Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM CP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VN - VPBank

Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Nhìn vào sơ đồ 1 ta thấy cơ cấu tổ chức của Ngân hàng được tổ chức theo
mô hình trực tuyến - chức năng. Cơ quan quyền lực cao nhất của VPBank là Đại
hội cổ đông. Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị để đại diện, chỉ đạo việc
điều hành hoạt động của ngân hàng và bầu ra Ban kiểm soát để giám sát mọi hoạt
động của ngân hàng. HĐQT bầu ra Tổng giám đốc – là người trực tiếp điều hành
mọi hoạt động của ngân hàng. Giúp việc cho Tổng giám đốc hiện tại có 2 Phó Tổng
giám đốc. Một Phó Tổng giám đốc phụ trách công tác ngân quỹ kho quỹ, công tác
tổng hợp và quản lý các chi nhánh, một Phó Tổng giám đốc chuyên trách công tác
phục vụ khách hàng, thẩm định TSCĐ, thanh toán quốc tế và khách hàng, kế toán.
2. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban.
Phòng kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Trực thuộc ban điều hành, có chức năng
kiểm tra, giám sát các hoạt động thường ngày và toàn diện trong tất cả các giai
đoạn trước, trong và sau quá trình thực hiện mỗi nhiệm vụ của Ngân hàng.
Phòng Kế toán: Chỉ đạo công tác thống kê, thực hiện các công tác kế toán và tài
chính, sử dụng tốt tài sản, tiền vốn. Phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng nhằm cung cấp cho Ban giám đốc và các phòng nghiệp vụ
những thông tin cần thiết, kịp thời.
Phòng Ngân quỹ: là nơi quản lý các khoản thu, chi của Ngân hàng.
Phòng Thu hồi nợ: Theo dõi và đôn đốc công tác thu hồi các khoản nợ lớn, nợ
khó đòi, tài sản thế chấp của KH để đưa ra những quyết định kịp thời và chính xác.
Phòng Tổng hợp và Quản lý chi nhánh: Thực hiện công tác theo dõi và đánh
giá tình trạng kinh doanh của các chi nhánh, qua đó có những thông tin cụ thể về
tình hình hoạt động của mỗi chi nhánh.
Văn phòng: Thực hiện các công việc văn thư, lưu trữ, tiếp đón khách, sắp xếp
lịch làm việc …
III. Kết quả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1. Hoạt động huy động vốn:
Bảng 1 : Tình hình huy động vốn năm 2005 – 2007
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
5
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 so sánh 2006/2005 so sánh 2007/2006
Số dư Số dư Số dư TĐ % TĐ %
Nguồn vốn huy động 5.637 9.055 15.355 3.418 160.64% 6.3 169.57%
Phân theo kì hạn
Ngắn hạn 4.397 7.244 11.756 2.847 164.75% 4.512 162.29%
Trung, dài hạn 1.24 1.811 3.599 0.571 146.05% 1.788 198.73%
Phân theo cơ cấu
Huy động thị trường I 3.209 5.63 12.764 2.421 175.44% 7.134 226.71%
Huy động thị trường II 2.398 3.386 2.439 0.988 141.20% -0.947 72.03%
(Nguồn: báo cáo thường niên 06,07)
Trong năm 2007, thị trường huy động vốn có sự cạnh tranh gay gắt, nhiều
ngân hàng mới thành lập, mạng lưới các chi nhánh của các NHTM liên tục được
mở rộng, tuy nhiên bằng các biện pháp hữu hiệu như: thường xuyên theo dõi và
điều chỉnh kịp thời lãi suất huy động để đảm bảo tính cạnh tranh; thực hiện các
chương trình khuyến mại với các phần quà và giải thưởng hấp dẫn dành cho khách
hàng gửi tiền…VPBank đã duy trì được tốc độ tăng trưởng nguồn vốn cao.
Đến 31/12/2007, tổng số dư huy động vốn của VPBank là 15.448 tỷ đồng,
đạt 113% kế hoạch của năm 2007, tăng 6.393 tỷ so với cuối năm 2006 (tương
đương tăng 70%). Trong đó nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư (thị
trường I) đạt 12.764 tỷ đồng, tăng 128% so với cuối năm 2006. Nguồn vốn liên
ngân hàng (thị trương II) cuối năm 2007 là 2.493 tỷ đồng, giảm 947 tỷ đồng so với
cuối năm 2006.
2. Hoạt động tín dụng:
Bảng 2 : Bảng cơ cấu dư nợ tín dụng 2005 - 2007
Đvị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007 so sánh so sánh
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
6
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
2006/2005 2007/2006
SL SL SL TĐ % TĐ %
Tổng dư nợ 3.298 5.007 13.324 1.709 151,82% 8.317 266,11%
Theo loại hình cho vay
Cho vay ngắn hạn 1.689 2.489 6.959 800 147,37% 4.470 279,59%
Cho vay trung hạn 1.607 2.518 6.365 911 156,69% 3.847 252,78%
Cho vay khác 2 -2 0,00% 0
Theo loại tiền tệ
Cho vay bằng đồng VN 3.192 4.736 12.727 1.544 148,37% 7.991 268,73%
Cho vay bằng ngoài tệ 106 271 597 165 255,66% 326 220,30%
(Nguồn: Báo cáo thường niên 06,06)
Mặc dù cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt,
hoạt động tín dụng của VPBank trong năm 2007 vẫn tăng trưởng tốt, đó là nhờ nỗ
lực của toàn thể cán bộ nhân viên toàn hệ thống đã tích cực tiếp thị tới các khách
hàng mới và duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng cũ.
Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2007 đạt 13.323 tỷ đồng, tăng 8.317 tỷ đồng
so với cuối năm 2006 (tương ứng tăng 165% so với cuối năm 2006) và vượt 53%
so với kế hoach cả năm 2007, trong đó dự nợ cho vay bằng VNĐ đạt 12.726 tỷ
đồng, chiếm 95% tổng dư nợ. Dư nợ ngắn hạn đạt 6.959 tỷ đồng, chiếm 52% tổng
dư nợ. Chất lượng tín dụng của hệ thống vẫn tiếp tục duy trì tốt, tỷ lệ nợ xấu của
ngân hàng đến cuối tháng 12/2007 là 0,49%.
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
7
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
3. Các hoạt động kinh doanh khác.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Trong năm 2007, tổng doanh số mua ngoại
tệ là 265 triệu USD (tăng 138 triệu USD so với năm trước), doanh số bán là 277
triệu USD (tăng 121 triệu USD so với năm trước). Thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ
đạt 10,6 tỷ đồng, tăng 2,5 tỷ đồng so với năm trước.
Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác: Trong năm
VPBank đã mua 683,8 tỷ đồng trái phiếu; số dư chứng từ có giá tới cuối năm 2007
còn 660 tỷ đồng. Thu lãi giấy tờ có giá năm 2007 đạt 62,4 tỷ đồng tăng gấp 2 lần so
với năm 2006.
Hoạt động đầu tư: Tổng số tiền góp vốn mua cổ phần tính tới ngày
31/12/2007 là 19,7 tỷ đồng, thu nhập từ tiền cổ tức năm 2007 là 2,3 tỷ đồng.
Hoạt đồng thanh toán quốc tế: Dịch vụ này trong năm 2007 có xu hướng
tăng. Trị giá LC nhập khẩu mở trong năm 2007 đạt hơn 97 triệu USD, tăng 60% so
với năm 2006. Doanh số chuyển tiền thanh toán quốc tế (TTR) năm 2007 đạt hơn
143 triệu USD, tăng 79% so với cuối năm 2006. Doanh số chuyển tiền trong nước
năm 2007 đạt 8944 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2006. Phí dịch vụ chuyển tiền
trong nước thu được năm 2007 là 5 tỷ đồng.
Hoạt động kiều hối: Doanh số chuyển tiền ra nước ngoài của VPBank qua
Western Union năm 2007 tăng 220% so với năm 2006. Doanh số chi trả cả năm đạt
gần 30 triệu USD, tăng 64% so với năm 2006. Tổng số đại lý phụ đến cuối năm
2007 là 390 điểm, tăng 158 điểm so với năm 2006. Tổng số phí Western Union
được hưởng năm 2007 đạt gần 500 ngàn USD tăng 68% so với năm 2006.
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
8
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
4. Nhận xét về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng VPBank
Kết thúc năm tài chính 2007, VPBank đạt kết quả lợi nhuận trước thuế là hơn
313 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2006, trong đó lợi nhuận từ hoạt động của
Ngân hang là 273 tỷ đồng, lợi nhuận từ công ty chứng khoán đạt 38,9 tỷ đồng, lợi
nhuận từ công ty AMC đạt trên 2 tỷ đồng.
Trong năm 2007, VPBank phát sinh rất nhiều khoản chi phí lớn nhằm xây
dựng cơ sở hạ tầng cho việc phát triển lâu dài. Nếu không có các khoản đầu tư đó,
lợi nhuận năm 2007 có thể đạt mức cao hơn. Tuy nhiên việc đầu tư vào yếu tố hạ
tầng, công nghệ và mạng lưới là rất cần thiết, bảo đảm duy trì một lợi thế cạnh
tranh tốt cho VPBank trong tương lai.
Trong 3 năm (2005-2007) tình hình kinh tế có nhiều biến động phức tạp gây
không ít khó khăn cho các ngân hàng. Đối với VPBank, tuy trong điều kiện khó
khăn nhưng bằng nhiều giải pháp tổng thể như tăng cường đào tạo nghiệp vụ nhằm
rút ngắn thời gian phục vụ khách hàng, tăng cường tiếp thị quảng bá hình ảnh của
VPBank nên Ngân hàng đã có được những thành công tương đối khả quan. Cụ thể
là doanh thu tiêu thụ của Ngân hàng tăng đáng kể trong 3 năm (năm 2006 là
39,14% , năm 2007 là 43,74%). Cùng với đó là số lượng cán bộ nhân viên trong
Ngân hàng cũng tăng thêm, tuy nhiên ta có thể thấy năng suất lao động của nhân
viên cũng đã tăng (năm 2006 là 27,5%, năm 2007 là 13,75%).
Tuy nhiên, khả năng của VPBank trong đa dạng hoá sản phẩm ngân hàng
còn yếu so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, thường là đi sau các ngân
hàng khác 2 - 3 năm. Năm 2008 cũng là năm cũng có quá nhiều biến động, khủng
hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ đã lan rộng ra các nước trong đó có cả Việt Nam.
Đối với riêng VPBank, dù kết quả kinh doanh không đạt được như kế hoạch đặt ra
nhưng cũng đã làm hết sức và trụ vững qua một năm đầy biến động. Trong thời
gian tới, VPBank việc đầu tiên cần làm là duy trì hoạt động ngân hàng được ổn
định và an toàn. Đặc biệt quan tâm đến đội ngũ khách hàng cũ, đang có quan hệ tín
dụng với ngân hàng. Đồng thời cũng phải tập trung vào phát triển dịch vụ trên nền
tảng có công nghệ tốt và mạng lưới rộng…Quan trọng nhất, song song với những
công việc trên là toàn bộ hệ thống tiếp tục phải tiết giảm tối đa các chi phí không
cần thiết, phải “thắt lưng buộc bụng” thì hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả.
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
9
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG VPBANK
I. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG VPBANK
Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng, trước hết ta cần phân
tích thực trạng của Ngân hàng trên thị trường: về hoạt động của Ngân hàng, thị
phần, các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường… đồng thời dựa trên những
nguồn lực sẵn có của Ngân hàng để có thể đề ra những biện pháp hợp lý, kịp thời
và hiệu quả.
1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực hiện nay đang là điểm mạnh và là lợi thế đáng kể của Ngân
hàng VPBank so với các ngân hàng khác trên thị trường. Qua bảng 4 ta thấy tổng
số lao động của Ngân hàng tăng lên qua các năm; điều này là phù hợp với sự phát
triển của VPBank. Trình độ của người lao động qua 3 năm đã có những thay đổi.
Lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng 66% trở lên, cao đẳng
và trung cấp khoảng 22%, và lao động mới tốt nghiệp phổ thong trung học hoặc
trung học cơ sở là khá thấp chiếm khoảng 3%. Toàn hệ thống tính đến 31/12/2007
có 2.681 người tăng 1.356 người so với cuối năm 2006, đội ngũ các bộ nhân viên
của VPBank phần lớn là trẻ (hơn 70% cán bộ nhân viên của VPBank có độ tuổi
dưới 30 tuổi) nhiệt tình và ham học hỏi, mong muốn gắn kết và phát triển cùng
VPBank.
Do nhu cầu mở rộng quy mô và phát triển, hàng năm Ngân hàng vẫn bổ sung
lực lượng lao động, đồng thời vẫn chú trọng đào tạo bồi dưỡng cán bộ trẻ kế cận.
Đặc biệt, VPBank thường xuyên chú ý đến việc đào tạo nâng cao trình độ nghiệp
vụ cho người lao động. Trong năm 2007, tính trên phạm vi toàn hệ thống, phòng
Nhân sự và Đào tạo đã tổ chức được 54 khoá đào tạo với 2.108 lượt học viên và
tổng chi phí đào tạo là gần 809 triệu đồng. Trong đó, chủ yếu là đào tạo tân chuyển
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
10
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
do nhu cầu mở rộng mạng lưới và phát triển điểm giao dịch trong năm qua. Các
nhân viên VPBank luôn nỗ lực hết mình đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ một cách
an toàn và chính xác. Các thông tin về tình hình tài chính luôn được giữ tuyệt mật,
các chứng từ giao dịch đều được thông qua các khâu kiểm soát nghiêm ngặt, do
vậy, các giao dịch diễn ra hầu như không gặp sai sót nào, đảm bảo nâng cao được
uy tín cho VPBank. Hơn nữa, tại các đơn vị trên toàn hệ thống, VPBank cũng tổ
chức các khoá đào tạo lạo các kiến thức nghiệp vụ chuyên môn cho nhân viên (đặc
biệt là nhân viên mới) do chính các cán bộ chuyên viên có kinh nghiệm trong Ngân
hàng giảng dạy. Thực tế cho thấy Ngân hàng luôn quan tâm đến chiến lược phát
triển con người và coi đó là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đề ra.
Bảng 4 : Bảng cơ cấu nhân lực của Ngân hàng qua 3 năm 2005 - 2007
Đvị: người
Chỉ tiêu
2005 2006 2007 so sánh 06/05 so sánh 07/06
SL SL SL TĐ % TĐ %
Tổng số lao động 782 1.325 2.681 543 69,44% 1356 102,34%
Phân theo giới tính
-Nam 342 561 1263 219 64,04% 702 125,13%
-Nữ 440 764 1418 324 73,64% 654 85,60%
Phân theo trình độ
- Đại học và trên đại
học
617 1053 2.064 436 70,66% 1011 96,01%
- Cao đẳng và trung cấp 90 188 524 98 108,89% 336 178,72%
- PTTH hoặc THCS 75 84 93 9 12,00% 9 10,71%
Phân theo độ tuổi
- Trên 45 tuổi 73 92 245 19 26,03% 153 166,30%
- Từ 35 đến 45 tuổi 156 314 518 158 101,28% 204 64,97%
- Từ 25 đến 35 tuổi 283 494 1054 211 74,56% 560 113,36%
- Dưới 25 tuổi 270 425 864 155
57,41%
439
103,29%
(Nguồn: Văn phòng VPBank)
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
11
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
2. Nguồn vốn
Tổng vốn của Ngân hàng luôn tăng qua 3 năm từ năm 2005 – 2007 theo
bảng 5. Tỷ trọng vốn vay tăng khá mạnh, năm 2007 vốn vay tăng 83% so với năm
2006, điều này cho thấy lượng tiền gửi vào Ngân hàng ngày càng tăng, thể hiện uy
tín của Ngân hàng đã được nhiều khách hàng công nhận. Cùng với đó, VPBank đã
cho thấy phương thức kinh doanh thành công của mình, chú trọng các biện pháp
huy động vốn, bổ sung và xây dựng kịp thời các chi nhánh mới đã thu hút một
lượng tư bản nhàn rỗi rất lớn từ xã hội. Nhưng để phát triển mạnh hơn, VPBank
cần chú trọng đầu tư vào nguồn vốn chủ sở hữu (VCSH) của mình bởi nguồn vốn
này vẫn chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng nguồn vốn. Đối với doanh nghiệp, VCSH là
nguồn quan trọng để doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng
cao chất lượng để chiến thắng trong cạnh tranh và trong trường hợp rủi ro VCSH
của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài vai trò này. Chức năng và mục
tiêu của VCSH không phải là để tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng mà là nền tảng để
đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng được an toàn, cụ thể là chống đỡ rủi ro, bảo
vệ người gửi tiền khi Ngân hàng gặp khó khăn, đóng vai trò kháng thể trong kinh
doanh. Trên cơ sở VCSH của mình, ngân hàng có quyết định hùn vốn kinh doanh,
mua cổ phần cho vay cao nhất đối với một khách hàng… đồng thời dựa trên VCSH
Ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ như: bảo lãnh, thanh toán quốc tế, kinh
doanh ngoại tệ, mở chi nhánh văn phòng … Việc phát triển các dịch vụ mới, hiện
đại đòi hỏi rất nhiều chi phí, chi mua máy móc thiết bị, lắp đặt, bảo dưỡng, vận
hành… nên Ngân hàng muốn đa dạng được sản phẩm dịch vụ của mình thì phải có
một nguồn VCSH đủ lớn mới có thể đầu tư vào các thiết bị công nghệ mới để phát
triển cơ sở vật chất mạnh mẽ hơn nhằm cạnh tranh cùng nhiều ngân hàng có các hệ
thống chi nhánh và tín dụng hiện đại khác như: Vietcombank, Agribank, Ngân
hàng Á Châu…
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
12
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 5 : Cơ cấu vốn của VPBank qua 3 năm 2005 – 2007
Đvị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
So sánh
2006/2005
So sánh
2007/2006
SL SL SL TĐ % TĐ %
Tổng vốn 4.149 10.242 18231 6093 147 7989 78
Chia theo sở hữu
-Vốn chủ sở hữu 313 1.544 2300 1231 382 756 49
- Vốn vay 3.836 8698 15931 4862 126 7233 83
Chia theo tính chất
- Vốn cố định 756 972 1397 216 29 425 44
- Vốn lưu động 3.393 9270 16934 5877 173 7664 83
(Nguồn: Phòng kế toán)
3. Yếu tố công nghệ:
Trong những năm qua, VPBank đã có nhiều nỗ lực trong việc gia tăng yếu tố
này như: Mức độ STP lớn hơn 94% điều này giúp cho thời gian chuyển tiền chỉ còn
từ 1 đến 2 ngày. VPBank đã nhận được chứng chỉ F.A.S.T của Bank of New York,
qua đó có thể cung cấp thêm các giá trị gia tăng cho các dịch vụ (như: Full
payment, Someday payment, Sight draft …). Do còn có nhiều khó khăn nên khả
năng đầu tư kinh phí cho việc phát triển hệ quản trị mạng của Ngân hàng còn hạn
hẹp. Hơn nữa việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong các sản phẩm có hàm
lượng “công nghệ” cao còn yếu. Hiện nay thẻ thanh toán đang là thế mạnh và là
nguồn thu lớn cho các ngân hàng khác. Hàng năm, Ngân hàng Á Châu có doanh số
thanh toán thẻ qua 2000 đại lý khoảng 500 tỷ đồng và thu được phí là 5 tỷ đồng.
VPBank mới chỉ thực hiện thanh toán với một số thẻ quốc tế như Master Card và
Visa Card nhưng mức thu phí cao.
Tuy nhiên VPBank đã ngày càng cải thiện công nghệ được hiện đại hơn để
có thể cạnh tranh với các NHTM khác. Ngày 12/8/2006, VPBank đã chính thức
phát hành thẻ ghi nợ nội địa mang tên Autolink, bên cạnh đó VPBank cũng đã rất
tích cực hoàn thiện các nghiên cứu và thử nghiệm cần thiết để xin chứng nhận
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
13
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
offline phát hành và thanh toán thẻ từ của Thẻ tín dụng quốc tế Master Card, Thẻ
trả trước quốc tế Master Card. Tháng 7/2007, VPBank cho ra mắt sản phẩm thẻ
VPBank Platinum EMV MasterCard dưới 2 loại hình : thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
Với sản phẩm thẻ này, VPBank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ
chip theo tiêu chuẩn EMV quốc tế. Cũng trong tháng 7/2007, trung tâm Thẻ
VPBank cũng đã hoàn tất việc kết nối hệ thống ATM của VPBank và Vietcombank
đồng thời hoàn thành việc chấp nhận thanh toán thẻ MasterCard tại ATM của
VPBank. Trung tâm Thẻ cũng đã hoàn thành việc chấp nhận thanh toán thẻ chip
EMV tại POS của VPBank trước thời hạn quy định. Tháng 12/2007, VPBank tiếp
tục cho ra đời dòng thẻ quốc tế thứ 2: VPBank MC
2
EMV MasterCard – thẻ dành
riêng cho giới trẻ, cũng dưới 2 hình thức Credit Card và Debit Card.
Trước đây, VPBank đã đầu tư mua phần mềm Bank 2000 để thực hiện trực
tiếp các nghiệp vụ trong toàn hệ thống. Tuy nhiên, cho đến nay phần điều chuyển
vốn cho chi nhánh và các văn phòng chi nhánh cấp 1,2 được thực hiện thông qua
phân hệ thu – chi hộ qua mạng Foxpro cũ nên hay gặp những lỗi kỹ thuật. Hệ thống
mạng WAN được nối mạng trên toàn hệ thống giúp cho nhân viên nắm bắt được
các thông tin từ các chi nhánh khác một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, mạng điện
thoại nội bộ giữa các chi nhánh được thiết lập và nâng cấp đảm bảo an toàn cho
hoạt động ngân hàng. Chi phí đầu tư cho mua sắm máy vi tính, thiết bị công nghệ
thông tin đều tăng qua các năm từ 20-30%. Tuy vậy so với trình độ công nghệ
thông tin trong ngành ngân hàng trên thế giới cũng như so với hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam thì VPBank còn nhiều lạc hậu.
4. Yếu tố giá cả và lãi suất
Cũng như các ngân hàng thương mại khác, VPBank cũng thường xuyên thay
đổi bảng phí dịch vụ và lãi suất theo hướng có lợi cho khách hàng và đảm bảo tính
cạnh tranh của Ngân hàng với các đối thủ khác trên thị trường. Nhìn chung phí dịch
vụ của VPBank cũng tương tự như ở một số ngân hàng khác, do vậy tính cạnh
Nguyễn Thị Thùy Dương Lớp 10 – 36
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét