Quan niệm này cho thấy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là sự ganh
đua hết sức gay gắt nhằm mục đích trúng thầu. Tuy nhiên, quan niệm này vẫn
chỉ bó hẹp ở khâu đấu thầu mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong suốt quá trình sản xuất - kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp đều
tham gia đấu thầu rất nhiều công trình khác nhau với những đối thủ khác nhau
trong những khoảng thời gian, địa điểm khác nhau, do đó quan niệm theo
nghĩa hẹp này sẽ khó xác định được toàn diện các vấn đề cạnh tranh trong đấu
thầu
Theo nghĩa rộng: cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sựđấu tranh gay
gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin, đưa
ra các giải pháp tham gia đấu thầu, bảo đảm trúng thầu và thực hiện hợp đồng
cho tới khi hoàn thành công trình và bàn giao theo yêu cầu của chủđầu tư. Có
thể hiểu cạnh tranh theo nghĩa rộng trong đấu thầu xây dựng theo sơđồ dưới
đây:
Sơđồ 1: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Doanh nghiệp phải chủđộng tìm kiếm thông tin về các cuộc đấu thầu để
có sự chuẩn bị tham gia đấu thầu.
Khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu, có hai trường hợp xảy ra là trượt
thầu hoặc trúng thầu. Trong trường hợp nào thì doanh nghiệp cũng luôn luôn
5
Tìm kiếm
thông tin
Tham gia đấu
thầu
Hoàn thành
bàn giao
Ký hợp đồngThực hiện
hợp đồng
Chuẩn bị vàđưa ra biện pháp
phải tìm kiếm các thông tin để tiếp cận các cuộc đấu thầu. Phân tích vàđánh
giá thông tin đểđưa ra các quyết sách đúng đắn trong việc tham gia đấu thầu.
1.2.1.2. Phân loại cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh trong đấu thầu có nhiều loại, trong đó chủ yếu là:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người mua dịch vụ xây dựng
(chủđầu tư- bên mời thầu) và người bán dịch vụ xây dựng công trình (doanh
nghiệp xây dựng - nhà thầu) với những mục tiêu khác nhau, tạo ra sự sôi động
của thị trường xây dựng. Mục tiêu của chủđầu tư là các công trình có chất
lượng cao, thời gian xây dựng ngắn và chi phí xây dựng (giácả hợp lý). Còn
mục tiêu của nhà thầu làđảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
nhất vàít rủi ro nhất.
- Cạnh tranh giữa người mua dịch vụ xây dựng với nhau: Chỉ xảy ra khi
có nhiều chủđầu tư có công trình cần xây dựng nhưng chỉ có một doanh
nghiệp xây dựng hoặc một ít tổ chức xây dựng tham gia đấu thầu có khả năng
công nghệđộc quyền để xây dựng các công trình ấy. Trường hợp này hiếm
xảy ra trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong đấu thầu.
- Cạnh tranh giữa những người cung ứng dịch vụ xây dựng với nhau
(cạnh tranh giữa các nhà thầu - doanh nghiệp xây dựng) đó là cuộc cạnh tranh
khốc liệt nhất, gay go nhất của cạnh tranh trên thị trường xây dựng.
Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau nhằm
đứng vững trên thị trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra, sử dụng ưu thế
của mình về chất lượng, thời gian thi công và chi phí xây dựng công trình.
Cạnh tranh, một mặt, sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí cao bằng các
hình thức như loại bỏ doanh nghiệp ra khỏi thị trường hoặc doanh nghiệp chỉ
thu được lợi nhuận thấp; mặt khác, sẽ khuyến khích những doanh nghiệp có
chi phí thấp. Chính nguyên tắc trừng phạt và khuyến khích của cạnh tranh
sẽtạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để giảm chi phí
sản xuất - kinh doanh, vìđó là cơở cho sự tồn tại hay phá sản của doanh
nghiệp.
6
Một trong những vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp xây dựng trong điều kiện cơ chế thị trường là phải giành được lợi thế
cạnh tranh trên thị trường, kýđược nhiều hợp đồng có khả năng mang lại lợi
nhuận cao. Vì thế, đấu thầu xây dựng có thể xem là một trong những hoạt
động rất quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng.
Để thắng thầu được nhiều dựán đầu tư, doanh nghiệp phải có thực lực
cạnh tranh, phải có chiến lược và chiến thuật hợp lý và cần phải có chữ tín với
chủđầu tư, tạo dựng các mối quan hệ thường xuyên với chủđầu tư hiện tại và
chủđầu tư tiềm năng.
Để dự thầu doanh nghiệp phải tiếp cận với hàng loạt vấn đề, từ khâu
thiết kếđến thi công, bàn giao đưa công trình vào sử dụng. Hoạt động thi công
phải được triển khai thực hiện theo một trình tự công nghệ nghiêm ngặt (kỹ
thuật và tổ chức thi công) đảm bảo cho quá trình thi công diễn ra thuận lợi và
tiết kiệm nhất. Để thi công xây dựng công trình đúng tiến độ, đạt hiệu quả
kinh tế mong muốn thì d xây dựng phải có bộ máy quản lýđủ năng lực đểđiều
hành sản xuất. Nếu hoạt động đấu thầu xây dựng được xem là hoạt động đầu
tiên trong quan hệ giữa doanh nghiệp xây dựng với chủđầu tư, thì hoạt động
bàn giao công trình hoàn thành có thể xem là hoạt động cuối cùng. Những
công trình bàn giao cho chủđầu tưđược xem là những sản phẩm đãđược thị
trường chấp nhận. Hoạt động này có quan hệ tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt
động thầu xây dựng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp bàn giao công trình
đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật, thời gian xây dựng thì uy tín cua doanh nghiệp
trên thị trường xây dựng được đề cao. Ngược lại, nếu doanh nghiệp bàn giao
những công trình xây dựng không đảm bảo như cam kết hợp đồng thì uy tín
của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút.
1.2.2. Khả năng và phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng
1.2.2.1. Khái quát về khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng
7
Khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nói đến nội lực
(bên trong) của doanh nghiệp, trong dó có các năng lực về tài chính, kỹ thuật
công nghệ, marketing, tổ chức quản lý, đội ngũ lao động của doanh nghiệp.
Có nội lực làđiều kiện cần, còn điều kiện đủ là doanh nghiệp phải biết sử
dụng, phát huy tất cả các nội lực đóđể phục vụ cho các cuộc cạnh tranh khác
nhau tạo ra lợi thế hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác. Như vậy, khả nưng
cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực
đóđể tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác nhằm
thoả mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thị trường.
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là toàn bộ những năng lực
về tài chính, thiết bị, công nghệ, marketing, tổ chức quản lý mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để tạo ra các lợi thế của mình so với các doanh nghiệp khác.
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp không cỉ
là lợi thế về sản phẩm (chất lượng, giá cả) mà còn có các lợi thế về nguồn lực
đểđảm bảo sản xuất ra sản phẩm đó (tài chính, công nghệ, nhân lực). Để tồn
tại và phát triển bền vững phải không ngừng nâng cao nội lực của doanh
nghiệp nhằm tạo ưu thế về mọi mặt như chất lượng công trình, tiến độ thi
công, biện pháp thi công, giá cả v.v so với các đối thủ. Trước yêu cầu ngày
càng cao vàđa dạng của khách hàng, nếu doanh nghiệp không vươn lên đáp
ứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh làđiều khó tránh khỏi. Trên thực tế,
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt, buộc các nhà
thầu phải tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là việc các doanh nghiệp sử dụng
toàn bộ năng lực có thểđể giành lấy phần thắng, phần hơn trước các đối thủ
cùng tham dự thầu.
1.2.2.2. Phương thức cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây
dựng
Đểđánh giá, cho điểm và lựa chọn nhà thầu, chủđầu tư căn cứ vào những
chỉ tiêu chủyếu sau của nhà thầu sau:
8
- Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu;
- Tài chính;
- Tiến độ thi công;
- Giá dự thầu.
Trong các chỉ tiêu trên, chủđầu tưđặc biệt chú trọng đến ba chỉ tiêu hàng
đầu mà các doanh nghiệp xây dựng sử dụng như những phương thức trọng
tâm trong quá trình cạnh tranh đấu thầu, cụ thể:
Phương thức 1: Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Trong đấu thầu, chỉtiêu giá bỏ thầu có vai trò quyết định việc doanh
nghiệp có trúng thầu hay không. Nếu xây dựng được mức giá bỏ thầu tốt đảm
bảo được hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp vừa đảm bảo khả năng trúng
thấu cao.
Chất lượng của việc xây dựng mức giá bỏ thầu liên quan đến rất nhiều
yếu tố nó thể hiện tổng hợp các phẩm chất của doanh nghiệp xây dựng như:
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp;
- Kỹ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến;
- Phẩm chất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để giá bỏ thầu của doanh nghiệp cóưu thế cạnh tranh đòi hỏi phải có
chính sách về giá một cách linh hoạt dựa trên cơ sở: Năng lực thực sự của
doanh nghiệp; mục tiêu tham gia đấu thầu; quy mô, đặc điểm của dựán,địa
điểm của dựán, phong tục tập quán của địa phương có dựán được thi công.
Việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của nhà
thầu nhưđể kiếm lợi nhuận, công ăn việc làm hay mở ra thị trường mới. Một
nhà thầu thường xây dựng các mức giá khác nhau với những mục tiêu đạt
được khác nhau. Tuỳ theo từng công trình cụ thể, tiềm lực nguồn lao động,
khả năng về vốn, thiết bị máy móc v.v mục tiêu tham gia đấu thầu có chính
sách định giá khác nhau trong việc quyết định giá bỏ thầu.
Phương thức 2: Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
9
Chất lượng công trình là tập hợp các thuộc tính của công trình trong điều
kiện nhất định về kinh tế kĩ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể
hiện ở nhiều mặt khác nhau về tính cơ, lý, hoá của công trình mà chủđầu tưđặt
ra.
Doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất
lượng công trình. Đó làđiều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn
giành được thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy, chất lượng công trình là vấn
đề sống còn đối với doanh nghiệp xây dựng. Nâng cao chất lượng công trình
cóý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các giác độ:
- Chất lượng công trình tăng lên sẽ góp phần tăng uy tín của doanh
nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng được thị trường.
- Nâng cao chất lượng công trình góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
-kinh doanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu
mà doanh nghiệp đãđề ra.
Trong phương thức cạnh tranh bằng chất lượng công trình, các nhà thầu
xây dựng cạnh tranh với nhau không chỉ bằng chất lượng cam kết thực hiện
của công trình đang được tổ chức đấu thầu xây dựng mà còn cạnh tranh với
nhau qua chất lượng các công trình khác đã vàđang được xây dựng.
Chất lượng là một trong những yêu cầu chủ yếu đối với mỗi loại sản
phẩm được sản xuất ra, chất lượng của sản phẩm là công trình xây dựng lại
càng là một yếu tố quan trọng, cũng chính vì vậy mà chất lượng công trình là
một công cụ mạnh để cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng.
Phương thức 3: Cạnh tranh bằng tiến độ thi công
Tiến độ thi công thể hiện ở việc bố trí tổng thể của doanh nghiệp trong
công tác thi công công trình. Chịu sựảnh hưởng về sự cam kết đối với chất
lượng, an toàn lao động và thời hạn bàn giao công trình. Thông qua tiến độ thi
công của các công trình đã vàđang thi công, chủđầu tư có thểđánh giá nhà
thầu về các khía cạnh tranh độ quản lý, trình độ kỹ thuật thi công và năng lực
máy móc thiết bị, nhân lực của nhà thầu.
10
1.2.3. Các tiêu thức cơ bản đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu
thầu của doanh nghiệp xây dựng
1.2.3.1. Các tiêu thức thể hiện khả năng cạnh tranh
Số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu.
Chỉ tiêu này thể hiện khái quát tình hình dự thầu và kết quả dự thầu của
doanh nghiệp, qua đó có thểđánh giáđược hiệu quả, chất lượng của việc dự
thầu trong năm, quy mô và giá trị hợp đồng của các công trình trúng thầu.
Tỷ lệ thắng thầu trong dự thầu.
Tỷ lệ này được tính như sau:
Tính theo số dựán (hoặc số gói thầu dự thầu)
T1 = x 100 (%) (1)
Trong đó: T1: Là tỷ lệ trúng thầu theo số lần tham gia đấu thầu
Dtt: Là số dựán (số gói thầu) thắng thầu
Ddt: Là số dựán (số gói thầu) dự thầu
Tính theo giá trị dựán (hoặc gói thầu)
T2 = x 100 (%) (1)
Trong đó: Là tỷ lệ trúng thầu theo giá trị dựán (gói thầu)
Gtt: Là giá trị của các dựán (gói thầu) trúng thầu
Gdt: Là giá trị của các dựán (gói thầu) dự thầu
1.2.3.2. Các tiêu thức đánh giá khả năng trúng thầu trong đấu thầu của
doanh nghiệp xây dựng
Về năng lực và kinh nghiệm
Đây là chỉ tiêu xác định điều kiện đầu tiên đảm bảo nhà thầu được tham
gia cạnh tranh đấu thầu trong mỗi dựán (gói thầu). Chỉ tiêu này thể hiện khả
năng hiện có của mỗi một nhà thầu về tổng thể khả năng trên các mặt: Kinh
nghiệm, trình độ nhân lực, khả năng về tài chính với những tiêu chuẩn nhất
định tuỳ theo quy mô, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ của từng dựán (gói thầu). Tiêu
chuẩn này được thể hiện qua bảng 2:
Bảng 2: Năng lực và kinh nghiệm của các nhà thầu
11
Tiêu chuẩn
Nhà thầu
Kinh nghiệm (K) Nhân lực (N) Tài chính (T)
NT1 K1 N1 T1
NT2 K2 N2 T2
… … … …
NTn Kn Nhà nước Tn
Trong đó:
- K là tiêu chuẩn kinh nghiệm của nhà thầu: Được đánh giá bằng số năm
kinh nghiệm hoạt động hoặc số lượng các hợp đồng quy mô tương tựđã thực
hiện trong vòng 3 đến 5 năm gần đây với các điều kiện tương tự.
- N là tiêu chuẩn nhân lực của nhà thầu được đánh giá bằng số lượng,
trình độ của cán bộ và công nhân kỹ thuật.
- T là tiêu chuẩn năng lực tài chính của nhà thầu được đánh giá bằng chỉ
tiêu doanh thu, lợi nhuận trước và sau thuế, vốn lưu động trong vòng 3 đến 5
năm gần đây.
- n: Số nhà thầu tham dự, i = 1 ÷ n
Nhà thầu được xác định làđủ năng lực kinh nghiệm để tham gia dự thầu
khi:
Ki ≥ Ko với (i = 1÷ n)
Ni ≥ Ko với (i = 1÷ n)
Ti ≥ Ko với (i = 1÷ n)
Trong đó:
Ko: Mức kinh nghiệm tối thiểu của nhà thầu
No: Số lượng và trình độ nhân lực tối thiểu của nhà thầu;
To: Khả năng về tài chính tối thiểu của nhà thầu.
Ko, No, To được bên mời thầu qui định cụ thểđối với từng gói thầu tuỳ
tính chất, qui mô, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ thi công của từng dựán (gói thầu).
Về mặt kỹ thuật
12
Chỉ tiêu này là tổng hợp của các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, biện
pháp thi công và tiến độ công trình.
- Yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng: đòi hỏi nhà thầu dự thầu phải đưa
ra các giải pháp và biện pháp thi công, sử dụng máy móc thiết bị với tính hợp
lý và khả thi (được nêu cụ thể trong hồ sơ mời thầu). Trên cơ sởđáp ứng các
yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng của công trình. Đưa ra sơđồ tổ chức hiện
trường, bố trí nhân lực, các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi
trường hợp lý.
- Tiến độ thi công là thời gian cần thiết để nhà thầu thi công hoàn thành
công trình. Tiến độ thi công phải được bố trí một cách tuần tự khoa học nhằm
sử dụng tối đa nguồn lực sẵn có của nhà thầu và mang tính khả thi cao. Tiến
độ thi công được quy định cụ thể trong hồ sơ mời thầu. Nhà thầu cần có sự
nghiên cứu địa bàn thi công, mặt bằng thi công, nguồn gốc vật liệu v.v qua
đó bố trí thi công các hạng mục, các phần việc hợp lý nhằm đưa ra được tổng
thời gian thi công công trình ngắn nhất. Mức độđảm bảo tổng tiến độ quy
định và sự hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục, phân việc công
trình có liên quan.
Về mặt giá:
Chỉ tiêu về giá là một chỉ tiêu kinh tế, có vai trò quan trọng nhất trong
việc quyết định nhà thầu trúng thầu hay không vàảnh hưởng lớn đến hiệu quả
hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nhà thầu khi xây dựng giá bỏ thầu đều dựa trên cơ sở của định mức
dự toán, đơn giá ca máy, giá vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí khác.
Nếu tất cả các nhà thầu đều tính đúng, tính đủ theo chếđộ quy định thì sẽ có
giá dự thầu giống nhau (có sai khác phần nào là do phương pháp kỹ năng tính
toán) vàđiều này sẽ làm mất đi tính cạnh tranh trong đấu thầu. Vấn đềđặt ra là
nhà thầu phải định ra được giá dự thầu thấp hơn, đây chính là khả năng cạnh
tranh về giá của các nhà thầu.
13
Khả năng cạnh tranh về giá của các nhà thầu có thể xác định qua công
thức sau:
KG = (3)
Trong đó:
KG: Là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu.
GA: Là giá gói thầu (giá dự toán được duyệt)
Gi: Là giá dự thầu của nhà thầu thứ i [(i = n ÷ (n-1)]
Với quy chếđấu thầu hiện nay, nhà thầu thứ j muốn thắng trong cuộc
cạnh tranh về giá phải có:
KGj ≤ KG và KGj < KGi ∀ i [i = 1÷ (n-1)] n: là số nhà thầu dự thầu
điều này cũng đồng nghĩa với:
KGj ≤ KA và KGj < KGi ∀ i [i = 1÷ (n-1)]
Trong thực tế việc xây dựng giá dự thầu để có thể trúng thầu là cực kỳ
quan trọng và phức tạp vì nó liên quan đến nhiều yếu tố bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của khu vực thực hiện dựán như
nguồn vật tư, vật liệu, hệ thống giao thông, điện nước, đời sống và dân trí của
nhân dân trong khu vực có công trình xây dựng. Đây là những yếu tố khá
quan trọng trong việc xem xét giá bỏ thầu.
- Đặc điểm yêu cầu của dựán: Các tiêu chuẩn kỹ thuật, mức độ cụ thể
về mã hiệu, chủng loại vật tư, loại hình dựán cũng là những yếu tốđể các nhà
thầu cân nhắc đưa ra tỷ lệ giảm giá hợp lý.
Tiêu chí về giá thực chất là tổng thể của hai tiêu chí trên. Bởi vì năng
lực kinh nghiệm; trình độ kỹ thuật là những vấn đề có tính quyết định đến
việc đưa ra mức giá dự thầu của nhà thầu.
1.3. Các nhân tốảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của
doanh nghiệp xây dựng
1.3.1. Nhóm nhân tố bên trong
1.3.1.1. Tài chính
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét