Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định tại Ngân hàng TMCP An Bình

5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, địa
phương và các quy chế , luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng của
Nhà nước
Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và
trình độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới. Nắm vững tình hình sản
xuất- kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan hệ kinh tế- tài
chính tín dụng của doanh nghiệp với doanh nghiệp khác, với ngân hàng và ngân sách
Nhà nước
Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung dự báo, có sự phối
hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành có
liên quan, tron nước và nước ngoài.
2.4/Nội dung của công tác thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án thường bao gồm các nội dung sau:
Thẩm định mục tiêu và các điều kiện pháp lý của dự án:
- Xem xét mục tiêu của dự án có phù hợp hay không
- Xem xét tư cách pháp nhân, năng lực của chủ đầu tư.
Thẩm định kỹ thuật:
- Xem xét sự cần thiết của dự án
- Thẩm định quy mô của dự án
- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị
- Thẩm định nguồn nguyên liệu và các yếu tố đầu vào cần thiết
- Thẩm định phương án và địa điểm xây dựng, phương án kiến trúc
Thẩm định kinh tế dự án: là nội dung quan trọng của thẩm định dự án nhằm
đánh giá lại hiệu quả của dự án trên giác độ toàn bộ nền kinh tế. Nội dung này
thường được đặc biệt chú trọng đối với các dự án được tàI trợ bằng vốn của Nhà
nước. Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội là xem xét lợi ích cua dự án đem lại cho quốc
gia và cộng đồng thông qua các xem xét sau:
- Xem xét các khoản thanh toán, chuyển nhượng
- Xem xét cách xác định giá kinh tế
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
5
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
- Tỷ giá hối đoái
- Tỷ suất chiết khấu xã hội được chọn
các chỉ tiêu khác
Thẩm định về phương diện tài chính của dự án:
- Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tàI trợ cũng như các phương
thức tài trợ cho dự án
- Xác định chi phí và lợi ích của dự án, xác định dòng tiền
- Dự tính lãi suất chiết khấu
- Xác định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
- Đánh giá rủi ro dự án
2.5/Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp
thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và các nguồn
thông tin đáng tin cậy. Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp
khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án
Phương pháp so sánh các chỉ tiêu.
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ
yếu của dự án được so sánh với các dự án đã và đang xây dựng hoặc đang hoạt động.
Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
* Qui chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế xây dựng, điều kiện tài chính mà dự án có thể
chấp nhận được.
* Quy chuẩn, tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu
tư công nghệ quốc gia, quốc tế.
* Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi
* Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư.
* Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng nguyên liệu, nhân công, tiền
lương, chi phí quản lý của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến).
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
6
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
* Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn hiện hành của
Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
* Các chỉ tiêu mới phát sinh.
Trong việc sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý, các chỉ tiêu dùng để tiến
hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án
và doanh nghiệp, cần hết sức tranh thủ ý kiến của cơ quan chuyên môn, chuyên gia
(kể cả thông tin trái ngược), tránh khuynh hướng so sánh máy móc, cứng nhắc.
Phương pháp thẩm định theo trình tự.
Việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự biện chứng từ tổng
quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.
Thẩm định tổng quát : Là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơ
bản thể hiện tính đầy đủ, tính phù hợp, tính hợp lý của một dự án.
Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ qui mô, tầm
quan trọng của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Xác định
các căn cứ pháp lý của dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý
dự án dự kiến. Dự án có thể bị bác bỏ nếu không thoả mãn các yêu cầu về pháp lý,
các thủ tục qui định cần thiết và không phục vụ gì cho chiến lược phát triển kinh tế
chung.
Thẩm định chi tiết : Là việc xem xét một cách khách quan khoa học, chi tiết
từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả của dự án
trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật - công nghệ - môi trường, kinh tế
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế
đất nước.
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết từng nội dung, cần đưa ra những ý kiến
đánh giá đồng ý hay cần sửa đổi, bổ sung hoặc không thể chấp nhận được. Tuy nhiên
mức độ tập trung cho những nội dung cơ bản có thể khác nhau tuỳ theo đặc điểm và
tình hình cụ thể của từng dự án.
Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ
nội dung trước có thể là điều kiện để tiếp tục nghiên cứu. Nếu một số nội dung cơ
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
7
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
bản của dự án bị bác bỏ thì có thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm định các
nội dung còn lại của dự án.
Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy cảm của dự án.
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài
chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có
thể xảy ra trong tương lai đôí với dự án, như vượt chi phí đầu tư, không đạt công suất
thiết kế, giá các chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về
chính sách thuế theo hướng bất lợi khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu
quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc tuỳ điều kiện cụ thể và nên
chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự án để xem
xét. Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiều bất trắc phát
sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao. Trong trường hợp
ngược lại, cần phải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc để đề xuất kiến nghị các
biện pháp hữu hiệu khắc phục hay hạn chế.
Phương pháp dự báo.
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tra
cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết
bị, nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, tính khả thi của dự án.
Phương pháp triệt tiêu rủi ro.
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự
án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh
ngoài ý muốn chủ quan. Để đảm bảo tính vững chắc và dự án có hiệu quả, người ta
thường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính
thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác
có liên quan đến dự án.
Hiện nay một số loại rủi ro trên đã được quy định bắt buộc phải có biện pháp
xử lý như : Đấu thầu, bảo hiểm xây dựng, bảo lãnh hợp đồng.
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
8
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro đơn giản và quen thuộc nhất là bảo
lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và uy tín, thế
chấp tài sản.
II/Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trong ngân hàng thương
mại cổ phần An Bình
1/Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
1.1/Lịch sử hình thànhvà phát triển
Được thành lập theo giấp phép số 535/GP-UB ngày 13/05/1993 của UBND
thành phố Hồ Chí Minh và giấp phép hoạt động ngân hàng thương mạI cổ phần số
0031/NH-GP ngày 15/04/1993 do ngân hàng Nhà Nước Việt Nam cấp.Với những
năm đầu thành lập ngân hàng hoạt động theo mô hình ngân hàng cổ phần nông thôn
thì đến cuối năm 2005 Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã cấp phép cho ABBank
chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn thành
Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị với đầy đủ các chức năng hoạt động .Và hiện
nay theo đánh giá của các tổ chức trong nước cũng như nước ngoài thì Ngân hàng An
Bình được đánh giá là một trong 10 ngân hàng thương mại mạnh nhất tại Việt Nam.
Điều này đã giúp cho ngân hàng khẳnh định được vai trò vị trí của mình trong ngành
ngân hàng và các giúp cho thương hiệu ABBank phát triển mạnh.
Đánh giá cao những nỗ lực và các định hướng đúng đắn của ABBank các tổ
chức kinh tế lớn trong nước là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN),Công ty sữa
Việt Nam (Vinamilk),Công ty tài chính dầu khí (PVFC) đã tham gia góp vốn ,tham
gia hội đồng quản trị với mong muốn trở thành đối tác chiến lược của ABBank góp
phần đưa ABBank phát triển lên tầm cao hơn
Các chương trình phát triển khác:Trong năm 2007 ABBank sẽ thực hiện chiến
lược mở rộng mô hình tổ chức phát triển các mối quan hệ với các đối tác chiến lược
thành lập Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán…
Các mốc son của Ngân hàng
Ngân hàng An Bình được thành lập vào năm 1993 với số vốn điều lệ là 01 tỷ
đồng.Có thể nói đây là một con số khá nhỏ bé trong lĩnh vực hoạt động ngân
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
9
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
hàng.Những thời gian đầu tiên khi ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động cũng không
tránh khỏi gặp rất nhiều khó khăn trên thương trường “cá lớn nuốt cá bé” nhưng với
sự quyết tâm xây dựng của ban lãnh đạo ngân hàng và các thành viên trong ngân
hàng đã khắc phục những khó khăn của mình và bước đầu đã tạo dựng một số thành
công nhất định và ngay sau đó ngân hàng tiếp tục tăng vốn điều lệ lên qua các năm
như năm 2002 tăng vốn điều lệ lên 05 tỷ đồng và năm 2003 thì tăng vốn điều lệ lên
36,1 tỷ đồng và đặc biệt năm 2004 tăng vốn điều lệ lên 70,04 tỷ đồng.
Năm 2005 là năm đánh dấu những bước ngoặt lớn đối với ngân hàng như :
+Ngân hàng đã tăng vốn điều lệ lên đến 165 tỷ đồng,
+Hoàn thành việc xây dựng chiến lược phát triển ABBank và bắt đầu thực
hiện điều hành ,quản lý ABBank theo chiến lược đã hoạch định trong đó nổi bật là
việc định hướng phát triển ABBank trở thành một ngân hàng hiện đại hoạt động theo
các thông lệ và chuẩn mực quốc tế,
+Với sự tham gia của các cổ đông chiến lược của Tổng công ty điện lực Việt
Nam ,Tổng công ty dầu khí mang lại thế và lực mới cho sự phát triển của ABBank
.Tính cho đến thời điểm hiện nay Ngân hàng đã có số vốn lên đến 500 tỷ đồng hoạt
động kinh doanh ở các lĩnh vực ngân hàng bán lẻ,ngân hàng đầu tư và hiện nay đặt
biệt phát triển là công ty chứng khoán An Bình thuộc ngân hàng hoạt động trong lĩnh
vực thị trường chứng khoán Đây sẽ là những bước đi đầu tiên để ABBank đạt đến
mô hình ngân hàng thương mại hoàn thiện vào năm 2008.
1.2/Cơ cấu tổ chức
Sau đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức của ABBank được thể hiện như sau:

Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
10
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
Qua sơ đồ trên cho thấy rõ hệ thống các phòng ban của ABBank được bố trí
rất rõ ràng và thể hiện được chức năng của các phòng ban.
.Trước hết là phòng hành chính:
Nghiên cứu ,phân tích và tổng hợp giúp lãnh đạo ngân hàng xây dựng tổ chức
bộ máy các phòng ban chi nhánh phù hợp với định hướng phát triển của ABBank.
Thực hiện công tác thư ký cho ban giám đốc thư ký cho các hội đồng
Quản lý hành chính tài sản của ngân hàng
.Phòng nhân sự
Quản lý nhân sự lao động tiền lương và các chế độ phúc lợi trên toàn ngân
hàng
.Phòng kế toán
- Phối hợp với các phòng liên quan tham mưu cho giám đốc về kế hoạch và
thực hiện quản lý quỹ tiền lương ,khen thưởng,phúc lợI
- Tổ chức hạch toán kế toán tài sản cố định công cụ lao động kho ấn chi giấy
tờ có giá
- Tính và trích nộp thuế bảo hiểm xã hội theo quy định.Quản lý các khoản chi
phí và thu nhập tại ngân hàng
- Xây dựng kế hoạch tài chính của chi nhánh theo định kỳ và theo dõi thực
hiện kế hoạch được tổng giám đốc phê duyệt.Lập báo cáo cân đối kế toán kết quả
kinh doanh lưu chuyển tiền tệ hàng năm
.Phòng quản lý rủi ro
- Thực hiện quản lý rủi ro hoạt động
- Quản lý rủi ro thị trường và thanh khoản
- Quản lý rủi ro tín dụng
1.3/Tình hình hoạt động chung
Nguồn vốn huy động
Kết quả và hiệu quả huy động vốn của ABBank
Hoạt động nguồn vốn của ABBank trong năm 2005 được đánh giá là thành
công vượt bậc.Tổng nguồn vốn của ABBank tính đến năm 2005 là 679.708 triệu
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
11
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
đồng tăng 164,7% so với năm 2004(là 256.796 triệu đồng).Mức tăng trưởng này có
được là do ABBank chuyển đổi mô hình hoạt động,mạng lưới phát triển mạnh,uy tín
được khẳng định.Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn qua các năm của ABBank cho thấy
điều đó:
Tăng trưởng nguồn vốn

Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Về cơ cấu nguồn vốn qua biểu đồ sau sẽ cho chúng ta góc độ nhìn tổng quát
về các nguồn huy động vốn của ngân hàng An Bình
Cơ cấu nguồn vốn của ABBank được điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại lợi ích
tối đa cho cổ đông nhưng vẫn đảm bảo nguồn vốn khi mở rộng cho vay và nhu cầu
rút tiền gởi không kỳ hạn của khách hàng.Có được kết quả trên là nhờ ABBank có
bước chuyển cơ bản trong hoạt động của mình mở rộng mạng lướI đến gần khách
hàng hơn , đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng ,các chính sách
lãi suất linh hoạt và các hình thức khuyến mãi hấp dẫn thu hút các khách hàng.Phần
đông số vốn nhàn rỗI đang nằm trong đạI bộ phận dân chúng.Với phương châm hoạt
động của ngân hàng là vì lợi ích của nhân dân nên các chính sách tiền gửu linh hoạt
tạo được niềm tin cho khách hàng và được thể hiện ở cơ cấu nguồn vốn và trong báo
cáo kết quả kinh doanh thì tiền gửu của các tổ chức kinh tế và dân cư được phản ánh
như sau:
Chỉ tiêu 2004 2005
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
12
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
Tiền gửu không kỳ hạn 15.204.715.696 41.328.250.404
Tiền gửu có kỳ hạn 47.878.000.000 100.350.000.000
Tiền gửu tiết kiệm 16.506.954.237 41.105.805.199
Cộng 79.589.669.933 182.784.055.603
Bên cạnh đó không những ngân hàng huy động từ các nguồn trong dân cư và
các tổ chức kinh tế mà còn huy động được từ các tổ chức tín dụng khác. Đây là một
tín hiệu tốt giúp ngân hàng khẳng định được uy tín của mình trong ngành nói riêng và
trong cả nền kinh tế nói chung.Năm 2005 là năm có nhiều dấu mốc lịch sử đối với
ngân hàng An Bình bởi số tiền gởi của các tổ chức tín dụng đã tăng cao so với các
năm trước từ 38.050.000.000 VNĐ năm 2004 lên đến 185.223.500.000 VNĐ vào
năm 2005.
Không những chỉ nhận vốn vay từ các tổ chức tín dụng,các tổ chức kinh tế và
dân cư mà ngân hàng còn có các khoản tiền gửu tạI các ngân hàng như Ngân hàng
Nhà nước ,các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước được phản ánh thông qua bảng
số liệu sau:
Các chỉ tiêu 2004 2005
Tiền gửu tại NHNN bằng VNĐ 21.738.528.185 37.545.694.499
Tiền gửu tại các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước
Tiền gửu không kỳ hạn bằng VNĐ 21.330.079.480 7.676.909.944
Tiền gửu có kỳ hạn bằng VNĐ 12.000.000.000 83.250.000.000
Tiền gửu không kỳ hạn ngoại tệ. 7.668.048 170.938.111
Tiền gửu có kỳ hạn ngoại tệ 9.150.080.000 55.543.350.000
Cộng 42.487.827.528 146.641.198.055
Hoạt động tín dụng
Kết quả và hiệu quả của hoạt động tín dụng của ABBank
Năm 2005 đánh dấu sự thành công trong hoạt động tín dụng của ABBank
đóng góp phần quan trọng vào kết quả kinh doanh.
Việc ban hành sổ tay tín dụng vào tháng 9 năm 2005 đã tạo điều kiện tốt nhất
để ABBank áp dụng đầy đủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế trong hoạt động tín
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
13
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S. Vũ Kim Toản
dụng của mình.Tổng dư nợ tín dụng tính đến thờI điểm cuốI năm của ABBank đạt
406.700 triệu đồng tăng 125% so vớI năm 2004.Trong cơ cấu cho vay lượng cho vay
bằng VND là 400.672 triệu đồng chiếm 98,8% tổng dư nợ cho vay.
Sau đây là biểu đồ tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng ABBank trong những
năm qua. Tổng dư nợ tín dụng
2003 2004 2005
Qua biểu đồ trên cho thấy tổng dư nợ cho vay tăng nhanh qua các năm như
năm 2003 tổng dư nợ cho vay có 75.108 triệu VNĐ thì đến năm 2004 mức tổng dư
nợ cho vay đã tăng rất cao là 256.796 triệu đồng. Đánh dấu quan trọng là đến năm
2005 mức tổng dư nợ cho vay đã tăng rất cao như trong biểu đồ đã thể hiện là
609.708 triệu VNĐ. Điều này minh chứng cho việc uy tín của ngân hàng ABBank đã
được khẳng định và ngày càng có nhiều các doanh nghiệp vay vốn để phát triển hoạt
động kinh doanh của mình.
Xét về thời hạn vay năm 2005 ABBank tập trung cho vay ngắn hạn vớI dư nợ
tín dụng ngắn hạn là 324.587 triệu chiếm 80% tổng lượng phát vay tương đương vớI
tỷ lệ năm 2004
Về dư nợ theo kỳ hạn thì có đến 80% là vay ngắn hạn,vay trung hạn và dài
hạn chiếm khoảng 19% còn các khoản vay khác chỉ chiếm có 1% trong tổng dư nợ
tín dụng theo kỳ hạn.
Xét theo đối tượng vay 73% vốn vay của ABBank được cấp cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ,27 % còn lạI được cấp cho các cá nhân.Tỷ lệ nguồn tín dụng
doanh nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao theo đúng định hướng hoạt động của Ban
điều hành.Sau đây là biểu đồ thể hiện dư nợ tín dụng theo đốI tượng vay của ngân
hàng An Bình:
Sinh viên: Trần Thị Phượng Lớp: Kinh tế đầu tư 45B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét