khắc phục. Sau Quyết Định 33 TTG ngày 5 tháng 3 năm 1990 việc quản
lý nhà thuộc các cơ quan tự quản trước đây chuyển sang phương thức
kinh doanh dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước. Và đến khi Nghị
Định 61/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà
ở thì các hoạt động kinh doanh nhà thuộc sở hữu nhà nước trở thành một
mảng quan trọng trong quản lý nhà thuộc sở hữu nước nói chung. Do vậy
những mặt yếu kém trong việc mua bán và kinh doanh nhà thuộc sở hữu
nhà theo nghi định 61/Cp cũng bộc lộ những mặt hạn chế trong quản lý
nhà thuộc sở hữu nhà nước. Hà Nội là một thành phố lớn tập trung rất
nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp của trung ương và địa phương nên
quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước rất lớn, việc quản lý rất khó khăn. Có thể
nói việc quản lý nhà thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn HN có thể đại
diện cho các thực trạng trong lĩnh vực quản lý này trên cả địa bàn cả
nước. Vì vậy, tôi chọn đề tài này nhằm thông qua đánh giá việc thực hiện
nghị định 61 từ năm 2000-2005 để phát hiện những mặt yếu kém ,những
nguyên nhân trong việc thực hiện nghị định 61 Cp nhằm đưa ra một số
các giải pháp đẩy mạnh tiến độ thực hiện nghị định này trên địa bàn Hà
Nội nói riêng và cũng đê nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nhà
thuộc quản lý nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu : Thông qua việc sử dụng nguồn thông tin
từ Ban 61 Sở TNMT-NĐ Hà Nội các văn bản pháp quy về vấn đề này để
đánh giá tiến độ thực hiện công việc của nghị định 61/Cp.Nghiên cứu các
văn bản pháp luật các văn bản hướng dẫn cộng với các thông tin về tình
hình kinh tế để tìm hiểu các nguyên nhân khách quan ,đồng thời căn cứ
vào việc điều tra phản hồi từ các chủ thể liên quan đến việc mua bán nhà
công để phát hiện các lý do chủ quan dẫn đến các thực trạng trên. Từ đó
đưa ra một số các kiến nghị về vấn đề quản lý nhà công nói chung.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: HN là thành phố lớn tập trung rất
nhiều cơ quan, đơn vị quan trọng của nhà nước. Quỹ nhà công vụ của
5
thành phố lớn, việc thực hiện bán nhà trên địa bàn HN rất tiêu biểu cho
các địa phương trên cả nước. Do vậy , đề tài nghiên cứu tới thực trạng
quản lý nhà công vụ thông qua việc đánh giá tình hình thực hiện NĐ 61
trên địa bàn HN.Qua tìm hiểu những nguyên nhân hạn chế trong quá trình
thi hành NĐ mà đưa ra một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thi hành
NĐ và cũng để nâng cao hiệu quả của quản lý NN đối với nhà công vụ.
Bố cục của nghiên cứu bao gồm :
Chương I : Cơ sở lý luận của việc quản lý tài sản nhà nước và quy trình
bán nhà theo nghị định 61 Cp
Chương II : Thực trạng quản lý nhà công vụ tại HN .
1. Các mặt đạt được trong quá trình thực hiện bán nhà
2. Các mặt còn tồn tại trong quá trình thực hiện bán nhà.
3. Nguyên nhân của những thực trạng nêu trên
4. Đánh giá chung về việc thực hiện công việc
Chương III. Các kiến nghị và các giải pháp thực hiện.
Do hạn chế về trình độ cũng như kinh nghiệm lý luận, thực tiễn nên
chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Kính mong được sự đóng góp
ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.Qua đây, tôi cũng xin chân
thành cảm ơn TH.S Nguyễn Thị Lệ Thúy là giảng viên khoa KHQL
trường ĐH KD đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi thực hiện
đề tài này.
6
PHẦN NỘI DUNG
C HươNG I : Cơ Sở LÝ LUậN Về QLNN đốI VớI TàI SảN NHà
NướC Và NHà THUộC Sở HữU NHà NướC.
I . Quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước.
“Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước,
bao gồm nhà, công trình công cộng, công trình kiến trúc và tài sản khác
thuộc sở hữu nhà nước; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ
chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước.”
1
1 .Nội dung của tài sản Nhà nước
Tài sản thuộc sở hữu nhà nước bao gồm tài sản thuộc khu vực hành
chính sự nghiệp, tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng,
lợi ích quốc gia,tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp, tài sản được xac
lập sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật, dự trữ quốc gia, và các
nguồn tài nguyên.
1 .1. Tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp: Là những tài sản
Nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị
lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản lý và sử dụng gồm:
- Đất đai;
- Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
1
Điều 3 chương 1 luật “ Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí” số 14/1998/ NĐ- CP.
7
- Các phương tiện giao thông vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài
sản khác.
1.2. Tài sản nhà nước tại doanh nghiệp
1 .3.Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc
gia bao gồm:
- Hệ thống các công trình giao thông vận tải;
- Hệ thống các công trình thủy lợi;
- Hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nước;
- Các công trình văn hoá;
- Các công trình kết cấu hạ tầng khác.
1 .4. Tài sản được xác lập sở hữu của Nhà nước theo qui định của pháp
luật, bao gồm:
- Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung
quĩ Nhà nước và tiền phạt do vi phạm pháp luật;
-Tài sản bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bỏ
quên, vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác theo qui định của pháp luật là tài
sản nhà nước;
- Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu, tặng, đóng góp
và các hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản khác cho Nhà nước, tài
sản viện trợ của Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài và các tổ
chức quốc tế khác.
8
1 .5. Các tài nguyên của đất nước
Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất,
nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời (sau đây gọi chung là đất
đai, tài nguyên thiên nhiên khác).
1.6. Tài sản dự trữ nhà nước.
2 . Nguyên tắc quản lý tài sản nhà nước
• Nguyên tắc tập trung dân chủ: Việc tổ chức sử dụng tài sản thuộc sở
hữu nhà nước được thống nhất tập trung dưới sự quản lý nhà nuớc
thông qua các hệ thống các văn bản pháp luật các chính sách chủ
trương. Nhung đồng thời cũng thể hiện tính dân chủ trong việc phân
biệt các chức năng quản lý đối với các cơ quan chức năng, cơ quan tự
quản. Các cơ quan này có nhiệm vụ kê khai đối chiếu sổ sách với cơ
quan tài chính về việc sử dụng tài sản công, đồng thời có nhiệm vụ
báo cáo, kiến nghị lên cấp trên xem xét việc sửa chữa, xây dựng …
liên quan đến tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
• Nguyên tắc đa số: Nhà nước cung cấp hàng hóa đặc biệt- hàng hóa
công cộng, để phục vụ cả cộng đồng chứ không riêng một cá nhân
nào. Các loại hàng hóa công cộng được xác định theo nguyên tắc đa
số, nghĩa là làm sao cho chi phí cận biên của những người sử dụng
hàng hóa công cộng và lợi ích cận biên của người đó nằm trên mức
cân bằng của đường cung cầu hàng hóa công cộng. Nhà nước đại diện
cho nhân dân quản lý tài sản quốc gia, nên một chính sách liên quan
đến việc quản lý tài sản công phải được quyết định từ tập thể và thể
hiện ý nguyện của đại đa số nhân dân. Do đó, phải thực hiện công
khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
• Nguyên tắc thị trường :Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường,
do đó mọi hoạt động quản lý của nhà nước đều phải dựa trên nguyên
9
tắc tương hợp với thị trường, quản lý của chính phủ phải lấy thị
trường làm cơ sở phân tích tính hiệu quả của hoạt động kinh tế. Tức
là phải căn cứ vào các yếu tố của thị trường như là giá cả, cạnh tranh,
lao động… để đưa ra các chính sách,kinh tế thông thoáng vừa tăng
tính cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế vừa tạo động lực cho nền
kinh tế phát triển mạnh mẽ.
• Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Sử dụng hiệu quả, tránh gây lãng
phí. Tài sản công phải được sử dụng một cách triệt để phục vụ cho
mục đích trung của nền kinh tế. Các cơ quan chức năng liên quan phải
tăng cường giám sát kiểm tra việc sử dụng tài sản quốc gia thuộc lĩnh
lực mình quản lý. Tài sản nhà nước phải được theo dõi, ghi chép đầy
đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định
giá trị tài sản trong các quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, thanh lý tài
sản thực hiện theo nguyên tắc thị trường, từ đó phát hiện ra những mặt
được những mặt chưa được của việc quản lý tài sản. Tiến hành chỉnh
đốn nội bộ, xây dựng các kế hoạch hiệu quả đề nghị các cơ quan cấp
trên xem xét.
• Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và
vùng lãnh thổ. Nhà nứoc phải có một thể thống nhất. Bộ máy nhà
nứoc được tổ chức hoạt động theo các cấp hành chính từ tung ương
đến địa phương. Trong khi đó các đơn vị thuộc tất cả các nghành đều
nằm trên các lãnh thổ nhất định. Điều đó cũng có nghĩa tài sản của
nhà nứớc thuộc khu vực hành chính nằm trên tất cả các địa phương
trên cả nước. Do vậy việc quan lý theo các cấp chính quyền và theo
các nghành phải có sự thống nhất nhau.
3 . Vai trò của nhà nước trong việc quản lý tài sản nhà nước
“Nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, điều tiết, định hướng cho
các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế
10
và chính sách”
2
. Trước khi đổi mới Nhà nước ta đã tiến hạnh cuộc cách
mạng quan hệ sản xuất với 2 hình thức sở hữu về tư liệu sản suất là sở hữu
quốc doanh và sở hữu tập thể. Do vậy đã không khơi dậy sử dụng hết năng
lực sản xuất và sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên của đất nước. Cùng với
cơ chế quản lý điều hành quản lý từ các cơ quan quản lý nhà nước đối với
sản xuất kinh doanh quan liêu , bao cấp , kế hoạch hóa tập trung đã kìm hãm
sản xuất, gây lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Từ năm 1986 với
quan điểm đổi mới, Nhà nước đã thừa nhận tính đa dạng của nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Nhà nước là người đại diện của dân, có vai trò đầu tầu trong
nền kinh tế tạo ra môi trường để cho các thành phần kinh tế có thể phát triển
một cách bình đẳng, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Từ đó,
quan điểm và cách thức quản lý các nguồn tài nguyên và tài sản công cũng
thay đổi một cách cơ bản. Nhà nước không trực tiếp quản lý và sử dụng như
trước đây mà dùng nhiều loại tôt chức kinh doanh và tổ chức sự nghiệp bằng
cách phân biệt quyề sở hữu công với quyền sử dụng các loại tài nguyên, các
nguồn lực của đất nước. Trong nền kinh tế thị trường cũng cần phải tuân
theo các quy luật của thị trường: quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật
cạnh tranh, quan hệ hàng – tiền… Tài sản công không chỉ được sử dụng
trong các các đơn vị nhà nước mà còn được giao quyền sử dụng, cho thuê
hoặc dùng góp vốn vào các hình thức kinh doanh khác.
Nhà thuộc sở hữu nhà nước là tài sản nhà nước thuộc khu vực hành
chính, Nhà nứoc có vai trò điều tiết, định hướng bằng các văn bản luật, các
chính sách sao cho tài sản được sử dụng đúng mục đích, chế độ, tiêu chuẩn,
định mức, kiểm tra giám sát nghiêm ngặt và có hình thức xử lý nghiêm minh
trong trường hợp sử dụng tài sản công cho các mục đích cá nhân và các mục
đích khác.
Nhà nước dùng nguồn ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư
xây dựng nhà, công trình xây dựng khác và tài sản gắn liền với đất đai khu
2
Giáo trình quản lý nhà nứớc về kinh tế -Đh KTQD
11
vực hành chính sự nghiệp. Các cơ quan chủ quản lập báo cáo lên cấp trên
về nhu cầu xây dựng mới hoặc xây thêm, các cơ quan tài chính phối hợp
với các cơ quan chức năng khác sẽ xác định lại để quyết định các doanh
mục dự án. “Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng theo quy định về
quản lý đầu tư xây dựng của nhà nước.”
3
Nhà nước có vai trò điều phối sử dụng tài sản sao cho hiệu quả thông
qua việc điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, thu hồi tài sản hoặc xử lý
các tài sản không cần dùng hoặc không còn sử dụng được nữa. Thẩm
quyền quyết định các hoạt động điều tiết trên được quy định trong Nghị
định số 14/1998/NĐ-CP. Do vậy, song song với quá trình điều chuyển là
quá trình các cơ quan nhà nước phải hạch toán kê khai tài sản một cách
nghiêm túc và các cơ quan chức năng phải tổ chức giám sát kiểm tra các
hoạt động sử dụng tài sản.
Nền kinh tế hội nhập đặt ra những yêu cầu về huy động nguồn lực, đòi
hỏi nâng cao năng lực quản lý nhà nước; trong đó quản lý tài sản cụng được
đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, ở giai đoạn trước đó, quản lý
TSC vẫn được lồng ghép vào cơ chế thu chi Ngân sách Nhà nước, việc đầu
tư xây dựng mới mua sắm chưa căn cứ vào tiêu chuẩn định mức và thiếu sự
giám sát, kiểm tra của nhà nước. Đất đai, TSC cũng bị sử dụng lãng phí,
thất thoát một lượng không nhỏ làm giảm nguồn lực từ nội bộ nền kinh tế
đất nước. Trước tình hình đó, năm 1995 Chính phủ đó giao nhiệm vụ quản
lý TSC cho ngành Tài chính. “Trong những năm qua hoàn thành xuất sắc
cuộc tổng kiểm kê đánh giá lại tài sản cố định khu vực hành chớnh sự
nghiệp theo quyết định số 466/TTG ngày 2/7/1997 của Thủ tướng Chớnh
phủ. Qua tổng kiểm kê tài sản cố định của nhà nước tại khu vực hành chính
sự nghiệp đó kiểm kê tài sản của 55.325 đơn vị đạt 96,2% tổng số cơ quan,
đơn vị hành chính sự nghiệp.Đây là cuộc kiểm kê đầu tiên , từ đó Nhà nước
đó nắm và kiểm soát được toàn bộ tài sản cố định (bao gồm cả đất đai trên
3
Điều 3 Mục 1 Chương II Nghị định 14/1998/NĐ-CP về quản lý tài sản nhà nước.
12
phạm vi cả nước. Xây dựng và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, định mức sử
dụng tài sản đối với hai loại tài sản chủ yếu là trụ sở làm việc và xe phục vụ
công tác. Thực hiện thẩm định nhu cầu mua sắm sửa chữa tài sản. Qua kết
quả thẩm định này của 38 địa phương có thể kết luận rằng: nếu tất cả các Bộ,
ngành, địa phương đều làm tất việc thẩm định mua sắm, sửa chữa tài sản của
các cơ quan hành chính sự nghiệp đó giảm nhu cầu chi ngân sách khoảng
241 tỷ đồng bằng 4% so với dự toán được duyệt”
4
. Thực hiện quản lý tài sản
của nhà nước một cách chặt chẽ khụng chỉ làm giảm thất thoát cho ngân
sách nhà nước mà cũn tạo những nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ việc
bán, cho thuờ hoặc thanh lý tài sản Hơn nữa cũng tạo ra một môi trường
quản lý trong khu vực công lành mạnh và cũng là một động tác chống tham
nhũng.
4 . Nội dung của QLNN đối với tài sản nhà nước .
4 .1 Thiết lập khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực quản lý tài sản thuộc sở
hữu nhà nước.
Chức năng quản lý đầu tiên của QLNN về kinh tếlà thiết lập khuân
khổ pháp lý về kinh tế. Do vậy các hoạt động quản lý tài sản nhà nứoc phải
được tuân thủ chặt chẽ theo các quy định trong các văn bản pháp luật. Theo
nghị đinh số 14/1998/NĐ-CP thì phạm vi quản lý tài sản nhà nước được qui
định như sau:
Đối với tài sản nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản
được xác lập sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật thì thực hiện
chế độ đăng ký, báo cáo tài sản; quy định thẩm quyền quyết định mua sắm,
tiếp nhận tài sản; chế độ quản lý, sử dụng và xử lý tài sản;
Đối với tài sản dự trữ nhà nước thì thực hiện chế độ báo cáo tài sản và
chế độ quản lý tài chính trong quá trình mua vào, bán ra và quản lý vốn ngân
4
. Bộ tài chính- Nghiên cứu và trao đổi “Đưa công tác quản lý tài sản công lên một tầm cao mới”-ngày
7/7/2005.
13
sách nhà nước cho dự trữ tài sản. Việc quản lý tài sản dự trữ bằng hiện vật
thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ;
Đối với tài sản nhà nước thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công
cộng, lợi ích quốc gia, đất đai và tài nguyên thiên nhiên khác thì thực hiện
chế độ báo cáo tài sản, chế độ quản lý tài chính trong quá trình điều tra, quy
hoạch, tìm kiếm, đo đạc, xác định tài sản và chế độ quản lý tài chính trong
quá trình bảo dưỡng, sửa chữa, tôn tạo, khai thác, sử dụng tài sản.
Tài sản thuộc các lĩnh vực an ninh quốc phòng, năng lượng… thì phải
được quản lý riêng theo quy định của chính phủ trong khi các tài sản khác
thuộc lĩnh vực nào thì căn cứ vào luật đó để thực hiện như nhà của đất đai
thuộc sở hữu nhà nước thì quản lý theo quy định của luật đất đai, tài sản nhà
nước đầu tư vào doanh nghiệp thì phải tuân theo các quy định của luật doanh
nghiệp
4 .2 QLNN đảm bảo cho các cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng .
Các cơ quan nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì bộ
máy nhà nước, thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế. Do vậy việc
đảm bảo một lượng cơ sở vật chất nhất định để các cơ quan có thê thực hiện
tốt chức năng của mình là vô cùng quan trọng.
Các cơ quan, ban ngành chức năng, từ trung ương đến địa phương
phải có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước liên quan đến chức năng hoạt
động của mình, kê khai báo cáo tình hình sử dụng tài sản định kỳ, đề nghị tu
sủa nếu cần thiết.
Các đơn vị, cá nhân được giao trực tiếp quản lý và sử dụng tài sản nhà
nước có trách nhiệm quản lý và sử dụng tài sản nhà nước được giao theo
đúng quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên
quan. Đồng thời lập và thực hiện kế hoạch xây dựng, mua sắm, sửa chữa, cải
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét