buộc sản xuất ngày càng phải được mở rộng mà lợi nhuận là mục đích cuối cùng của
sản xuất kinh doanh.Để sản xuất có lợi nhuận, nhất thiết phải giảm chi phí ngun vật
liệu. Nghĩa là phải sử dụng ngun vật liệu một cách tiết kiệm hợp lý, có kế hoạch. Vì
vậy cơng tác quản lý vật liệu là nhiệm vụ của mọi người, là u cầu của phương thức
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nhằm với sự hao phí vật tư ít nhất nhưng mang
lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.3.2. Sự cần thiết phải tăng cường cơng tác quản lý vật liệu
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị, bên cạnh việc đẩy
mạnh phát triển sản xuất doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp sử dụng ngun vật liệu
hợp lý, tiết kiệm. Muốn vậy cần quản lý tốt vật liệu. u cầu của cơng tác quản lý vật
liệu là phải quản lý chặt chẽ ở mọi khâu, từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ và sử
dụng. Cùng với sự phát triển của xã hội lồi người, các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển khơng ngừng về quy mơ, chất
lượng trên cơ sở thoả mãn vật chất, văn hố của cộng đồng xã hội. Theo đó, phương
pháp quản lý, cơ chế quản lý và cách thức hạch tốn vật liệu cũng hồn thiện hơn.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật
liệu có hiệu quả càng được coi trọng, làm sao để cùng một khối lượng vật liệu có thể
sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất, giá thành hạ mà vẫn đảm bảo chất lượng. Do vậy,
việc quản lý ngun vật liệu phụ thuộc vào khả năng và sự nhiệt thành của các cán bộ
quản lý. Quản lý vật liệu được xem xét trên các khía cạnh sau:
- Khâu thu mua: Ngun vật liệu là tài sản lưu động của doanh nghiệp, nó
thường xun biến động trên thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải có kế
hoạch sao cho có thể liên tục cung ứng đầy đủ nhằm đáp ứng kịp thời cho sản xuất.
Cho nên khi quản lý khối lượng, quy cách, chủng loại ngun vật liệu phải theo đúng
u cầu, giá mua phải hợp lý để hạ thấp được giá thành sản phẩm.
- Khâu bảo quản: Việc bảo quản vật liệu tại kho, bãi cần thực hiện theo đúng
chế độ quy định cho từng loại vật liệu, phù hợp với tính chất lý hố của mỗi loại, với
quy mơ tổ chức của doanh nghiệp, tránh tình trạng thất thốt, lãng phí vật liệu, đảm
bảo an tồn là một trong các u cầu quản lý đối với vật liệu.
- Khâu dự trữ: Đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối
thiểu để đảm bảo cho q trình sản xuất kinh doanh được bình thường, khơng dự trữ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
vật liệu q nhiều gây ứ đọng vốn và cũng khơng q ít làm ngưng trệ, gián đoạn cho
q trình sản xuất.
- Khâu sử dụng: u cầu phải tiết kiệm hợp lý trên cơ sở xác định các định mức
tiêu hao ngun vật liệu và dự tốn chi phí, qn triệt theo ngun tắc sử dụng đúng
định mức quy định, đúng quy trình sản xuất, đảm bảo tiết kiệm chi phí về ngun vật
liệu trong tổng giá thành.
Như vậy, quản lý ngun vật liệu là một trong những nội dung quan trọng và
cần thiết của cơng tác quản lý nói chung và quản lý sản xuất, quản lý giá thành nói
riêng. Muốn quản lý vật liệu được chặt chẽ, doanh nghiệp cần cải tiến và tăng cường
cơng tác quản lý cho phù hợp với thực tế.
1.1.4. Phân loại ngun vật liệu
Trong q trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có nhiều
loại ngun vật liệu, mỗi loại vật liệu có cơng dụng kinh tế và tính năng lý hố khác
nhau. Để thuận tiện cho cơng tác quản lý và hạch tốn đòi hỏi phải phân loại ngun
vật liệu. Phân loại ngun vật liệu là việc nghiên cứu, sắp xếp chúng theo từng tiêu
thức nhất định nhằm phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế và u cầu kế tốn quản trị trong doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh, vật liệu được chia thành các loại sau:
+ Ngun vật liệu chính (Bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngồi):Đối với các
doanh nghiệp sản xuất, ngun vật liệu chính là đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực
thể sản phẩm như: tơn, đồng, sắt, thép trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây
dựng cơ bản; bơng, sợi trong các doanh nghiệp dệt vải, trong các xí nghiệp may Đối
với nửa thành phẩm mua ngồi với mục đích tiếp tục q trình sản xuất sản phẩm , ví
dụ như: sợi mua ngồi trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là ngun vật liệu
chính.
+ Ngun vật liệu phụ: Là các loại vật liệu được sử dụng để làm tăng chất lượng
sản phẩm, hồn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho cơng việc quản lý sản xuất, bao gói
sản phẩm
+ Nhiên liệu: là các chất dùng để tạo ra năng lượng cung cấp nhiệt lượng cho
q trình sản xuất kinh doanh như hơi đốt, dầu, khí nén, xăng, Nhiên liệu thực chất
là một loại vật liệu phụ được tách ra thành một nhóm riêng do vai trò quan trọng của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nó và để nhằm mục đích dễ quản lý và hạch tốn hơn. Dựa vào tác dụng của nhiên liệu
trong q trình sản xuất có thể chia nhiên liệu thành những nhóm sau:
. Nhiên liệu dùng trực tiếp cho sản xuất.
. Nhiên liệu sử dụng cho máy móc thiết bị.
+ Phụ tùng thay thế: Bao gồm các loại phụ tùng, chi tiết để thay thế sửa chữa
máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải
+ Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các loại thiết bị, phương tiện sử dụng cho
cơng việc xây dựng cơ bản (cả thiết bị cần lắp, khơng cần lắp, cơng cụ, khí cụ và vật
kết cấu dùng để lắp đặt vào các cơng trình xây dựng cơ bản).
+ Vật liệu khác: là những vật liệu trong doanh nghiệp ngồi những vật liệu kể
trên như: vải vụn, phơi cắt,
Tuỳ thuộc vào u cầu quản lý và hạch tốn chi tiết, cụ thể của từng loại hình
doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng
thứ, quy cách Việc phân loại cần thành lập sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu trong
đó mỗi nhóm vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng thay tên gọi, nhãn hiệu, quy
cách.
- Căn cứ vào nguồn nhập, ngun vật liệu được chia thành:
+ Ngun vật liệu mua ngồi:thu mua từ thị trường trong nước, hoặc nhập
khẩu.
+ Ngun vật liệu tự gia cơng chế biến.
+ Ngun vật liệu nhận góp vốn liên doanh
- Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng ngun vật liệu thì tồn bộ ngun vật
liệu của doanh nghiệp được chia thành :
+ Ngun vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất.
+ Ngun vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, quản lý
doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm
1.1.5. Đánh giá ngun vật liệu
Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng theo
những ngun tắc nhất định. Theo quy định hiện hành kế tốn nhập, xuất, tồn kho vật
liệu trong doanh nghiệp phải được phản ánh theo giá thực tế (bao gồm giá mua cộng
với chi phí thu mua, vận chuyển). Song do đặc điểm của vật liệu có nhiều chủng loại,
nhiều thứ mà lại thường xun biến động trong q trình sản xuất, để đơn giản và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
giảm bớt khối lượng tính tốn, ghi chép hàng ngày thì kế tốn vật liệu trong một số
doanh nghiệp có thể sử dụng giá hạch tốn để hạch tốn vật liệu.
1.1.5.1. Đánh giá vật liệu theo giá thực tế
a) Giá thực tế nhập kho:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác
nhau nên giá thực tế của chúng cũng khác nhau. Về ngun tắc, giá vật liệu nhập kho
được xác định theo giá thực tế bao gồm tồn bộ chi phí hình thành vật liệu đó cho đến
lúc nhập kho. Tuỳ theo từng nguồn nhập mà giá thực tế của vật liệu được xác định cụ
thể như sau :
- Đối với ngun vật liệu mua ngồi:
Giá thực tế Giá mua Thuế nhập Chi phí Các khoản
ngun vật = ghi trên + khẩu + thu - giảm trừ
liệu nhập kho hố đơn (nếu có) mua (nếu có)
Trong đó giá mua ghi trên hố đơn của người bán là giá chưa tính thuế giá trị
gia tăng nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ. Nếu doanh nghiệp
tính
thuế theo phương pháp trực tiếp thì giá mua là giá đã tính thuế giá trị gia tăng.
- Đối với ngun vật liệu do doanh nghiệp tự gia cơng chế biến:
- Đối với ngun vật liệu th ngồi gia cơng chế biến :
- Đối với ngun vật liệu nhận vốn góp liên doanh hoặc cổ phần:
Giá thực tế ngun
vật liệu nhập kho
=
Giá thực tế ngun vật liệu
xuất gia cơng chế biến
+
Chi phí
có liên quan
Giá thực tế ngun
vật liệu nhập kho
=
Giá thực tế ngun vật
liệu xuất chế biến
+
Chi phí
có liên quan
Giá thực tế ngun
vật liệu nhập kho
=
Giá do các bên
tham gia xác định
+
Chi phí tiếp nhận
(nếu có)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Đối với ngun vật liệu do nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp hoặc được tặng:
- Đối với phế liệu thu hồi:
Giá thực tế ngun vật liệu nhập kho = Giá ước tính
b) Giá thực tế xuất kho:
Vật liệu trong doanh nghiệp được thu mua nhập kho từ nhiều nguồn khác
nhau, do vậy giá thực tế của từng đợt nhập kho cũng khơng hồn tồn giống nhau. Nên
khi xuất kho kế tốn phải tính tốn chính xác, xác định được giá thực tế xuất kho cho
từng đối tượng sử dụng theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp
dụng cho cả niên độ kế tốn.
Để tính trị giá thực tế của ngun vật liệu xuất kho, các doanh nghiệp có thể
áp dụng một trong các phương pháp sau:
• Phương pháp bình qn gia quyền:
Theo phương pháp này, giá thực tế ngun vật liệu xuất dùng trong kỳ dược
tính theo giá trị bình qn. Phương pháp này được chia thành ba loại:
+ Giá bình qn tồn đầu kỳ.
+Giá bình qn từng lần nhập.
+Giá bình qn cả kỳ dự trữ.
Trị giá ngun vật
liệu xuất dùng
=
Số lượng ngun vật
liệu xuất dùng
X
Đơn giá thực tế
bình qn
Trong đó:
Đơn giá bình qn
tồn đầu kỳ
=
Giá trị thực tế tồn đầu kỳ
Số lượng tồn đầu kỳ
Giá thực tế
ngun vật liệu
nhập kho
=
Giá thị trường tương đương
(hoặc giá NVL ghi trên biên
bản bàn giao)
+
Chi phí
tiếp nhận
(nếu có)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đơn giá bình
qn từng lần
nhập
=
Giá trị thực tế vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Giá trị thực tế lần
nhập kế tiếp
Số lượng vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Số lượng vật liệu
nhập kế tiếp
Đơn giá bình
qn cả kỳ dự trữ
=
Giá trị thực tế vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Giá trị thực tế vật liệu
nhập trong kỳ
Số lượng vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Số lượng vật liệu
nhập trong kỳ
Phương pháp giá bình qn tồn đầu kỳ tuy đơn giản, phản ánh kịp thời tình hình
biến động ngun vật liệu trong kỳ. Tuy nhiên phương pháp này khơng chính xác vì
khơng tính đến sự biến động giá cả ngun vật liệu trong kỳ.
Phương pháp bình qn cả kỳ dự trữ có ưu điểm là đơn giản, dễ làm nhưng mức
độ chính xác khơng cao. Hơn nữa cơng việc tính tốn tập trung vào cuối tháng, gây
ảnh hưởng đến cơng tác quyết tốn.
Phương pháp giá bình qn từng lần nhập khắc phục được nhược điểm của hai
phương pháp trên, vừa chính xác vừa cập nhật. Nhược điểm của phương pháp này là
tốn nhiều cơng sức, tính tốn phức tạp.
• Phương pháp nhập trước xuất trước (FiFo):
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất trước,
xuất hết số nhập trước mới xuất đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng
xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của ngun vật liệu mua
trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trước và như vậy giá trị vật
liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng.
• Phương pháp nhập sau xuất trước (LiFo):
Ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp này giả định
vật tư hàng hố xuất kho là những vật tư hàng hố mới mua vào. Do đó vật tư hàng
hố tồn kho đầu kỳ là vật tư hàng hố cũ nhất. Như vậy nếu giá cả có xu hướng giảm
thì vật liệu xuất tính theo giá mới sẽ thấp, giá thành sản phẩm hạ, tự giá vật liệu tồn
kho cao, mức lãi trong kỳ sẽ cao, hàng tồn kho có giá trị thấp, lợi nhuận trong kỳ sẽ
giảm.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
• Phương pháp giá thực tế đích danh:
Theo phương pháp này, căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá thực tế vật liệu
nhập kho của từng lần nhập xuất. Có nghĩa là vaatj liệu nhập kho theo đơn giá nào thì
xuất kho theo đơn giá đó,khơng quan tâm đến nhập, xuất. Phương pháp này thường áp
dụng đối với các loại vật liệu có giá trị cao, các loại vật tư đặc trưng.
1.1.5.2. Đánh giá vật liệu theo giá hạch tốn
Việc dùng giá thực tế để hạch tốn vật liệu thường được áp dụng trong các doanh
nghiệp mà việc xuất kho vật liệu khơng thường xun hàng ngày, chủng loại vật tư
khơng nhiều. Đối với doanh nghiệp có quy mơ lớn, khối lượng chủng loại vật tư nhiều,
giá của từng ngun vật liệu có nhiều giá khác nhau nên nếu ghi chép theo giá thực tế
thì cơng việc của kế tốn rất nhiều và phức tạp. Do đó, để đơn giản trong cơng tác
hạch tốn người ta quy định trên tài khoản hàng tồn kho được hạch tốn theo giá cố
định (giá hạch tốn).
Giá hạch tốn là giá mà doanh nghiệp tự xây dựng để hạch tốn trong suốt một kỳ
kế tốn trên tài khoản tồn kho. Nhưng vì giá hạch tốn chỉ là giá dùng để ghi chép trên
sổ kế tốn nên nó khơng có tác dụng đánh giá giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ và nó
cũng khơng có tác dụng dùng để xây dựng giá trị vật liệu thực tế được sử dụng trong
q trình sản xuất. Do đó trong kỳ, doanh nghiệp có thể hạch tốn theo giá cố định
nhưng cuối kỳ phải điều chỉnh theo giá thực tế.
Có thể đánh giá vật liệu xuất dùng theo giá hạch tốn qua các bước sau:
- Hàng ngày sử dụng giá hạch tốn để ghi sổ chi tiết giá vật liệu nhập xuất.
- Cuối kỳ, điều chỉnh giá hạch tốn theo trị giá thực tế để có số liệu ghi vào tài
khoản, sổ tài khoản tổng hợp và báo cáo hạch tốn theo cơng thức sau:
Hệ số giá
vật liệu
=
Giá thực tế vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Giá thực tế vật liệu
nhập trong kỳ
Giá hạch tốn vật liệu
tồn đầu kỳ
+
Giá hạch tốn vật liệu
nhập trong kỳ
Khi đó:
Giá thực tế vật liệu
xuất dùng trong kỳ
=
Giá hạch tốn vật liệu
xuất trong kỳ
X
Hệ số giá
vật liệu
Như vậy, mỗi phương pháp tính giá xuất kho vật liệu nêu trên đều có nội dung, nhược
điểm và những điều kiện phù hợp nhất định. Do vậy doanh nghiệp cần căn cứ vào hoạt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
động sản xuất kinh doanh, khả năng và trình độ nghiệp vụ kế tốn của các cán bộ kế
tốn để lựa chọn và đâng ký một trong những phương pháp kế tốn tính giá phù hợp.
1.2. CÁC HÌNH THỨC SỔ KẾ TỐN
Để tiến hành ghi chép sổ sách và xác định giá trị vật liệu nhập, xuất, tồn kho,kế tốn
ngun vật liệu có thể áp dụng một trong các hình thức ghi sổ kế tốn. Mỗi hình thức
có một hệ thống sổ sách riêng, cách thức hạch tốn riêng. Để vận dụng một cách có
hiệu quả, doanh nghiệp phải căn cứ vào trình độ của nhân viên kế tốn để lựa chọn và
áp dụng một hình thức sổ kế tốn cho phù hợp.
Có bốn hình thức ghi sổ kế tốn sau:
1.2.1. Hình thức Nhật ký- Sổ cái
Hình thức này thích hợp với các đơn vị sự nghiệp và ở những doanh nghiệp nhỏ sử
dụng ít tài khoản kế tốn.
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh vào một
quyển sổ gọi là Nhật ký-Sổ cái. Sổ này là sổ hạch tốn tổng hợp duy nhất, trong đó kết
hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. Tất cả các tài khoản mà doanh nghiệp
sử dụng được phản ánh cả hai bên nợ và có tren cùng một vài trang sổ. Căn cứ ghi vào
sổ là ghi một dòng vào nhật ký sổ cái.
Sơ đồ số 1.1: Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký sổ cái
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra.
Chứng từ gốc
Bảng tổng hợp
chứng từ gốc
Nhật ký
Sổ cái
Sổ, thẻ kế tốn
chi tiết
Sổ quỹ
Bảng tổng
hợp chi tiết
Báo cáo
tài chính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.2.2. Hình thức chứng từ ghi sổ
Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp dụng máy
tính. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo cáo dễ bị chậm trễ
nhất là trong điều kiện thủ cơng.
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã được phản ánh ở các
chứng từ gốc được phân loại, tổng hợp lập chứng từ ghi sổ, sau đó sử dụng chứng từ
ghi sổ để ghi sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và sổ cái các tài khoản.
Sơ đồ số 1.2: Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
1.2.3. Hình thức nhật ký chứng từ
Hình thức này thích hợp với doanh nghiệp lớn, số lượng nghiệp vụ nhiều và điều
kiện kế tốn thủ cơng, dễ chun mơn hố cán bộ kế tốn tuy nhiên đòi hỏi trình độ
Chứng từ gốc
Bảng tổng hợp
chứng từ gốc
Chứng từ ghi sổ
Sổ cái
Bảng cân đối số
phát sinh
Báo cáo tài chính
Sổ, thẻ kế tốn
chi tiết
Bảng tổng hợp
chi tiết
Sổ quỹ
Sổ đăng ký
chứng từ
ghi sổ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nghiệp vụ của cán bộ kế tốn phải cao. Mặt khác, nó khơng phù hợp với việc sử dụng
kế tốn máy.
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kế tốn phát sinh dược phản ánh ở chứng từ
gốc đều được phân loại để ghi vào nhật ký chứng từ, cuối tháng tổng hợp số liệu từ các
sổ nhật ký chứng từ vào sổ cái tài khoản.
Sơ đồ số 1.3: Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký chứng từ
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
1.2.4. Hình thức nhật ký chung
Hình thức nhật ký chung được sử dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp, các đơn vị
sự nghiệp có quy mơ lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng máy vi tinhsvaof trong
cơng tác kế tốn.
Sử dụng nhật ký chung để ghi chép tất cả các hoạt động kinh tế tài chính phát
sinh theo thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản,sau đó sử dụng số liệu ở sổ nhật
ký chung để ghi sổ cái các tài khoản liên quan.
Chứng từ gốc và bảng
phân bổ
Nhật ký chứng từ
Sổ cái
Báo cáo tài chính
Thẻ và sổ kế tốn
chi tiết
Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng kê
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét