Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay

huy nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH - HĐH" của Lê Thị Thuỷ, Tạp
chí Giáo dục lý luận số 3, 2000; "Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong
đời sống xã hội" của Mai Xuân Lợi, Tạp chí Triết học số 3- 2001; "Kết hợp chặt
chẽ giáo dục lý luận với xây dựng đạo đức mới của người cán bộ lãnh đạo quản
lý", của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Lý luận chính trị số 4- 2001; "Lý tưởng
đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện
nay" của Đoàn Văn Khiêm, Tạp chí Triết học số 2 - 2001; "Một số biểu hiện của
sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và
giải pháp khắc phục" của Nguyễn Đình Tường, Tạp chí Triết học số 6 - 2002;
"Để có nguồn lực đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới, phải giáo dục, bồi
dưỡng thế hệ trẻ phát triển toàn diện" của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Tạp chí
Thanh niên số 15, 2002; "Đổi mới hình thức tuyên truyền giáo dục thanh niên"
của Lương Ngọc Vĩnh, Tạp chí Thanh niên số 9, 2004; "Kết hợp giáo dục lý
luận với giáo dục lý tưởng đạo đức cho sinh viên hiện nay" của Nguyễn Ngọc
Thu, Tạp chí Cộng sản số 92, 2005; "Xây dựng lối sống văn hoá cho thanh niên
hiện nay" của Nguyễn Thị Mỹ Trang, Tạp chí Cộng Sản số 6, 2006 và rất nhiều
bài viết về con người, thanh niên, về nhân cách, đạo đức, giáo dục đạo đức đối
với thế hệ trẻ.
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả này là nguồn tư liệu quý giá để
chúng tôi tham khảo và kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của
mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cho
thanh niên ở Thanh Hoá, nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ
bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho thanh
niên ở Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
5
- Làm rõ tầm quan trọng, nội dung giáo dục đạo đức cho thanh niên ở
Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
- Tìm hiểu, phân tích thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho thanh
niên ở Thanh Hoá hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Nêu lên những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho thanh
niên ở Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình đạo đức thanh niên và giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Thanh
Hoá trong giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đạo đức và giáo dục đạo đức là vấn đề phức tạp và tinh tế, đòi hỏi phải
được nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều nhân tố và nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong khuôn khổ luận văn cao học chúng tôi chỉ đề cập đến một số nhân tố, điều
kiện chủ yếu tác động đến giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Thanh Hoá trong
giai đoạn hiện nay. Các số liệu, tài liệu khảo sát chủ yếu đề cập từ năm 2000 trở
lại đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh niên,
nguồn nhân lực, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thanh niên, đồng thời
kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác có liên
quan.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân
tích và tổng hợp. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: so
6
sánh, thống kê và điều tra xã hội học để thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề
tài đặt ra.
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Góp phần làm rõ thực trạng đạo đức thanh niên Thanh Hoá từ đó đưa ra
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lựơng đạo đức thanh niên trong
điều kiện hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu và giảng dạy môn đạo đức học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục thành 2 chương, 5 tiết.
7
Chương 1. TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU, NỘI DUNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN Ở THANH HOÁ TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN
Ở THANH HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1. Đạo đức là một chuẩn mực, là cơ sở của sự hình thành và phát triển
nhân cách thanh niên
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những giá trị tinh thần
mà xã hội loài người đã sáng tạo ra. Đó là một hệ thống chuẩn mực, quan niệm,
giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh
hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người
khác, giữa cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền
thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội.
Bản chất của đạo đức là quan hệ lợi ích, biểu hiện ở sự quan tâm, tự
nguyện, tự giác của mỗi người đối với lợi ích của người khác và lợi ích của xã
hội, từ đó hình thành những phẩm chất, những đức tính của cá nhân thông qua
việc thực hiện các hành vi phù hợp với chuẩn mực, nguyên tắc, giá trị và yêu
cầu của xã hội.
Đạo đức hình thành và phát triển trong quá trình con người hoạt động, lao
động sản xuất, từ những quan hệ con người với con người trong quá trình hoạt
động. Sự hình thành những phẩm chất đạo đức của con người gắn với tình cảm
gia đình, với ý thức cộng đồng, giai cấp, dân tộc và nhân loại. Trong tác phẩm
Chống Đuy Rinh, Ph.Ăngghen đã viết: "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về
đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội
lúc bấy giờ" [38, tr.137].
Những phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, trung thành, dũng cảm
được khẳng định như những giá trị, phẩm chất, nhân cách con người nói chung
và thanh niên nói riêng. Với tư cách là phương thức điều chỉnh hành vi con
người và quan hệ giữa cá nhân với xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức,
8
chức năng giáo dục, và chức năng điều chỉnh hành vi. Mỗi chức năng có vai trò,
vị trí nhất định đồng thời có mối liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau. Trong
đó, chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh hành vi có vai trò quan trọng.
Nhờ các chức năng này mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình, bảo
đảm hài hoà quan hệ lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng, tạo nên sự đồng thuận
giữa phát triển cá nhân và phát triển xã hội.
Trong cấu trúc nhân cách, đạo đức một bộ phận đặc biệt, là nét đặc trưng,
là thuộc tính căn bản. Theo tác giả Bandzelaze: "Đạo đức là nội dung cốt yếu
của tính cách con người". Sự khác nhau giữa nhân cách này hay nhân cách khác
là khác nhau về đạo đức. Trong điều kiện hiện nay để thực hiện mục tiêu xây
dựng CNXH đòi hỏi phải có con người với tư cách là nguồn nhân lực, động lực
của sự nghiệp CNH - HĐH là con người phát triển toàn diện: Có tri thức khoa
học, được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sáng tạo trong tiếp thu
và ứng dụng những thành tựu KHCN hiện đại cùng những phẩm chất đạo đức
cần thiết.
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là
động cơ, là xúc cảm đạo đức thôi thúc các thế hệ, các cá nhân nỗ lực hoạt động
trên mọi lĩnh vực đề làm giàu cho bản thân và cho xã hội. Lợi ích cá nhân chính
đáng được thực hiện trong sự thống nhất biện chứng với lợi ích xã hội. Sự quan
tâm đến lợi ích xã hội, tới sự giàu có cho quê hương, đất nước là tiêu chí đánh
giá mọi hoạt động của cá nhân. Chính vì vậy, những giá trị đạo đức như yêu
nước, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng, tình yêu lao động, tính trung thực, tận tụy,
ý chí tự lực, tự cường vẫn giữ vai trò chi phối mọi hoạt động của con người, đặc
biệt là đối với thanh niên. Yêu cầu của một nhân cách phát triển toàn diện là
những con người "có lý tưởng cao đẹp, ý thức, trách nhiệm công dân, có tri thức,
có sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và có tình nghĩa, giàu lòng yêu
nước và tinh thần quốc tế chân chính" [7, tr.83].
Trong sự nghiệp đổi mới, sự phát triển nền kinh tế thị trường cùng với
quá trình giao lưu hội nhập quốc tế là những tác nhân mạnh mẽ hình thành
những giá trị mới, quan niệm và chuẩn mực mới trong sự phát triển của thanh
9
niên. Thay cho mẫu người hiền lành, nhẫn nại nhưng "lệ thuộc", "thụ động"
đang hình thành những nhân cách mới năng động, chủ động, tích cực và sáng
tạo trong lập thân, lập nghiệp. Đó là những thanh niên mạnh dạn, tự tin, dám
nghĩ, dám làm, dám chấp nhận rủi ro và dám chịu trách nhiệm. Họ đang nỗ lực
trong mọi hoạt động lao động, học tập, nghiên cứu khoa học để làm giàu một
cách chính đáng cho bản thân, gia đình và xã hội. Sự cống hiến tài năng, trí tuệ
và sức lực cho xã hội thông qua hoạt động trên lĩnh vực chuyên môn của mình
để khẳng định sự trưởng thành về những phẩm chất xã hội, đặc biệt là phẩm chất
đạo đức. Đồng thời, đó cũng là biểu hiện của sự phát triển tính cách, nhân cách
của thanh niên. Thực tế cho thấy, sự năng động, linh hoạt và sáng tạo của mỗi cá
nhân nếu không dựa trên nền tảng những giá trị phẩm chất đạo đức sẽ không đưa
đến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách. Thiếu sự rèn luyện theo các chuẩn
mực đạo đức sẽ dẫn đến sự lệch lạc, biến dạng về nhân cách như là một sự "tha
hoá" mà biểu hiện đó là chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống thực dụng, bất
chấp luân thường đạo lý, sẵn sàng chà đạp lên tất cả chỉ vì đồng tiền, địa vị và
quyền lực cho riêng mình. Nó là nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng tiêu
cực và tệ nạn xã hội như tham nhũng, quan liêu, buôn lậu, trốn thuế, cờ bạc,
trộm cắp, ma tuý, mại dâm Vì vậy, đạo đức là một thành tố quan trọng, là
nguồn lực nội sinh bảo đảm cho sự phát triển bền vững.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 Khoá VIII Đảng ta nhấn
mạnh:
Chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần xã hội. Theo nền
tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát
triển kinh tế xã hội bền vững [9, tr.55].
Nhân cách thanh niên được hình thành và phát triển trong lao động, học
tập và rèn luyện. Thông qua các hình thức hoạt động mà thanh niên nhận thức
được mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Động cơ thúc đẩy cá
nhân hoạt động là lợi ích của chính họ. Nhưng, những lợi ích cá nhân được thực
hiện một cách chân chính mới là động lực phát triển nhân cách của họ. Ngược
10
lại, lợi ích cá nhân thực hiện bằng cách trà đạp làm tổn hại đến lợi ích của người
khác sẽ làm thanh niên tha hoá nhân cách của họ.
Những tác động mạnh mẽ của những điều kiện kinh tế - xã hội trong giai
đoạn hiện nay, đặc biệt là tác động của cơ chế thị trường đã cho thấy: Nếu chưa
thực sự trưởng thành về phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật, trình độ giác ngộ
về nghĩa vụ và trách nhiệm thì mỗi người nói chung và thanh niên nói riêng
chưa thể trở thành một nhân cách phát triển và hoàn thiện.
Kinh tế thị trường càng phát triển, sự nghiệp CNH - HĐH càng được đẩy
mạnh, quá trình hội nhập quốc tế càng được mở rộng và nền kinh tế tri thức hình
thành, con người càng trở nên thông minh, năng động hơn, học vấn cao hơn
thì việc giáo dục đạo đức, rèn luyện những phẩm chất đạo đức là điều kiện, là cơ
sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn
mạnh vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức trong việc giáo dục và đào tạo
con người. Người coi: "Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng", "Đạo
đức là sức mạnh, có đạo đức thì mới có sức mạnh, nhờ đó người cách mạng mới
đi được xa". Tuy công việc của mỗi người khác nhau nhưng ai giữ được phẩm
chất đạo đức là người cao thượng.
Đạo đức là một giá trị bền vững, là chuẩn mực cơ bản và là thành phần
nền tảng của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách. Vai trò của đạo đức với sự
phát triển nhân cách con người đã khách quan hoá tầm quan trọng của giáo dục
đạo đức đối với sự phát triển nhân cách của thanh niên.
"Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát
triển thể chất và tinh thần của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần
dần có được những phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đặt ra" [62, tr.203].
Theo đó, giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến đối tượng của giáo dục
nhằm hình thành ở họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng, hành vi đạo đức, đó
là những phẩm chất đạo đức cần thiết theo yêu cầu của xã hội, trong từng giai
đoạn phát triển nhất định.
Giáo dục đạo đức là con đường, là cách thức cơ bản và chủ yếu để hình
thành những phẩm chất đạo đức cho thanh niên. Giáo dục đạo đức góp phần
11
chuyển những quan niệm đạo đức, những chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức từ
yêu cầu xã hội thành sự thôi thúc nội tâm của mỗi thanh niên, giúp cho họ nhận
thức một cách đầy đủ, đúng đắn và chủ động nội dung, yêu cầu, quy tắc đạo đức,
qua đó góp phần điều chỉnh hành vi của thanh niên cho phù hợp yêu cầu của xã
hội.
Cùng với việc nâng cao trình độ nhận thức các chuẩn mực, giá trị đạo
đức, giáo dục đạo đức là một phương thức để xây dựng những quan điểm, phẩm
chất đạo đức mới, quan niệm và lẽ sống tích cực cho thanh niên. Đồng thời,
thông qua giáo dục đạo đức giúp cho họ nhận diện phê phán và đấu tranh loại bỏ
những biểu hiện vi phạm đạo đức, những quan niệm đạo đức sai lầm, lạc hậu,
lệch chuẩn hay không còn phù hợp với điều kiện mới.
Giáo dục đạo đức là truyền lại cho thế hệ đang lớn lên những giá trị đạo
đức truyền thống. Trên cơ sở đó họ sẽ nhận thức được những giá trị đích thực
của cuộc sống hiện tại, đó là tính nhân bản, nhân ái và nhân văn sâu sắc. Giáo
dục đạo đức góp phần to lớn nhân đạo hoá môi trường sống của thanh niên, củng
cố những phẩm chất, những giá trị bền vững. Chẳng hạn, thông qua giáo dục
chủ nghĩa yêu nước mà hình thành nên niềm tự hào dân tộc, yêu hoà bình, độc
lập, tự do, sẵn sàng đấu tranh, hy sinh bảo vệ Tổ quốc và tôn trọng chủ quyền
của dân tộc khác.
Thông qua giáo dục đạo đức, hình thành những xúc cảm, tình cảm đạo
đức như tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người, tôn trọng lao
động. Chính tình cảm đạo đức là động lực thúc đẩy thanh niên thực hiện những
hành vi đạo đức, là động lực làm tăng thêm sự phong phú, sâu sắc và tinh tế của
thế giới nội tâm, thúc đẩy con người vươn lên trong cuộc sống. Có được tình
cảm đạo đức là nguồn sức mạnh tinh thần giúp thanh niên phấn đấu cho những
giá trị Chân, Thiện, Mỹ.
Giáo dục đạo đức không chỉ hình thành những phẩm chất đạo đức mà gắn
liền với việc hình thành và phát triển tài năng. Tài và đức, phẩm chất và năng
lực là hai mặt không thể tách rời. Tài năng được khẳng định và phát triển trên cơ
sở đạo đức. Không có những phẩm chất, những giá trị đạo đức làm cơ sở làm
12
nền tảng thì tài năng khó đem lại những giá trị chân chính, thậm chí có khi dẫn
đến những hành vi lệch lạc, phản đạo đức, gây tai hoạ cho người khác. Tài năng
được bộc lộ, được phát triển khi nó thực hiện có mục đích tích cực, chủ động,
sáng tạo, tạo ra những giá trị xã hội, với năng xuất, chất lượng và hiệu quả cao,
đó là biểu hiện về mặt đạo đức. Đồng thời, người có đạo đức không chỉ thể hiện
ở thái độ, động cơ mà khẳng định ở kết quả, hành động, thống nhất giữa động cơ
và hiệu quả. Như vậy, đạo đức được thể hiện ở tài năng và tài năng phải dựa trên
cơ sở đạo đức.
Sự thống nhất giữa tài năng và đạo đức đã khẳng định tầm quan trọng của
giáo dục đạo đức, bao hàm cả sự phát triển về tài năng, thống nhất giữa phẩm
chất và năng lực là yêu cầu và biểu hiện của nhân cách phát triển toàn diện của
thanh niên hiện nay.
Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho thanh niên Thanh Hoá hiện nay
được quy định bởi vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách thanh niên . Đồng thời, việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Thanh Hoá
cần được quan tâm, chú trọng còn bởi đặc điểm và vai trò của thanh niên Thanh
Hoá đối với sự phát triển kinh thế - xã hội.
1.1.2. Đặc điểm và vai trò của thanh niên ở Thanh Hoá trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Đặc điểm của thanh niên Thanh Hoá
Thanh niên là lực lượng quan trọng luôn mang trong mình những tính đa
dạng của thế hệ đang lớn. Vì thế, trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại, vấn đề thanh niên đã được tất cả các quốc gia và nhân loại coi là vấn đề có
tầm quan trọng đặc biệt. Khi nói đến thanh niên có rất nhiều khái niệm khác
nhau tuỳ thuộc vào từng cách tiếp cận của vấn đề này, nó phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế chính trị, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân mà mỗi
quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Hầu hết, các nước trên thế
giới đều có sự thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 14 hoặc 15 tuổi và kết thúc
13
ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là
30 và cũng có nước quy định là 40 tuổi.
Ở Việt Nam đã có giai đoạn tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất
với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi). Ngày nay, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài hơn nên tuổi
thanh niên được xác định là 15 đến 30 tuổi. Tương lai độ tuổi của thanh niên
Việt Nam có thể sẽ tăng vì theo khoản 2 điều 1 của dự thảo luật thanh niên, độ
tuổi của thanh niên từ 16 đến 35. Tuy nhiên, vấn đề này còn nhiều ý kiến khác
nhau. Tuỳ thuộc vào nội dung và góc độ nghiên cứu mà có nhiều cách quan
niêm khác nhau về thanh niên. Trong thực tế Việt Nam có rất nhiều cách định
nghĩa khác nhau về thanh niên.
Hồ Chí Minh, khi nói đến thanh niên Người đã đưa ra một khái niệm đầy
hình ảnh: "Một năm bắt đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ
là mùa xuân của xã hội" [42, tr.69]. Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên là lứa tuổi
sống động nhất, mạnh mẽ và đẹp đẽ nhất của cuộc đời.
Trong cuốn: "Tìm hiểu một số thuật ngữ về công tác thanh niên" - "Thanh
niên là một tầng lớp người - xã hội đặc thù, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 14,
15 đến trên dưới 30 tuổi" [49, tr.179]. Trong đề tài nghiên cứu "Tình hình tư
tưởng thanh niên và công tác giáo dục của đoàn thanh niên giai đoạn hiện nay",
quan niệm "Thanh niên là nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù có độ tuổi nhất định
được phân bố rộng khắp trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, trong các ngành
kinh tế xã hội của đất nước" [45, tr.37].
Từ những quan niệm khác nhau về thanh niên, chúng tôi cho rằng cần có
cách tiếp cận liên ngành khoa học. Thanh niên là đối tượng nghiên cứu đặc thù,
là lực lượng xã hội đặc biệt. Khái quát hệ thống những quan niệm và tiếp cận về
thanh niên ta thấy ở họ có những đặc điểm phát triển đạo đức riêng, gắn liền với
đặc trưng, tâm lý lứa tuổi, các phẩm chất tốt và xấu, tích cực và hạn chế đan
xen nhau cùng tồn tại, song hành với nhau.
Thứ nhất, thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ
14, 15 đến trên dưới 30 tuổi. Thanh niên dù xét bất cứ dưới góc độ nào, phương
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét