Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

NGHIÊN CỨU 1 SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH VIÊM RUỘT ỈA CHẢY Ở CHÓ

nhà, săn thú và làm thực phẩm. Chó phối giống đợc ở độ tuổi 15 - 18 tháng.
Chó cái sinh sản đợc ở độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung
bình 5 con.
- Giống chó H'Mông: sống ở miền núi cao, đợc dùng giữ nhà và săn thú,
có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55 - 60cm, nặng 18 - 20kg. Chó đực
phối giống đợc ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng.
Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con.
- Giống chó Lào: thờng thấy ở trung du và miền núi, lông xồm màu hung
có 2 vệt trắng trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn. Cao 60 - 65cm, nặng 18 - 25kg.
Chó đực có thể phối giống ở độ tuổi 16 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi
13 - 15 tháng. Mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con.
- Giống chó Phú Quốc: Màu nâu xám, bụng thon, trên lng long mọc có
hình xoắn, hay lật theo kiểu rẽ "ngôi", lông vàng xám có các đờng kẻ chạy dọc
theo thân, tầm vóc tơng tự chó Lào. Chó cao 60 - 65cm; nặng 20 - 25kg. Chó
đực phối giống đợc ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15
tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 6 con, trung bình 5 con.
Chó Phú Quốc đợc xếp vào loại chó quý ở Việt Nam, nó rất trung thành
và nó có thể bắt cá nuôi chủ khi chủ ốm.
2.1.3.2. Một số giống chó nhập ngoại
- Giống chó Berger Đức
Berger Đức (German sheperd) còn có các tên gọi khác" Alratian,
Deutsthe, Shaperhund; có nguồn gốc từ Đức, đợc nhập vào nớc ta từ những năm
1960 do Bộ nội vụ (nay là Bộ Công An). Giống chó này dùng làm chó nghiệp
vụ trong lực lợng cảnh sát hình sự và bảo vệ an ninh biên giới trong bộ đội biên
phòng.
Chó có tầm vóc tơng đối lớn so với các giống chó nớc ta, dài 110 -
5
112cm, cao từ 56 - 65cm đối với chó đực và từ 62 - 66cm đối với chó cái; trọng
lợng từ 28 - 37kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực
và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân thuỳ, tai dỏng hớng về
phía trớc, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít. Cổ chắc xiên đến vạch lng; lng
chắc rộng có độ dốc về phía sau; bụng thon thẳng, đuôi dài hình lỡi kiếm. Các
chi có cơ gân chắc khoẻ, chân trớc thẳng đứng, chân sau đứng hơi choãi về phía
sau, khoeo chân sau giống khoeo mèo. ở điều kiện Việt Nam chó Berger Đức
có thể phối giống ở độ tuổi 24 tháng; chó cái có thể sinh sản 18 - 20 tháng.
- Giống chó Dobermann
Chó có nguồn gốc từ Đức đợc phát hiện ra vào năm 1866 và đợc nhập
vào nớc ta nuôi với mục đích để canh gác, tìm kiếm và làm cảnh.
Chó có tầm vóc trung bình cao, cao 65 - 69cm, dài 110 - 112cm; nặng 30 -
33kg. Chó có bộ lông ngắn đen sẫm gần nh toàn thân; mõm, ngực, 4 chân có
màu vàng sẫm. Có đầu hình nêm, hơi thô, mũi rộng mắt đen, hàm răng chắc, cắn
khít; cổ to khoẻ; ngực nở, bụng thon; cơ chi chắc khoẻ, đuôi ngắn.
Chó thuộc loại hình thần kinh ổn định, thông minh, can đảm, lanh lợi;
khéo léo và đặc biệt dễ huấn luyện.
- Giống chó Rottweiler
Rottweiler còn có tên gọi khác là Rottweiler Metzgerhund, có nguồn gốc
từ thành phố nhỏ Rottweiler của nớc Đức. Đợc phát hiện năm 1800 và đợc sử
dụng chủ yếu vào việc chăn giữ gia súc và bảo vệ tài sản; ngày nay nó đợc sử
dụng trong trinh sát trong lực lợng cảnh sát và bộ đội biên phòng.
Chó có tầm vóc lớn, cao: 68cm; nặng 42kg; lông ngắn đen toàn thân,
mõm bụng và bốn chân vàng sẫm; bốn chân vững chắc, đầu to không dài, hai
mắt sáng, khoảng cách 2 mắt không xa.
- Giống Irish Setter
6
Irish Setter còn đợc gọi là giống Red setter có nguồn gốc ở Anh từ xa xa.
Đến thế kỷ 18, Irish Setter đợc nuôi nhiều ở Iceland để truy tìm dấu vết và làm
chó săn. Có bộ lông dài, đỏ sẫm, cũng có thể có màu gụ hoặc màu hạt dẻ. Thân
hình mảnh, đầu dài, chân cao, chạy nhanh, tai rủ xuống hai bên đầu, mắt đen
sáng, khoảng cách 2 mắt trung bình tạo nên chó có dáng vẻ thanh tú.
Irish Setter là chó có lòng trung thành kém, nó rất dễ bỏ đi khi chủ đối xử
không tốt. Nếu không đợc dạy dỗ cẩn thận nó có thể giật xích chạy bởi nó rất
dễ bị kích động. Chó có tầm vóc lớn, cao 69cm; nặng 32kg.
- Giống Dalmatian
Là giống chó thể thao (chạy đua) có nguồn gốc Châu Âu. Đầu to, dài với
cơ săn chắc và thẳng ở trên đỉnh đầu. Mũi đen hoặc nâu phụ thuộc vào màu
lông của nó. Mắt to với biểu hiện thông minh, tai mềm, đuôi to ở gốc và nhọn
dần về dới. Lông ngắn, dầy và mợt, màu lông cơ bản là trắng với vệt đen và bạc,
chó sơ sinh lông hoàn toàn trắng; chó có 4 chân chắc khoẻ, Dalmatian trung
thành, trông hiền lành nhng lại linh hoạt; chúng thích sống gần ngời và thích đ-
ợc vuốt ve, thích chơi với trẻ em. Giống chó này có trí nhớ tốt và hay thù dai.
Chó nuôi để chạy thi, giữ nhà và bảo vệ trẻ em, chó có tầm vóc lớn; cao 56 -
69cm, nặng 32 kg; dài 112 - 115cm.
- Giống Dug
Có nguồn gốc là một giống chó cảnh từ Viễn Đông, đợc nuôi rộng rãi ở
nhiều nớc để làm cảnh vì tầm góc nhỏ, ngộ nghĩnh, lại rất thông minh hiền
lành, yêu mến trẻ em.
Chó có tầm vóc nhỏ, cao từ 30 - 33cm; dài từ 50 - 55cm; nặng từ 5- 8 kg.
Bộ lông mịn màu nâu nhạt hoặc vàng sẫm; khoang mắt, mũi, mõm có màu đen;
đầu to thô; mõm ngắn và thô; mũi chia thuỳ; tai cụp; ngực sâu; thân chắc lẳn;
đuôi ngắn và cuốn.
2.2. Một số đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lí dạ dày - ruột
7
2.2.1. Cấu tạo và chức năng của dạ dày đơn
* Cấu tạo
-Lớp niêm mạc: Các phần khác nhau của dạ dày có thể phân biệt bằng
màu sắc. Dựa vào màu sắc đó ngời ta phân thành 3 phần: thợng vị (cardia), thân
vị (fundus), hạ vị (pylorus). Niêm mạc sáng nhất chỗ thợng vị, thẫm nhất ở thân
vị. Màu sắc không đều là do sự cung cấp máu, có liên quan đến hoạt động của
các tuyến.
- Biểu mô: Biểu mô của niêm mạc là loại đơn trụ, rõ nhất ở thân vị, ở đó
nó tiết ra phần lớn dịch vị. Trên bề mặt của niêm mạc có những tế bào biểu mô
hình trụ cao, nhân nằm phía cực đáy, bào tơng có nhiều chất bám loại nhờn nh
chất tiết của tế bào hình dài. Biểu mô này lõm xuống dới tổ chức đệm làm thành
tuyến.
- Đệm: Lớp đệm của niêm mạc là tổ chức liên kết tha có pha sợi lới (fibre
reticule) chứa tuyến dạ dày. Xung quanh các tuyến nó tạo thành lớp mỏng, có
chứa những tế bào cơ trơn riêng rẽ. ở lợn, lớp này có thấm lọc một số bạch cầu.
- Cơ niêm: Cơ niêm của niêm mạc gồm 2 lớp, vòng trong, dọc ngoài. Nó
có những nhánh đi vào tổ chức liên kết giữa các tuyến.
- Hạ niêm mạc: Là tổ chức liên kết tha, xếp dày đặc, chứa nhiều huyết
quản, lâm ba quản và nhiều đám rối thần kinh. ở lợn, lớp này có nhiều nang kín
lâm ba, nhiều nhất ở manh nang thợng vị. Phần gần thực quản của lợn và phần
phùng manh nang thợng vị của ngựa, niêm mạc giống niêm mạc thực quản.
- áo cơ: Do sự phát sinh không đều của thành dạ dày trong quá trình phát
sinh nên hớng đi và sự sắp xếp lớn của áo cơ có nhiều điểm khác. Một phần
những sợi vòng của lớp trong biến thành những lớp chéo phụ rõ ở vùng thợng
vị. Số sợi còn lại ở lớp trong vẫn là vòng. Lớp này đặc biệt phát triển ở hạ vị, ở
đó nó tạo ra thành một vòng cơ vòng khoẻ giữ thức ăn trong dạ dày.
8
Lớp cơ ngoài dọc, ở đờng cong lớn và đờng cong nhỏ, ở 2 bên cạnh có h-
ớng chéo đi không giữ chiều dọc nữa.
áo ngoài: Là biểu mô đơn vị lát dới nó có nhiều sợi liên kết nhỏ, tổ chức
mỡ, mạch quản và thần kinh.
Tuyến dạ dày: Tuyến dạ dày phân thành tuyến thân vị, hạ vị và thợng vị.
Tuyến thân vị: Còn gọi là tuyến đáy vị, là một tuyến hình nhánh ống đổ
vào xoang kế dạ dày. ở mỗi kẽ có 2 - 3 ống cùng đổ chung vào, mỗi ống tuyến
ngời ta phân ra một phần dới đáy gọi là đáy tuyến, trên là thân tuyến và cổ
tuyến. Thành ống tuyến là biểu mô phủ đơn trụ tơng đối thấp và ngời ta thấy
bốn dạng tế bào: tế bào chính, tế bào quây, tế bào phụ và tế bào ái bạc.
+ Tế bào chính (cellule principale): Hình trụ nằm bao quanh, tạo ra thành
ống tuyến. Nó tiết ra men quan trọng nhất của dịch vị là pepsin. ở động vật đói
thì tế bào này to và đục trong thời gian tiêu hoá thì tế bào nhỏ lại. Đáy của tế bào
có Propepsin sẽ chuyển hoá thành pepsin. Ngoài ra nó còn tiết ra men kinizin và
men lipaza. Tế bào chính nằm chủ yếu ở thân và đáy tuyến. Thân tuyến xếp xen
kẽ với tế bào viền. Tế bào chính còn đợc gọi là tế bào chủ.
ở động vật sau khi chết thì men pepsin tiêu huỷ ngay những tế bào này
và biểu mô phủ dạ dầy, do đó muốn nghiên cứu về dạ dầy phải chú ý gây mê
gia súc khi lấy tiêu bản.
+ Tế bào viền (cellule bordante): Còn gọi là tế bào quây hay tế bào vách,
hình quả lê, số lợng ít, nằm xen giữa các tế bào chính hay trùm ra ngoài chúng.
Bào trơng bắt màu axit và có những ống nhỏ đổ vào trong lòng tuyến.
Trong tế bào viền thấy có những hạt protit kiềm tính nhỏ, hạt này trong
thời gian tiêu hoá tụ thành nhóm trong bào tơng xen kẽ với những sọc sáng. Hạt
này tạo ra chất tiết phong phú clorua, đó chính là nguyên liệu tạo thành axit
clohydric (acide chlohydrique - HCl). Tuỳ gia súc mà nó phân bố khác nhau,
9
nhng nói chung có nhiều ở cổ và thân tuyến, ít khi ở đáy tuyến.
+ Tế bào phụ (cellule accesoire): Gặp nhiều ở cổ tuyến, tiết ra chất nhờn
mucopolysacarit giống nh biểu mô phủ dạ dầy, nhân kéo dài bị đẩy ra phía đáy,
cực đỉnh tế bào chứa yên nghỉ thì máu đi theo nhánh nối thẳng với tĩnh mạch nói
trên. Tất cả các mạch quản đều đợc chằng chặt với nhau bởi sợi lới. Sợi lới ấy tạo
thành dàn cốt của lông nhung. Trên bề mặt lông nhung là các tế bào biểu mô, xen
kẽ là các tế bào hình đài (ở đỉnh lông nhung không có tế bào này). Tế bào biểu
mô hình trụ, đời sống ngắn ngủi (vài giờ, vài ngày).
+ Tế bào ái bạc (tế bào Kunchisky, tế bào Xiacxiô) có ở đáy tuyến, là tế
bào nhỏ, hình tam giác, quả lê, trong bào tơng có những hạt ái bạc, lới nội bào,
bộ máy Golgi và tiểu vật phong phú. Nhân tế bào tròn, những hạt tiết có đờng
kính 0,3à. Có lẽ đây là những tế bào ái bạc lạc chỗ, chức năng cha rõ.
Tuyến hạ vị: Tuyến hạ vị chủ yếu tiết ra chất nhờn và một số ít pepsin không
đáng kể. Nó đổ ra những lỗ châm kim sâu ở dạ dày. Lỗ châm kim xếp tha nhng
phân nhánh nhiều hơn, đồng thời lòng túi tuyến cũng rộng hơn hai loại trên. Thành
của ống tuyến chỉ có một loại tế bào, bào tơng bắt màu axit. Đôi khi kẽ những tế bào
đó còn gặp một số tế bào hẹp hơn, đó là những tế bào tối Ster.
ở đây ống có những tế bào sáng, cổ tuyến có những tế bào hình trứng,
bào tơng ái kiềm, nhân bị đẩy về đáy và tiết ra chất nhờn. Cổ tuyến hạ vị ở ngựa
thì dài, ngợc lại loài ăn thịt thì ngắn.
Tuyến thợng vị: Tuyến thợng vị có phần cổ tuyến dài, thân ống rộng. ở
loài ăn thịt, tuyến này phát triển ít, tập trung lại phần niêm mạc gần thực quản.
ở lợn, tuyến này phân nhiều nhánh bẻ cong, chiếm một phần lớn của vùng thân
vị và toàn bộ manh nang, nh vậy ở lợn tuyến thợng vị khá phát triển còn ở loài
ăn thịt thì kém phát triển.
* Chức năng
10
Chức năng tiêu hoá hoá học ở dạ dầy đơn là không nhiều, chỉ có sự tiêu
hoá do các men từ tế bào chính tiêt ra và các men từ nớc bột miệng xuống. Dạ
dầy có chức năng tiêu hoá cơ học và có quá trình nhũ hoá mỡ nhờ HCl. Dạ dầy
là nơi không có khả năng hấp thu chất dinh dỡng.
2.2.2. Cấu tạo và chức năng của ruột non
* Cấu tạo
Cấu tạo ruột non cũng nh toàn bộ cấu tạo chung của ống tiêu hoá gồm có
3 lớp từ trong ra ngoài.
Niêm mạc: Niêm mạc ruột có nhiều gấp nếp vòng hớng theo nhiều chiều,
những gấp nếp này làm diện tích niêm mạc tăng gấp 2 - 3 lần. Niêm mạc còn có
những phần kéo dài lồi lên nh những cái lông gọi là lông nhung.
Biểu mô: Biểu mô phủ niêm mạc là biểu mô đơn trụ, có riềm hút. Trớc
đây ngời ta cho rằng mỗi tế bào mô ở mặt tự do của nó có một màng dày. Màng
của các tế bào ấy giáp lại với nhau tạo thành một màng có vạch khía, ngời ta
gọi là mâm khía (plateau strie); nhng dới kính hiển vi điện tử cho thấy rằng trên
mặt tự do của mỗi tế bào có tới 3000 vi nhung (microvilosite) làm tăng diện hấp
thụ lên tới 30 lần. Dới kính hiển vi điện tử, vi nhung có đờng kính một phần vạn
milimét và chiều cao một phần nghìn milimét mà trong lõi là những ống dẫn
rất nhỏ. Trên vi nhung có những mấu lồi với đờng kính 60A , các hệ thống sợi
lới đan chéo nhau.
Các dinh dỡng thấm qua vi nhung vào tế bào rồi vào mạch quản lâm ba.
Hoá tổ chức học đã cho biết ở vi nhung có nhiều chất đa đờng đơn
(mucopolisacarit) và liên quan với nó là các men. Các dạng đờng này có vai trò
bảo vệ sự xâm nhập của vi khuẩn vào tế bào.
Trong bào trơng, dới vi nhung thấy có nhiều lớp khác nhau. Sự hình thành
các lớp này có liên quan đến cấu tạo hoá tổ chức không đồng đều của bào tơng.
11
Sự sắp xếp các bào quan phản ánh các quá trình trao đổi chất, nh sau khi hấp thụ
các axit béo qua vi nhung vào tế bào nó biến thành mỡ trung tính.
Biểu mô giữa các lông nhung lợn xuống dới tạo thành những lỗ châm
kim (cryple). Lỗ này thẳng hay hình ống. Đó là chỗ đổ của tuyến ruột (thờng
gọi là tuyến Lieberkihn). Hình thái của tuyến này không đồng đều ở các động
vật khác nhau. Màng cứng (euticule) của tế bào biểu mô tuyến thì yếu hơn ở
màng cứng (cuticule) mặt niêm mạc. ở đây tuyến không có màng cứng. Xen kẽ
giữa các tế bào đơn trụ có những tế bào hình dài. Đây là những tế bào phần giữa
phình to, hai đầu thon lại, cực đỉnh thông với lông tuyến và chứa nhiều không
bào nhầy, cực đáy chứa nhân hình tam giác; bào tơng chứa ít tiểu vật dài và một
bộ Golgi điển hình ở phía trên nhân. ở đáy, tuyến có những tế bào Paneth to
hơn các tế bào khác và có tính chất tiết dịch. Lợn và mèo không thấy tế bào
này.
Tế nào Paneth thờng hợp thành từng đám nhỏ ở vùng đáy tuyến, tế bào
hình tháp, a bazơ. Bào tơng ở phần ngọn tháp chứa những hạt có phản ứng
P.A.S. dơng tính, còn ở vùng dới thân chứa nhiều túi thuộc lới nội bào và những
tiểu vật. Những hạt tiết ấy mang những enzim tiêu hoá protein.
Các tế bào đơn trụ của tuyến có khả năng phân bào gián tiếp và tác dụng
nh lớp tế bào sinh trởng của toàn bộ biểu mô niêm mạc. Nó phát triển lan dần
lên đỉnh lông nhung để thay thế các tế bào già rụng đi.
Niêm mạc tá tràng khác niêm mạc các đoạn khác của ruột ở chỗ ngoài
tuyến ruột ra còn tuyến tá tràng (thờng gọi là tuyến Brunner). Nó nằm ở hạ
niêm mạc và có khi chiếm toàn bộ lớp ấy khiến cho thành ruột dày hẳn lên, mà
trong các lò sát sinh hay gọi là ruột đặc. Hình thái tuyến ta thấy thuộc loại
tuyến ống túi có phân nhánh. ở trâu bò thì hình ống hoàn toàn, ống dẫn của
tuyến xuyên qua cơ niêm đổ vào tuyến ruột hay gốc các lông nhung.
12
Tế bào của tuyến này và tuyến hạ vị gần giống nhau, giữa các tế bào
tuyến này còn thấy các tế bào tối Ster nằm xen vào.
Đệm: Đệm là tổ chức liên kết tha, có nhiều lới sợi trong có nhiều đại thực
bào, tơng bào và lâm ba cầu. Ngoài ra còn nhiều hạt lâm ba (hạt lympho) dới
dạng nang kín gọi là nang kín lâm ba, cũng có thể tập trung thành mảng Paye
(plaque de Payer). Nang kín lâm ba ở trâu bò thì to, ngựa, lợn, mèo thì nhỏ. ở
dê, cừu có cả 2 loại to và nhỏ.
Cơ niêm: Gồm những cơ trơn tạo thành những vòng trong, dọc ngoài,
ở ngựa, mèo chỉ có lớp vòng trong. ở lợn có 2 lớp nối với nhau bằng những sợi
chéo.
Hạ niêm mạc: Tạo bởi tổ chức liên kết có nhiều mạch quản và thần kinh.
ở tá tràng giữa các tuyến cũng gặp các sợi cơ trơn. Nang kín lâm ba ở lớp hạ
niêm mạc có khi phủ cả lớp cơ niêm lên lớp đệm giáp sát biểu mô. Nói chung,
lớp này có rất nhiều nang kín lâm ba, tế bào mỡ, huyết quản, mạch quản lâm ba
và thần kinh. ở đây một đám rối thần kinh điển hình gọi là đám rồi thần kinh
Meissen (plexus de Meissner), tuỳ theo có chứa tuyến hay không mà lớp này
dày lên hoặc mỏng đi. Khu vực tuyến tá tràng của các loài cũng khác nhau: ở
lợn 3 - 5 mét, ở bò 4 - 5 mét, ở ngựa 5 - 6 mét, ở gà không có tuyến tá tràng.
Ngoài niêm mạc còn tiết ra kích tố Entero - crinin thúc đẩy sự phân tiết dịch
ruột.
Lông nhung: Lông nhung là những phần lồi hình trụ của niêm mạc. Tổ
chức liên kết có nhiều sợi cơ trơn từ cơ niêm phát đến, dới biểu mô có một lới
mao quản và ở chính giữa là mao quản lâm ba gọi là ống dỡng chấp (chyliferé).
ở đỉnh lông nhung có những nhánh động mạch ngắn kéo dài nối thẳng với tĩnh
mạch. Tĩnh mạch này sau tiếp các mao quản từ lông nhung khác đến. Trong
thời gian hấp thụ thì máu chảy qua mao quản về tĩnh mạch.
13
Mỡ sau khi bị các men tiêu hoá phân thành axit béo và glyxêrin thì bị
biểu mô nhung mao hấp thụ đa vào các ống dỡng chấp. Protit phân giải thành
các axit amin, đờng phân giải thành glucoz thì theo mao quản về tĩnh mạch
màng treo ruột rồi qua tĩnh mạch cửa mà về gan.
áo cơ: Gồm 2 lớp, vòng trong và dọc ngoài. Lớp vòng trong dầy, dọc
ngoài mỏng, giữa chúng có tổ chức liên kết, rất nhiều mạch quản và thần kinh.
ở loài ăn thịt, khu vực sát hạ niêm mạc có một lớp cơ chéo rất mỏng.
áo dài: áo dài là phúc mạc bao bọc. Theo dẫn liệu của Radostina thì ở
lợn trong màng treo ruột, cách ruột 10 - 15cm có một cái gờ mạch quản tạo bởi
những động mạch, tĩnh mạch và nhánh tiếp hợp động tĩnh mạch. Trong gờ đó
có những nắp bằng tế bào cơ biểu mô (tế bào lẵng hoa), do đó mạch quản ở đây
có thể đóng kín lại đợc giúp cho việc điều hoà lợng máu. Khi nắp mở thì máu đi
về các mạch quản của gờ và hớng về những phần của ruột có hoạt động tiêu hoá
cao. Khi nắp đóng thì máu đi về tim. Gờ này có nhiều thần kinh dới dạng hạch
bọc và dới dạng đầu tự do.
Những hạch dới niêm mạc và những đám rối giữa cơ có lới mao quản bao
quanh, lới này cung cấp máu cho tế bào thần kinh ngay cả khi cơ ruột co rút
làm hết máu.
* Chức năng hấp thu.
Sự hấp thu đợc thực hiện là do hoạt động của các tế bào biểu mô niêm
mạc ruột - sự hoạt động của lông nhung xúc tiến quá trình hấp thu, lông nhung
co bóp hoặc dãn nở làm thay đổi áp lực trong máu và bạch huyết, tạo điều kiện
cho các chất hoà tan trong dỡng chất và hấp thụ dễ dàng.
Sự hoạt động của lông nhung là do kích thích của các chất sinh ra trong
quá trình tiêu hoá ở ruột, những chất đó là sản phẩm của quá trình tiêu hoá
Protit thành peptit, axit amin, tiêu hoá mỡ thành axit béo, tiêu hoá đờng thành
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét