cho vay luân chuyển
+ Cho vay từng lần: là hình thức cho vay áp dụng đối với đối tượng là
khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, hoặc không đủ điều kiện
để được cấp hạn mức tín dụng; mỗi lần vay vốn, khách hàng phải làm đơn, trình
Ngân hàng phường án sử dụng vốn; Ngân hàng và khách hàng thoả thuận về các
điều khoản của hợp đồng tín dụng và làm các thủ tục vay vốn cần thiết. (Số tiền
vay vốn bằng tổng nguồn vốn của dự án trừ đi vốn chủ sở hữu hoặc vốn tự có,
vốn khác tham gia).
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh dịch vụ và phục vụ đời
sống. Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực
hiện dự án nhất định thì khách hàng phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế
hoạch đầu tư và quá trình thực hiện dự án; qua đó, Ngân hàng sẽ thẩm định để
đưa ra quyết định cuối cùng.
STCV = Tổng nhu cầu vốn của dự án - VCSH và các nguồn vốn khác tham gia
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên việc luân chuyển
hàng hoá của DN; DN thiếu vốn, khi muốn mua hàng hoá thì có thể vay Ngân
hàng, khi DN bán hàng thì Ngân hàng sẽ thu nợ. Cho vay luân chuyển thường áp
dụng đối với DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn, có
quan hệ vay - trả thường xuyên với Ngân hàng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng đối với các khách hàng có nhu
cầu vốn thường xuyên hoặc có đặc điểm sản xuất - kinh doanh không phù hợp
với phương thức cho vay từng lần.
Hạn mức tín dụng được xác định căn cứ vào phương án, kế hoạch sản
xuất - kinh doanh, nhu cầu vay vốn, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm
bảo tiền vay theo quy định của NHCT Việt Nam và khả năng nguồn vốn của
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngân hàng để tính toán và thoả thuận với khách hàng một hạn mức tín dụng duy
trì trong một thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất - kinh doanh; trong
suốt thời gian duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng được quyền rút vốn phù hợp
với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không vượt quá
hạn mức đã ký; mỗi lần rút vốn, khách hàng phải trình bày phương án sử dụng
tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá, dịch vụ và lập một
giấy nhận nợ với Ngân hàng.
Hạn mức tín dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Trong kỳ khách
hàng có thể vay - trả nhiều lần song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín
dụng, nếu quy định hạn mức tín dụng cuối kỳ thì trong kỳ dư nợ DN có thể vượt
hạn mức tín dụng nhưng đến cuối kỳ thì DN phải trả nợ để dư nợ nhỏ hơn hạn
mức đã được cấp.
+ Cho vay thấu chi: Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản với khách hàng,
qua đó Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng chi vượt mức số tiền có trên tài
khoản thanh toán phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho thuê tài sản: là việc Ngân hàng bỏ tiền để mua tài sản và cho khách
hàng thuê với những thoả thuận nhất định, trong đó bao gồm việc khách hàng
phải hoàn trả gốc và lãi cho Ngân hàng. Cho thuê tài chính áp dụng trong trường
hợp khách hàng không đủ (hoặc chưa đủ) điều kiện để vay; để mở rộng tín dụng,
Ngân hàng mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê; tài
sản cho thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể thu hồi
khi khách hàng không trả được nợ.
- Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
thay khách hàng của mình, khi khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ
đã cam kết.
- Chiết khấu thương phiếu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
khi sở hữu thương phiếu chưa đến hạn.
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.3. Phân theo phương thức tài trợ
- Cho vay kinh doanh: là các khoản cho các doanh nghiệp, các hộ kinh
doanh cá thể vay để phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh như: mua tài sản
cố định, mua nguyên vật liệu, mua hàng hoá
- Cho vay tiêu dùng: là các khoản tín dụng mà Ngân hàng cấp cho khách
hàng là các cá nhân, hộ gia đình để mua nhà, mua các tài sản có giá trị
- Cho vay khác
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DNVVN NQD
1.2.1. Các khái niệm và phân loại
1.2.1.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ
a. Khái niệm
Theo Nghị định của Chính phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 thì
DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có số vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng và số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người.
b. Các tiêu thức phân loại
Quy mô DN được xác định dựa trên các tiêu chí: nguồn vốn kinh doanh,
quy mô lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp Ngân sách Nhà nước.
- Lao động: là số lao động thực tế được sử dụng tính bình quân trong 3
năm gần nhất.
- Giá trị nộp Ngân sách: lấy theo số thực nộp vào Ngân sách Nhà nước
theo số phát sinh trong kỳ, bao gồm các loại thuế và các khoản nộp khác theo
quy định của Nhà nước trong năm báo cáo (không tính các khoản thuế xuất nhập
khẩu, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, các khoản tiền phát,
phụ thu).
1.2.1.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
a. Khái niệm
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp là doanh nghiệp có
tính chất tư hữu (không kể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Các loại
hình DNNQD chủ yếu là: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh và
doanh nghiệp tư nhân.
b. Các loại hình DN NQD
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, các loại hình doanh nghiệp ngoài
quốc doanh bao gồm:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
- Công ty cổ phần
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì chỉ có công
ty cổ phần là có quyền phát hành cổ phiếu, còn lại tất cả các doanh nghiệp khác
đều không có quyền phát hành cổ phiếu. Mặt khác, công ty Cổ phần, công ty
TNHH, doanh nghiệp tư nhân cũng có quyền phát hành trái phiếu song điều kiện
để các doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra công chúng rất khó khăn bởi trên
thực tế, các doanh nghiệp này hầu hết đều có quy mô vừa và nhỏ, thời gian hoạt
động chưa lâu và chưa có uy tín trên thị trường.
1.2.2. Đặc điểm của DNVVN NQD
DNVVN NQD là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô vừa và
nhỏ. Tại Việt Nam, đa số các DNNQD đều có quy mô vừa và nhỏ; vì vậy, đặc
điểm của DNVVN NQD cũng chính là đặc điểm của các DNVVN nói chung.
Thứ nhất, đặc điểm nổi bật của các DNVVN chính là quy mô vốn ban đầu
thấp, vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp là do các thành viên góp vốn, do
vậy có quy mô không lớn, hiện tiềm lực tài chính của khu vực này rất bé, số vốn
chủ sở hữu bình quân chỉ khoảng 1.800 triệu đồng. Các DNVVN luôn gặp khó
khăn do chính quy mô vừa và nhỏ của mình, chính đặc điểm này đã dẫn tới hệ
quả là hầu hết các DNVVN sử dụng trang thiết bị, công nghệ lạc hậu nên sản
phẩm hàng hoá - dịch vụ sản suất ra thường có giá trị công nghệ thấp, hàm
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lượng chất xám ít, không có tính ổn định và khả năng cạnh tranh không cao,
không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, nhất là thị trường thế giới; hầu
hết sản phẩm tạo ra không có tính định hướng lâu dài trong kinh doanh và DN
thường xuyên thay đổi ngành nghề và cơ cấu mặt hàng, các mặt hàng phong phú
về chủng loại song số lượng không lớn. Mặt khác, cũng chính vì phần lớn công
nghệ mà các DNVVN sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, thậm chí vài chục
năm nên không thể nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm và thường gây
ra ô nhiễm môi trường, và đây cũng là nguyên nhân chính của tình trạng lãng
phí trong sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu.
Các DN muốn mua sắm thiết bị, đổi mới công nghệ song do vốn chủ sở
hữu thấp, tín dụng Ngân hàng thì khó tiếp cận, không phải DN nào cũng có thể
tiếp cận được với tín dụng Ngân hàng; ngay cả khi có thể vay Ngân hàng thì
nhiều khi số vốn vay được và thời gian vay cũng chưa thực sự phù hợp với thời
hạn của dự án. Trong một cuộc hội thảo về vai trò và thực trạng của các
DNVVN, 2/3 số Giám đốc của các DNVVN cho rằng: đôi khi các DNVVN
cũng tiếp cận được với tín dụng Ngân hàng song chỉ là ngắn hạn, tín dụng dài
hạn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng là rất khó, có tới 80% số
các khoản tín dụng là ngắn hạn; điều này chủ yếu là do để đầu tư cho máy móc,
trang thiết bị thì cần nguồn vốn dài hạn trong khi nguồn vốn của Ngân hàng chủ
yếu là không kỳ hạn và ngắn hạn nên thường không đáp ứng được nhu cầu của
các DN.
Thứ hai, các DNVVN tuy hoạt động linh hoạt nhưng kém hiệu quả. Cơ sở
sản xuất của đại đa số DNVVN thường phân tán, quy mô nhỏ lẻ, manh mún,
thường sử dụng đất đai, nhà ở của gia đình trong khu dân cư làm mặt bằng sản
xuất - kinh doanh. Hiện nay, đa số các DNVVN làm ăn có hiệu quả muốn mở
rộng sản xuất - kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất làm mặt bằng;
việc xin cấp đất của các DNVVN bị cản trở bởi hồ sơ, thủ tục vẫn còn khá phức
tạp. Trước sức ép của thời buổi “tấc đất, tấc vàng”, có chủ DN đã phải thốt lên:
“Nghĩ đến việc xin cấp đất, thuê đất tôi như nhìn thấy trên con đường có những
tấm rào không thể vượt qua”. Mặt khác, với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, phân tán,
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đó vừa là lợi thế song cũng tạo nên những khó khăn cho các DNVVN. Lợi thế
của việc sản xuất phân tán, quy mô nhỏ là có thể hoạt động được ở những vùng
dân cư sống phân tán, len lỏi vào những khu vực thị trường “ngách” mà các DN
lớn bỏ qua, lĩnh vực hoạt động đa dạng, phong phú, cũng chính vì vậy mà có thể
dễ dàng thay đổi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động để chuyển sang các ngành
nghề, lĩnh vực khác có lợi hơn khi thị trường có những biến động, chi phí rút lui
khỏi thị trường thấp, dễ chuyển địa điểm kinh doanh hơn các DN lớn; tuy nhiên
cũng chính vì điều này làm cho DN khó đương đầu với những biến động bất ngờ
của thị trường, nếu không thực sự mạnh thì sẽ bị thị trường đào thải. Các
DNVVN thường không có chiến lược kinh doanh dài hạn mà chỉ làm ăn chạy
theo phong trào, khi thấy có cơ hội thì tận dụng tối đa, triệt để nhất mọi nguồn
lực để thu được lợi nhuận trước mắt mà không tính đến lâu dài.
Thứ ba, các DNVVN cũng thường phải chịu thiệt thòi, phải gánh chịu
những thông lệ và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng không chỉ ở thị trường
trong nước mà còn trên thị trường thế giới. Phần lớn các DNNQD hiện nay hoạt
động trong tình trạng thiếu cập nhật thông tin về các cơ chế chính sách mới ban
hành cũng như thông tin về các thị trường đầu vào như: thị trường vốn, thị
trường nguyên vật liệu, thị trường công nghệ, thiết bị kỹ thuật ; thiếu thông tin
về thị trường tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là thị trường xuất khẩu và chưa tiếp cận
được với công nghệ thông tin trong quản lý DN. Trong điều kiện hiện nay, khi
chúng ta đang trên đường hội nhập với thế giới, Việt Nam đang rất tích cực đàm
phán để gia nhập WTO trong năm na, thì các DNVVN càng cần phải nâng cao
trình độ tiếp cận thông tin, nhất là thông tin về các quy định của pháp luật ở
trong và ngoài nước, bởi gia nhập WTO cũng có nghĩa là cạnh tranh sẽ không
ngừng tăng lên, các tranh chấp thương mại trên thị trường sẽ xảy ra ngày càng
nhiều hơn và khốc liệt hơn. Khi Việt Nam gia nhập WTO, các DNVVN chính là
lực lượng tiên phong, được hưởng lợi và cũng là lực lượng chịu sự cạnh tranh
khốc liệt nhất; tuy nhiên, cho đến thời điểm này, khi mà Việt Nam đã đứng
trước ngưỡng cửa của WTO thì các DN thuộc khu vực này vẫn chưa có sự
chuẩn bị tích cực.
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo ông Lý Đình Sơn - Phó Chủ tịch Hiệp hội DNVVN của Việt Nam -
“khi các DN có quan hệ làm ăn chặt chẽ với các đối tác nước ngoài thì cũng là
lúc các vụ kiện thương mại tăng lên; trong đó các vụ kiện bán phá giá giày dép,
cá tra, cá basa, hay mới đây là vụ Liên minh Châu Âu kiện các DN Việt Nam
bán phá giá xe đạp và các vụ kiện do giao hàng chậm mà các DN Việt Nam
gặp phải trong thời gian qua là những ví dụ điển hình. Trong bối cảnh như vậy,
ngoài việc tự tăng cường kiến thức hội nhập, kiến thức về luật pháp quốc tế, các
DNVVN Việt Nam cũng nên hợp tác với nhau. Có một sự thật là các DN Việt
Nam có chung lợi ích rất ngại hợp tác với nhau, mà lại thường cạnh tranh làm
cho vấn đề càng trở nên phức tạp, trong khi phía đối tác nước ngoài thì hoàn
toàn ngược lại”.
Do quy mô nhỏ nên mô hình tổ chức của các DNVVN rất gọn nhẹ, số
lượng lao động không nhiều, không có quá nhiều các khâu trung gian nên hoạt
động năng động, dễ thích nghi với những thay đổi của thị trường, dễ dàng
chuyển đổi; các quyết định, chỉ đạo nhanh chóng đến với người lao động, giảm
độ “trễ” do các khâu trung gian tạo ra, công tác kiểm tra, giám sát cũng nhanh
chóng và hiệu quả hơn; điều này làm giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động của
DN đồng thời. Tuy nhiên, cũng chính vì quy mô nhỏ nên nhiều DN chưa quan
tâm đến việc xây dựng nội quy lao động để đưa người lao động vào một “khuôn
khổ, quy củ” nhất định; có DN xây dựng nhưng chỉ để lấy lệ, chưa kiểm tra chặt
chẽ. Việc thực hiện các nội quy này việc xây dựng nội quy trong mỗi DN là rất
quan trọng vì điều này không chỉ giúp tăng kỷ luật lao động mà còn giúp người
lao động hiểu được nhiệm vụ của mình và cũng qua đó để DN xác định mức độ
hoàn thành công việc của người lao động; vì vậy, các DN cần quan tâm hơn nữa
đến việc này.
Thứ tư, các doanh nhân, các nhà quản lý DN chưa được đào tạo bài bản về
chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu hiểu biết đầy đủ về quản trị doanh nghiệp hiện đại
trong điều kiện hội nhập kinh tế nên trình độ quản lý chưa cao; các DN chủ yếu
do chủ DN đứng ra làm giám đốc, có rất ít thuê giám đốc để quản lý, các chủ
DN quản lý DN chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Văn hoá lãnh đạo quản lý là nhân
Nguyễn Thị Vân Anh - Ngân hàng 44B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét