ợc do sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các quốc gia sản xuất cùng một
loại sản phẩm nào đó. Khi đó nớc sản xuất có chi phí cao sẽ nhập khẩu sản
phẩm đó từ nớc có chi phí thấp hơn.
Để mô tả đầy đủ về lợi ích của ngoại thơng theo lý thuyết tuyệt đối ta
lấy ví dụ sau:
Chi phí sản xuất gạo và thép của Việt Nam nh sau:
Nhật Bản Việt Nam
Gạo 2 4
Thép 6 1
Khi tham gia trao đổi hàng hoá giữa hai nớc Nhật Bản có lợi thế trong
sản xuất thép sẽ chuyên môn hoá sản xuất thép và xuất khẩu thép còn Việt
Nam sẽ nhập khẩu thép và xuất khẩu gạo.
Tỷ lệ trao đổi quốc tế là:
2
6
<
Gạo
Thép
<
4
1
Chẳng hạn tỷ lệ trao đổi quốc tế:
Gạo
Thép
=
3
1
Khi trao đổi hàng hoá mỗi sản phẩm thép xuất khẩu của Nhật Bản đợc
lãi:
3
1
-
2
6
=
8
3
Trong khi mỗi sản phẩm gạo xuất khẩu của Việt Nam đợc lãi tối đa là:
6
2
-
1
4
=
11
4
Nh vậy bản chất của lợi thế tuyệt đối đợc xét từ hai phía. Đối với nớc
bán sản phẩm có chi phí thấp hơn sẽ có lợi nhuận cao hơn khi bán trên thị tr-
ờng quốc tế. Còn đối với nớc có chi phí sản xuất sản phẩm có chi phí cao sẽ
5
đợc sản phẩm mà trong nớc không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không
đem lại lợi nhuận.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng với các nớc đang
phát triển.
Do thiếu vốn đầu t phát triển, trình độ khoa học công nghệ thấp nên chi
phí sản xuất các t liệu sản xuất nh máy móc, thiết bị cao. Các nớc đang phát
triển phải nhập khẩu các t liệu sản xuất này từ các nớc phát triển. Đồng thời
xuất khẩu các hàng hoá mà họ có u thế về nguồn lao động, từ nguyên liệu
thiên nhiên để sản xuất ra chúng.
2.2. Lợi thế tuyệt đối của D.Ricardo
Hạn chế của lý thuyết tuyệt đối của A.Smith là chỉ giải thích đợc vai trò
của ngoại thơng trong trờng hợp một nớc có lợi thế trong sản xuất sản phẩm,
hàng hoá này nhng không lợi thế bằng nớc khác trong việc sản xuất một sản
phẩm khác. Còn trờng hợp khác một nớc có lợi thế hơn nớc khác trong sản
xuất tất cả các sản phẩm hàng hoá đều có thể tham gia trao đôỉ và đều đợc lợi
thì không giải thích đợc. Kế thừa đồng thời khắc phục những hạn chế trên
của A.Smith, D.Ricardo đã cho ra đời lý thuyết lợi thế tơng đối.
Nguyên tắc cơ bản để có lợi thế tơng đối chính là việc thực hiện cách
mạng hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có chi phí sản xuất tơng đối
thấp hơn so với các nớc khác. Lợi thế tơng đối chứng minh rằng bất kỳ nớc
nào cũng có thể tham gia vào thơng mại quốc tế để tăng thu nhập.
Sau đây là ví dụ chứng minh rằng các nớc sẽ thu đợc lợi từ hoạt động th-
ơng mại bằng sự cách mạng hoá trong sản xuất và xuất khẩu.
Giả sử ta có số liệu sau về chi phí sản xuất ra vải và cà fê của hai nớc
Việt Nam và Nhật Bản tính bằng ngày công lao động:
Sản phẩm Chi phí sản xuất (ngày công lao động)
Việt Nam Nhật Bản
Vải (tấn) 10 8
Cà fê (tấn) 8 5
6
Nh vậy, néu xét về chi phí sản xuất thì hao phí lao động của Việt Nam
cao hơn của Nhật Bản trong cả hai mặt hàng. Do đó theo lợi thế tuyệt đối thì
Việt Nam không có kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nào sang Nhật Bản.
Nhng theo quan điểm lợi thế tơng đối của D.Ricardo, ta tính chi phí cơ
hội sản xuất của từng sản phẩm cà fê và thép của Nhật Bản và Việt Nam nh ở
bảng sau:
Quốc gia
Chi phí cơ hội
Việt Nam Nhật Bản
Vải 5/4 cà fê 8/5 cà fê
Cà fê 4.5 vải 5/8 vải
Theo bảng trên: Để sản xuất ra 1 tấn vải Việt Nam bị bỏ đi cơ hội sản
xuất ra 5/4 tấn cà fê ngợc lại để sản xuất đợc 1 tấn cà fê Việt Nam phải dừng
sản xuất 4/5 tấn vải.
Về phía Nhật Bản để sản xuất ra 1 tấn vải chi phí cơ hội là 8/5 tấn cà fê
và sản xuất 1 tấn cà fê chi phí cơ hội là 5/8 tấn vải.
Vậy cùng sản xuất 1 tấn vải Nhật Bản phải dừng sản xuất 8/5 tấn cà fê
Việt Nam mất 5/4 tấn cà fê suy ra chi phí cơ hội sản xuất 1 tấn vải của Việt
Nam (8/5 - 5/4). Vậy Nhật Bản sẽ chuyên môn hoá và xuất khẩu cà fê. Việt
Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải.
Tỷ lệ trao đổi quốc tế là:
5
4
<
Vải
Cà fê
<
8
5
Giả sử tỷ lệ trao đổi quốc tế chính xác là
Vải
Cà fê
<
7
5
Khi Việt Nam sản xuất và xuất khẩu 1 tấn vải thì tỷ lệ trao đổi trong nớc
là:
7
Vải
Cà fê
<
5
4
Vậy mỗi tấn vải xuất khẩu của Việt Nam đợc lãi là
4
5
-
5
4
=
3
20
(tấn Cà fê)
Ngợc lại đối với Nhật Bản mỗi tấn cà fê xuất khẩu của họ đợc lãi là:
5
7
-
5
8
=
5
56
(Tấn vải)
Vậy nếu mỗi nớc sản xuất và xuất khẩu 5 tấn sản phẩm thì 5 tấn sản
phẩm vải xuất khẩu của Việt Nam đợc lãi là:
5 x
3
20
=
3
4
(Tấn cà fê)
Và 5 tấn sản phẩm cà fê của Nhật Bản xuất khẩu đợc lãi:
5 x
5
56
=
25
56
(Tấn vải)
Bây giờ ta tiếp tục xét sự gia tăng về năng lực sản xuất của mỗi quốc gia
khi tham gia thơng mại quốc tế.
Giả sử quỹ thời gian sản xuất của mỗi nớc là 80 ngày công ta có hàm
năng lực sản xuất nh sau:
2.3. Lý thuyết của Heakscher - Ohlin về lợi thế tơng đối.
* Các giả thiết của Heakscher - Ohlin:
- Thế giới chỉ có 2 quốc gia chỉ có 2 loại hàng hoá và chỉ có 2 yếu tố là
lao động và t bản.
- Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hoá giống nhau và thị
hiếu của các dân tộc nh nhau.
8
- Hàng hoá này cha nhiều lao động, hàng hoá cha nhiều t bản.
- Tỷ lệ giữa đầu t và sản lợng của 2 loại hàng hoá trong 2 quốc gia là
một hằng số: cả hai quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất ở mức không
hoàn hảo.
- Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trờng hàng hoá và thị trờng các yếu tố
đầu vào ở cả hai quốc gia.
- Các yếu tố đầu vào di chuyển tự do trong phạm vi quốc gia nhng bị cản
trở trong phạm vi quốc tế.
- Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở ngại
khác trong thơng mại giữa 2 nớc.
* Nội dung về lợi thế tơng đối.
Nếu:
Giá t bản của quốc gia I
Tiền lơng của quốc gia I
>
Giá thuê t bản của quốc gia II
Tiền lơng của quốc gia II
Thì ta coi quốc gia I có sẵn t bản hơn quốc gia II và quốc gia II có lợi
thế về lao động hơn so với quốc gia I.
Ta lấy một ví dụ làm cơ sở nh sau:
Việt Nam là quốc gia yếu, kém t bản hơn so với Đài Loan nhng sẵn có
lao động hơn Đài Loan vì vậy khi có hoạt động ngoại thơng giữa 2 nớc Việt
Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xã hội những hàng hoá và dịch vụ cần
nhiều lao động để sản xuất ra chung hơn là cần t bản (sản xuất vải).
Còn Đài Loan sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá, dịch
vụ cần nhiều t bản hơn là lao động (sản xuất thép)
Nếu chọn phơng án chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu nh trên giữa
2 nớc thì cả 2 nớc sẽ đợc lợi.
Đờng giới hạn khả năng sản xuất của 2 nớc với mặt hàng vải và thép nh
sau:
Nếu quy mô sản xuất là 5 tấn
9
Thép
Thép
Thép
Việt Nam
0
0
Vải
Vải
Đài Loan
3.1. Lý thuyết về đầu t.
Có nhiều nguyên nhân khiến cho một Công ty thâm nhập ra nớc ngoài
nh khai thác lợi thế về tính không hoàn hảo của các thị trờng thâm nhập khi
lợi thế cạnh tranh của nó lớn hơn chi phí, do uy tín về nhãn hiệu sản phẩm,
lợi thế quy mô, dễ tiếp cận thị trờng, phản ứng cạnh tranh với các hoạt động
chi phối ngành công nghiệp hoặc bình quân hoá các lợi thế tơng đối hoặc do
nhu cầu mở rộng thị trờng hoặc khai thác các lợi thế công nghệ, nguồn
nguyên liệu sẵn có ở các cơ sở sản xuất khác.
Các nguyên nhân bên ngoài khiến một Công ty quyết định thâm nhập ra
nớc ngoài là: Các hoạt động cạnh tranh, yêu cầu của khách hàng hoặc các
chính sách của Chính phủ.
3.2. Lý thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm
Sản lợng
Mô hình này chứng minh về động cơ buôn bán giữa các nớc. Mô hình
trên cho biết giữa 4 giai đoạn phát triển quan hệ trao đổi một hàng hoá nào
đó của một nớc với các nớc khác giai đoạn đổi mới, giai đoạn phát triển, giai
đoạn chín muồi, giai đoạn suy giảm và triệt tiêu.
4. Vai trò của ngoại thơng đối với tăng trởng và phát triển kinh tế
4.1. Tác động của ngoại thơng đến tăng trởng và phát triển kinh tế
Ngoại thơng là một nhân tố của tăng trởng và phát triển kinh tế vĩ mô, là
một nhân tố cấu thành nên tổng cầu theo công thức:
AD = C + G + I + NX
NX = EX - IM
10
Chín muồi
bão hoà
0
Đổi mới
Phát triển
Suy giảm
triệt tiêu
Đây là nhân tố ngoại thơng phải xuất khẩu rộng của một nớc đợc rút ra
từ "cán cân thanh toán quốc tế" trong tài khoản "Cán cân xuất khẩu" của một
quốc gia trong một giai đoạn nhất định.
Tác động của ngoại thơng đến tăng trởng kinh tế thể hiện trong mô hình
tổng cung - tổng cầu sau:
AD = C + G + I + NX
AD: Tổng cầu của nền kinh tế
AS: Tổng cung
EX: Kim ngạch xuất khẩu
IM: Kim ngạch nhập khẩu
C: Tiêu dùng của dân c
G: Chi tiêu của chính phủ
I: Tổng đầu t xã hội
PL: Mức giá chung
Y: Sản lợng
Nếu NX tăng làm cho tổng cầu chuyển từ AD
0
đến AD
1
dẫn đến sản l-
ợng tăng từ Y
0
đến Y
1
Nếu NX giảm làm cho tổng cầu dịch chuyển xuống phía dới từ AD
0
đến
AD
2
sản lợng sẽ giảm từ Y
0
đến Y
2
4.2. Giữ vai trò của xuất khẩu đến tăng trởng và phát triển kinh tế.
11
PL
1
PL
0
PL
2
AD
2
AD
0
AD
1
0
4.2.1. Khái niệm xuất khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động bán những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đợc
sản xuất trong nớc ra nớc ngoài trên cơ sở lấy tiền tệ làm phơng tiện thanh
toán. Tiền sử dụng để thanh toán là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với
cả hai quốc gia. Kết quả của hoạt động xuất khẩu là làm tăng nguồn thu
ngoại tệ cho nớc xuất khẩu và thay đổi cán cân thanh toán quốc tế theo hớng
cơ lợi.
Hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn hoạt động mua bán trong nớc vì hàng
hoá đợc vận chuyển ra ngoài biên giới quốc gia xuất khẩu. Thị trờng xuất
khẩu vô cùng rộng lớn. Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh. Các quốc gia
tham gia đều phát triển theo các thông lệ quốc tế. Từ đó hoạt động liên quan
đến xuất khẩu thờng đợc tổ chức một cách chặt chẽ trong khu chế xuất.
4.2.2. Vai trò của xuất khẩu với tăng trởng và phát triển kinh tế.
Xuất khẩu có vai trò lo lớn đến tăng trởng và phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia, vì hoạt động xuất khẩu làm tăng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế, tăng thu cho ngân sách, kích thhích đổi mới công
nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống
cho nhân dân.
4.2.2.1. Xuất khẩu trực tiếp cải thiện cán cân thơng mại quốc tế, cán
cân thanh toán quốc tế và yếu tố tạo nên tăng trởng kinh tế.
Nh phân tích ở mục 4.1 ta có:
NX = EX - IM
NX: là cán cân thơng mại quốc tế.
EX: là kim ngạch xuất khẩu
Nếu EC tăng dẫn đến NX tăng dẫn đến sản lợng tăng. Mặt khác khi xuất
khẩu tăng làm cho nguồn ngoại tệ chảy vào trong nớc tăng dẫn đến làm cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế.
4.2.2.2. Xuất khẩu làm tăng tích luỹ phát triển sản xuất và tạo nguồn
cho nhập khẩu.
12
Nh đã phân tích ở trên xuất khẩu là yếu tố của tăng trởng kinh tế nếu
tăng xuất khẩu làm cho sản lợng quốc dân tăng do đó làm tăng tích luỹ trong
nớc cho sản xuất.
Theo xu hớng quốc tế hoá nếu kinh tế thế giới các quốc gia trên thế giới
lệ thuộc chặt chẽ vào nhau. Không một quốc gia nào tồn tại một cách độc lập
riêng rẽ. Các nớc phải trao đổi hàng hoá lẫn nhau, không một quốc gia nào
có đủ nguồn lực để đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu sản xuất và tiêu dùng buộc
phải nhập khẩu từ nớc ngoài. Việc nhập khẩu lấy từ các nguồn vốn nh: vốn
vay, viện trợ, đầu t từ nớc ngoài và tích luỹ từ xuất khẩu. Nguồn vốn tích luỹ
từ xuất khẩu đóng góp đáng kể vì vốn tích lũy từ xuất khẩu dùng cho nhập
khẩu không gây ra những ảnh hởng xấu. Nếu dùng vốn vay để nhập khẩu làm
cho nợ nớc ngoài tăng. Nguồn viện trợ có hạn, tăng nhập khẩu nhất là nhập
khẩu t liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất. Nh vậy nguồn tích luỹ từ xuất
khẩu đã tác động gián tiếp vào tích luỹ sản xuất.
4.2.2.3. Xuất khẩu làm tạo thêm việc làm cho ngời lao động, nâng cao
thu nhập cho ngời lao động.
Sản phẩm xuất khẩu đợc tổ chức sản xuất và tiêu thụ chặt chẽ. Công
đoạn sản xuất nhiều và phức tạp cần nhiều lao động với trình độ tay nghề
khác nhau tạo ra công ăn việc làm nhiều với thu nhập cao, không ngừng cải
thiện đời sống ngời lao động, tăng thu nhập quốc dân. Không những thế việc
sản xuất hàng hoá xuất khẩu còn góp phần làm mở rộng ra nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực sản xuất mới (nh ngành bổ trợ, ngành phụ, cấp 1, cấp 2 ) thu
hút lao động. Có thể nói những ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu mang tầm
cỡ là những ngành mũi nhọn, ngành trọng điểm, trong có cần các ngành sản
xuất nó rất đợc quan tâm phát triển và có một hệ thống tổ chức rất quy mô,
sự phối hợp nhịp nhàng của nhiều ngành khác nhau. Do đó, ngoài việc làm
tăng đáng kể thu nhập quốc dân nó còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
khác đặc biệt là lao động, việc làm, công bằng xã hội
4.2.2.4. Xuất khẩu là một yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng có lợi.
13
Ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu đợc đánh giá là ngành có vị trí
ngành mũi nhọn và ngành trọng điểm trong quy hoạch và kế hoạch phát triển
hệ thống các ngành kinh tế. Vì việc lựa chọn ngành sản xuất hàng hoá xuất
khẩu đợc phân tích và tổng hợp một cách có hệ thống về nhu cầu thị trờng thế
giới và các điều kiện trong nớc để sản xuất hàng hoá đó khiến cho ngành này
đợc xem nh là ngành có khả năng chi phối đối với sự phát triển của nhiều
ngành kinh tế quốc dân. Theo định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và là
ngành đang chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP về lâu dài vẫn có khă năng
phát triển. Đồng thời những ngành này còn là ngành phát huy u thế đất nớc,
tham gia có hiệu quả trong phân công lao động quốc tế. Nh vậy chỉ thông
qua hoạt động xuất khẩu mà ta có thể nhận thức đợc ngành nào là ngành mũi
nhọn, ngành trọng điểm thực sự phát huy đợc lợi thế so sánh của đất nớc.
Tham gia có hiệu quả vào phân công lao động thế giới thông qua nhu cầu thị
trờng thế giới, phân tích khả năng, nguồn lực trong nớc từ đó đẩy mạnh phát
triển có hệ thống các ngành theo đúng định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đúng với xu hớng hội nhập quốc tế.
Xuất khẩu tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở:
- Xuất khẩu phát triển tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển nh
các ngành bổ xung, ngành phụ trợ, các ngành khác có liên quan đến việc làm
cơ sở cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
- Xuất khẩu phát triển làm mở rộng thị trờng tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất
phát triển, tạo cơ hội cho các ngành có lợi thế so sánh phát triển, tiếp cận các
lĩnh vực sản xuất hiện đại, tiên tiến.
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
4.2.2.5. Xuất khẩu làm tăng quan hệ hợp tác và tham gia ngày càng
tích cực hơn vào phân công lao động quốc tế.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh. Nhờ có cạnh tranh thúc đẩy
doanh nghiệp cải tiến công nghệ để có thể sản xuất ra những sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ có chất lợng cao, tạo ra năng lực sản xuất mới hơn nữa. Hoạt
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét