Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮA LỖI TỪ NGỮ, NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH THPT DÂN TỘC KHMER
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp số lỗi mắc phải của HS trong các bài kiểm tra thi
học kỳ I 42
Bảng 2.2: Tổng hợp số lỗi mắc phải của HS trong các bài kiểm tra
thi học kỳ II 44
Bảng 2.3: Tổng hợp số lỗi mắc phải của HS trong các bài kiểm tra ở
các kỳ thi học kỳ 45
Bảng 2.4: Tổng hợp số lượng HS mắc lỗi về từ ngữ, ngữ pháp trong các
bài kiểm tra thi học kỳ I 47
Bảng 2.5: Tổng hợp số lượng HS mắc về từ ngữ, ngữ pháp trong các
bài kiểm tra thi học kỳ II 48
Bảng 2.6: Kết quả mắc lỗi dùng từ ngữ chưa chính xác của HS trong
các bài kiểm tra thi học kỳ 58
Bảng 2.7: Kết quả về việc mắc lỗi liên kết từ của HS trong các bài
kiểm tra thi học kỳ 66
Bảng 2.8: Kết quả lỗi đặt câu thiếu chủ ngữ của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ 83
Bảng 2.9: Kết quả lỗi đặt câu thiếu vò ngữ của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ 87
Bảng 2.10: Kết quả lỗi đặt câu thiếu kết cấu C – V nòng cốt trong các
bài kiểm tra thi học kỳ I 90
Bảng 2.11: Kết quả lỗi đặt câu rối cấu trúc của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ 100
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là tiếng phổ thông, là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân
tộc Việt Nam. Năm 1969, Quyết đònh 153 – CP của thủ tướng chính phủ đã
cụ thể hóa vai trò TV trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số: “Tất cả các
dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông là
ngôn ngữ chung của cả nước. Nhà nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu
số học biết nhanh tiếng, chữ phổ thông”. Và Quyết đònh 53 – CP của Hội
đồng chính phủ (1980) nêu rõ: “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung
của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không thể
thiếu được giữa các đòa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các
đòa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn
hóa, khoa học kỹ thuật… Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực
hiện quyền bình đẳng dân tộc”. Cho nên học sinh dân tộc Khmer cũng giống
như những HS các dân tộc khác khi đến trường đều sử dụng chung một ngôn
ngữ, đó là tiếng Việt.
Đối với HS dân tộc Khmer, TV là ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ thứ
nhất là tiếng mẹ đẻ, là ngôn ngữ dân tộc Khmer mà các em sử dụng để giao
tiếp trong phạm vi đời sống phum sóc của cộng đồng dân tộc mình. TV, tuy
là ngôn ngữ thứ hai đối với người dân tộc Khmer nhưng là ngôn ngữ chung
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khi tiếp xúc với chương trình giáo dục
phổ thông, HS dân tộc Khmer lại gặp sự bất đồng ngôn ngữ nên sử dụng TV
còn nhiều hạn chế về phát âm, dùng từ, đặt câu. Đồng thời do sự tiếp xúc
giữa tiếng Việt – tiếng Khmer làm nảy sinh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ.
7
Do đó, quá trình tiếp xúc với TV trong nhà trường phổ thông của HS dân tộc
Khmer bò “rào cản ngôn ngữ”. Trong các văn bản nói và viết của HS thường
sai phạm qui tắc TV. Các em mắc lỗi từ vựng, ngữ pháp TV nhiều hơn so với
HS người Kinh. Đây là một bài toán khó cho người dạy và người học ở các
trường phổ thông có HS dân tộc vùng sâu vùng núi.
Phương pháp dạy học sửa chữa các lỗi từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt cho
HS THPT đã được đề cập trong nhà trường. Tuy vậy, phương pháp này vẫn
chưa được ứng dụng có hệ thống trong chương trình Ngữ văn. Nhất là chưa
có một chương trình ứng dụng cụ thể, đặc thù dạy học cho HS THPT dân tộc
Khmer. Cho nên trong những năm qua, GV bộ môn Ngữ văn gặp nhiều khó
khăn trên con đường đi tìm những phương cách tháo gỡ tình trạng này. Nó
trở thành một vấn đề bức thiết ở trường phổ thông, nhất là những trường phổ
thông ở vùng sâu vùng núi. Đứng trước tình hình ấy, luận văn của chúng tôi
muốn nghiên cứu: phương pháp dạy học chữa lỗi về từ ngữ, ngữ pháp TV
của HS THPT dân tộc Khmer qua dạy học TV, nhằm giúp các em hạn chế
việc mắc lỗi TV và góp phần thực thi đổi mới PPDH trong nhà trường THPT
hiện nay.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Viết sai chuẩn mực TV là hiện tượng khá phổ biến trong HS các bậc
hiện nay, nhất là học HS dân tộc thiểu số. Hiện tượng viết sai chuẩn mực
cũng không hiếm trên sách báo in ấn. Thế nhưng, nhìn chung, việc nghiên
cứu lỗi hành văn ở các bình diện, các cấp độ lại chưa có một bề dày đáng
kể. Chủ yếu chỉ có một số bài viết ngắn về một số loại lỗi chính tả, lỗi dùng
từ, lỗi ngữ pháp… đăng rải rác trên các tạp chí, báo chí. Một vài loại lỗi
8
vừa nêu cũng được trình bày trong một vài quyển sách giáo khoa, một số
công trình nghiên cứu TV. Rất ít có quyển sách viết về lỗi hành văn một
cách toàn diện, có hệ thống. Nhất là những quyển sách viết về lỗi sử dụng
TV của HS dân tộc Khmer.
Những bài viết và một vài quyển sách về lỗi được in ấn, xuất bản từ
năm 1974 đến nay cũng không nhiều:
Nguyễn Minh Thuyết, trên “Ngôn ngữ” số 3, năm 1974, nêu lên một
số kiểu lỗi ngữ pháp và cách sửa chữa trong bài “Mấy gợi ý về việc phân
tích sửa chữa lỗi ngữ pháp cho học sinh”. Trong bài viết này, tác giả đưa ra
các kiểu lỗi sai như: “lỗi vi phạm về qui tắc cấu tạo từ”, tức là lỗi cấu tạo
cụm từ sai qui tắc ngữ pháp; “lỗi vi phạm về qui tắc cấu tạo câu” (bao gồm
“lỗi thừa chủ ngữ”, “lỗi thiếu chủ ngữ”, “lỗi thiếu vò ngữ”); và cách sửa chữa
từng kiểu lỗi.
Nguyễn Xuân Khoa, trên “Ngôn ngữ” số 1, năm 1975, trình bày một
số lỗi về qui tắc cấu tạo câu trong bài “Lỗi ngữ pháp của học sinh – nguyên
nhân và cách sửa chữa”. Theo Nguyễn Xuân Khoa, lỗi cấu tạo câu gồm:
“Câu thiếu thành phần hạt nhân” (bao gồm “câu thiếu chủ ngữ”, “câu thiếu
vò ngữ”); câu thiếu toàn bộ cấu trúc hạt nhân” (gồm “câu chỉ có một bộ phận
trạng ngữ”, “câu chỉ có một đoạn câu phụ”); “câu có các thành phần không
có quan hệ ý chặt chẽ, chính xác” và “câu có kết cấu rối nát”. Song song với
việc phân tích lỗi sai, tác giả bài viết cũng nêu nguyên nhân sai và cách sửa
chữa. Bài viết của tác giả lý giải khá rõ cái sai ngữ pháp ở một số mặt. Tuy
nhiên, cách phân loại, miêu tả và đònh danh lỗi sai có vài điểm chưa chặt
chẽ và nhất quán.
9
Nguyễn Nhã Bản, “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ
ngữ”, 1981, đề cập lỗi dùng từ của HS. Qua tư liệu thi tuyển sinh vào đại
học, tác giả tiến hành thống kê và phân loại lỗi dùng từ của HS thành ba
kiểu lỗi: “lỗi dùng từ Hán – Việt và thuần Việt”, “lỗi những từ kết hợp
không hợp nghóa” và “lỗi diễn đạt”. Đối với mỗi kiểu lỗi, tác giả nêu số liệu
thống kê và tỉ lệ cụ thể. Bài viết của Nguyễn Nhã Bản trình bày một số khía
cạnh về lỗi dùng từ. Tuy nhiên, cách phân loại lỗi dùng từ và một số ví dụ
minh họa chưa có sức thuyết phục, nhất là “lỗi diễn đạt”.
Trong “Tài liệu tham khảo soạn, giảng kỹ năng Làm Văn lớp 10”, Vụ
giáo dục THPT, năm 1984, có bài viết “Chữa câu sai”, người viết nêu ra một
số kiểu lỗi ngữ pháp như: “câu thiếu chủ ngữ”, “câu thiếu vò ngữ”, “câu
thiếu chủ ngữ và vò ngữ”, “câu sai do chưa biết sử dụng các cặp từ quan hệ”,
“thừa chủ ngữ” và “câu lủng củng, rườm rà”. Đối với mỗi kiểu lỗi sai, tác
giả dẫn ra một vài ví dụ và hướng dẫn cách sửa cụ thể. Nội dung phân tích,
lý giải câu sai ngữ pháp trong tài liệu này có giá trò gợi ý thiết thực cho GV
khi dạy các tiết chữa câu sai, mặc dù cách đònh danh và phân loại câu sai
ngữ pháp của người viết chưa nhất quán và chặt chẽ.
Trong sách giáo khoa “Làm Văn lớp 10”, năm 1991, Đinh Cao và Lê
A đề cập lỗi câu sai và lỗi dùng từ sai. Lỗi câu sai, theo các tác giả, gồm các
kiểu: “câu mới chỉ có kết cấu giới từ hặc cụm danh từ chỉ thời gian, vò trí”,
“câu chỉ mới có cụm danh từ”, “câu thiếu chủ ngữ”, “câu thiếu vế”, “câu sai
quan hệ lôgich”, “câu có kết cấu rối nát” và “câu không đảm bảo sự phát
triển liên tục của ý trong đoạn văn”. Còn lỗi dùng từ sai, gồm các kiểu:
“dùng từ sai vỏ âm thanh”, “dùng từ sai do không hiểu nghóa của từ”, “dùng
10
từ không phù hợp với đối tượng nói năng, với sắc thái tình cảm, thái độ cần
phải có”, “dùng từ không đúng với phong cách văn bản”, và “dùng từ không
đảm bảo tính thẩm mỹ”. Cùng với các kiểu lỗi câu sai và lỗi dùng từ, các tác
giả còn đưa ra “phương hướng sửa chữa câu sai” và “các thao tác chữa lỗi về
từ”. Nhìn chung, các tác giả trình bày các kiểu lỗi câu sai và lỗi dùng từ sai
khá cụ thể, có giá trò gợi ý phát hiện lỗi hành văn. Tuy nhiên, việc phân chia
các lỗi câu sai và lỗi dùng từ của tác giả chưa có hệ thống và tính chặt chẽ;
các kiểu lỗi sai chưa được phân tích một cách cặn kẽ, thấu đáo. Và các tác
giả chưa đưa ra cách thức sửa chữa cụ thể đối với từng kiểu sai. “Phương
hướng sửa chữa câu sai” và “các thao tác chữa lỗi về từ” được đưa ra còn sơ
lược.
Nguyễn Đức Dân và Trần Thò Ngọc Lang, trong “Câu sai và câu mơ
hồ” (1993), đưa ra cách lý giải khá mới mẻ về câu sai. Trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả đi sâu vào phân tích, lý giải hiện tượng câu sai
và hiện tượng câu mơ hồ. Các tác giả muốn góp thêm một tiếng nói mới về
câu sai và muốn nhấn mạnh tới nguyên nhân tâm lý trong quá trình hình
thành một câu sai, mà hiện tượng sai do “chập cấu trúc”. Đối với mỗi câu
sai, cần phân tích kỹ để phát hiện các nguyên nhân gây ra cái sai của nó, từ
đó đề ra cách chữa có hiệu quả. Xuất phát từ quan niệm ấy, các tác giả
không đưa ra những sơ đồ cứng nhắc làm khuôn mẫu khi chữa những câu sai
mà chỉ nêu những phương pháp chung nhất để phân tích và chữa lỗi câu dựa
trên lý thuyết ngôn ngữ học tường minh. Nó được hình thức hóa cao độ để
một mặt chỉ ra sơ đồ cấu trúc tối giản của câu đúng tương ứng, đối chiếu với
sơ đồ câu sai, mặt khác phân tích sự tương hợp nghóa giữa các từ trong câu
11
được xem xét, qua đó chỉ ra cách chữa hợp lý nhất. Quyển sách này còn đề
cập đến câu mơ hồ. Nghiên cứu hiện tượng này làm rõ những đặc điểm của
tiếng Việt. Điều này không những có ý nghóa về phương diện lý thuyết mà
còn có hữu ích về phương diện ứng dụng trong quá trình tạo văn bản, trong
giao tiếp giữa người với người. Trong sách này, các tác giả trình bày bước
đầu hiện tượng mơ hồ TV trên cấp độ: “sự mơ hồ từ vựng”, “sự mơ hồ cấu
trúc”, “câu mơ hồ lôgich”, “câu mơ hồ ngữ dụng”… Quyển sách này là một
đóng góp không nhỏ của các tác giả trong việc tiếp cận, nghiên cứu câu sai,
nhất là ở bình diện ngữ nghóa – lôgich.
Trong SGK “Tiếng Việt lớp 10” hợp nhất chỉnh lý năm 2000, các tác
giả Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu có dành ba tiết (tiết 4, 13, 27) đề cập
liên quan đến vấn đề này. Đó là “Yêu cầu chung về hành văn của các văn
bản”, “Lựa chọn từ ngữ” và “Lỗi về câu”. Nhìn chung, các tác giả chỉ đưa ra
những yêu cầu khi sử dụng từ ngữ: “dùng từ phải chính xác”, “lựa chọn từ để
đạt kết quả mong muốn” và cần “tránh lỗi thừa từ, lặp từ”, “tránh dùng các
từ sáo rỗng, công thức không cần thiết”. Như vậy, vấn đề được đưa vào trong
SGK về việc dùng từ của HS còn sơ sài. Ví dụ nêu ra không đa dạng để cho
HS dễ nhận biết và khắc phục. Còn “Lỗi về câu”, các tác giả tìm ra nguyên
nhân và cách khắc phục cho HS. Các tác giả tìm ra: “lỗi về thành phần câu”
(Không phân đònh rõ thành phần trạng ngữ và chủ ngữ; không phân đònh rõ
đònh ngữ, phần phụ chú và vò ngữ; không phân đònh rõ trật tự cần có của
thành phần câu) và “lỗi về quan hệ ý nghóa giữa các bộ phận trong câu và
giữa câu với câu” (không phân đònh rõ những bổ ngữ có cách chi phối khác
nhau; không phân đònh rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa câu với
12
câu). Các bài tập đa dạng phong phú nhưng trích dẫn dẫn chứng lại xa rời
SGK, không nằm trong chương trình. HS khó cảm nhận và nhận biếtđ ể tìm
ra những lỗi dùng từ đặt câu. Đây là bài viết khá kỹ, tương đối trọn vẹn.
“Lỗi từ vựng và cách khắc phục” với nhóm Hồ Lê, Trần Thò Ngọc
Lang, Tô Đình Nghóa thực hiện. Và quyển thứ hai, đó là “Lỗi ngữ pháp và
cách khắc phục” do nhóm Cao Xuân Hạo, Lý Tùng Hiếu, Nguyễn Kiên
Trường, Võ Xuân Trang, Trần Thò Tuyết Mai điều tra và biên soạn. Các tác
giả sử dụng phương pháp thực nghiệm. Xuất phát từ việc điều tra lỗi chính
tả, từ vựng, ngữ pháp qua 5.000 bài viết của HSSV và những bài trên các
báo “Sài Gòn giải phóng”, “Tuổi trẻ”, “Thanh niên”, “Phụ nữ”, “Công an”,
“Kiến thức ngày nay”… tìm hiểu nguyên nhân, phân loại lỗi, phân tích từng
loại lỗi rồi đưa ra các bài tập có đáp án để người viết sử dụng rèn luyện và
khắc phục.
Bên cạnh đó, ta thấy hàng loạt quyển sách “ Tiếng Việt thực hành”
của những tác giả như Nguyễn Minh Thuyết, Đặng Ngọc Lệ, Nguyễn Kiên
Trường, Hữu Đạt, Nguyễn Đức Dân… đưa ra những cơ sở lý luận về lý
thuyết TV để vận dụng vào các bài tập thực hành là chính yếu dành cho
HSSV. Các dạng bài tập đa dạng, phong phú.
Điểm qua các bài viết, các công trình nghiên cứu, ta thấy các tác giả
đã có những đóng góp đáng trân trọng trong việc tiếp cận, nghiên cứu, lý
giải các lỗi sai về chính tả, từ vựng, ngữ pháp… trên các bình diện, các cấp
độ, ở mức độ này hay mức độ khác. Nhưng có một điều, các nhà ngôn ngữ
học chưa nghiên cứu các lỗi sai về từ vựng, ngữ pháp đối với đối tượng HS
người dân tộc thiểu số khi học TV. Bởi vì hiện nay, đối tượng này cũng
13
chiếm một phần không nhỏ trong các nhà trường phổ thông. Và HS dân tộc
thiểu số đến với TV là đến với ngôn ngữ thứ hai nên việc mắc các lỗi chính
tả dùng từ đặt câu lại mang tính trầm trọng hơn. Vì thế, luận văn này sẽ đi
vào tìm hiểu và đưa ra các giải pháp phù hợp giúp cho HS THPT người dân
tộc Khmer khắc phục một số lỗi cơ bản về từ vựng, ngữ pháp khi học TV.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài này dựa trên thực trạng dạy và học ở trường THPT
vùng dân tộc nhằm đưa ra những lỗi cơ bản về từ vựng, ngữ pháp của HS
dân tộc Khmer học TV. Từ đó, tìm ra những phương pháp sửa chữa các lỗi
ấy để hạn chế “rào cản ngôn ngữ” của các em trong việc tiếp nhận chương
trình giáo dục phổ thông. Hiện nay, vấn đề này trở thành một bài toán khó
trong quá trình dạy và học ở trường phổ thông.
Nghiên cứu đề tài này cũng nhằm rút ra những giải pháp cải tiến
PPDH TV cho GV dạy môn TV. Nhất là giúp cho HS dân tộc Khmer giảm
bớt những lỗi dùng từ đặt câu trong tạo lập văn bản nói và viết… Để rèn
luyện, nâng cao kỹ năng tạo văn bản cho HS, song song với việc trang bò
những tri thức mang tính chuẩn mực về chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn,
văn bản và phong cách ngôn ngữ văn bản, chúng ta cần cung cấp những hiểu
biết về lỗi sai một cách có hệ thống. Bởi vì nhận biết lỗi sai cũng là một
biện pháp tích cực giúp cho HS tiếp cận cái chuẩn mực, để rèn luyện cái
chuẩn mực.
Trên cơ sở các lỗi cơ bản về từ ngữ, ngữ pháp ở HS THPT dân tộc
Khmer, xây dựng những cơ sở lý luận xác đáng cho phương pháp chữa lỗi từ
ngữ, ngữ pháp trong quá trình dạy học TV. Tiến hành khảo sát thực tiễn qua
14
dạy và học tiếng Việt cho HS Khmer THPT ở trường phổ thông, từ đó, chúng
tôi đề xuất một số phương pháp chữa lỗi dùng từ đặt câu TV cho HS THPT
dân tộc Khmer mang tính đặc thù, khả thi.
4. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là HS THPT dân tộc
Khmer trường THPT Dân tộc nội trú An Giang đang học môn Ngữ văn
chương trình giáo dục THPT với việc mắc các lỗi từ ngữ, ngữ pháp TV trong
các bài viết kiểm tra, bài thi.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các lỗi sai cơ bản từ ngữ, ngữ pháp và phương pháp dạy
học chữa các lỗi này trong chương trình giảng dạy, SGK môn “Ngữ văn” cấp
THPT, tài liệu chủ đề tự chọn cấp THPT và qua các tiết dạy TV của GV
trường THPT DTNT AG. Nhất là tập trung vào các bài kiểm tra thi học kỳ
của HS THPT dân tộc Khmer ở trường THPT DTNT AG.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn: Tổng hợp những công
trình, chuyên luận về các lỗi từ ngữ, ngữ pháp, các giáo trình đổi mới PPDH
TV… để nghiên cứu, phát hiện những luận điểm làm tiền đề lý luận trực
tiếp, gián tiếp cho việc phương pháp chữa các lỗi sai về từ ngữ, ngữ pháp
vốn tồn tại trong quá trình dạy học TV trường phổ thông.
- Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành phương pháp khảo sát để
nắm bắt các lỗi sai về việc dùng từ đặt câu của HS THPT dân tộc Khmer.
Việc khảo sát của chúng tôi dựa trên các bài kiểm tra thi học kỳ I, II của HS
khối 10, 11, 12 ở trường THPT DTNT AG, năm học 2006 – 2007, với tổng số
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét