Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

39 Vận dụng phương pháp ABC trong phân bổ chi phí tại Công ty Cổ phần kem Ki Do


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1. Tổng quan về kế toán
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán
Có rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kế toán đã nỗ lực để có thể xác định thời
điểm và địa điểm mà hệ thống kế toán ra đời. Tuy nhiên, có rất nhiều kết quả khác
nhau, nhưng hầu hết các kết quả thừa nhận sự tồn tại của một số hình thức ghi
chép sổ sách ở những nền văn minh cổ xưa, như nền văn minh của người At-xi-ri
và người Xume, nền văn minh Ai cập, nền văn minh Trung hoa, nền văn minh Hy
lạp và nền văn minh La mã với kế toán đơn là chủ yếu, nhằm mục đích quản lý
của cải, tài sản của gia đình, bộ lạc và nhà nước thời kỳ này.
Phương pháp kế toán kép được sử dụng đầu tiên bởi các thương gia người Ý
như là một công cụ để kiểm soát, nhưng chắc chắn một điều là ở thời điểm này
các thương gia người Ý vẫn chưa thấy hết được các tiềm năng của phương pháp
kế toán kép.
Người có công lớn nhất cho việc phổ biến phương pháp kế toán kép phải kể
đến là Luca Pacioli, một nhà tu người Pháp với quyển sách “Summa de
Arithmetica, Geometria, Proportioni et Proportionalita” được xuất bản năm 1494
cho thấy bản chất của việc thực hiện phương pháp kế toán kép ở Venice, mà được
mọi người biết đến như là “Phương pháp của Venice” hay “Phương pháp của
người Ý”. Ông không phải là người phát minh ra phương pháp kế toán kép, mà
chỉ mô tả những gì được thực hiện tại thời điểm này.
“Phương pháp của người Ý” được phát triển rộng sang các quốc gia ở Châu
Âu vào thế kỷ 16-17, sau đó tiếp tục phát triển và trở thành khuôn mẫu kế toán
kép với những nét đặc trưng mới mà được vận dụng cho đến ngày nay.

2

1.1.2. Định nghĩa về kế toán
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán, mỗi một định nghĩa cố gắng
vạch rõ phạm vi nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, việc phát triển một định nghĩa
kế toán đơn lẻ luôn gặp phải những khó khăn:
Khó khăn đầu tiên là do bản chất năng động của kế toán. Glautier và
Underdown (1986, p.3) đã cho rằng chính sự thay đổi của môi trường đã liên tục
mở rộng ranh giới của kế toán làm cho phạm vi ban đầu của định nghĩa trở nên
không chắc chắn.
Khó khăn thứ hai là hệ quả của khó khăn thứ nhất, đó chính là vấn đề về ranh
giới. Kế toán có thể được mô tả đồng thời là chiết trung và không giới hạn phạm
vi, vì thế các định nghĩa về kế toán có khuynh hướng mờ nhạt và thay đổi ranh
giới.
Khó khăn thứ ba bắt nguồn từ những tranh luận xoay quanh vấn đề kế toán là
một khoa học hay nghệ thuật. Theo Ủy ban thuật ngữ của Học viện kế toán viên
công chứng của Mỹ (1953) cho rằng “kế toán là một nghệ thuật ghi chép, sắp xếp
và tổng hợp theo một cách có ý nghĩa và thể hiện dưới dạng tiền tệ, các giao dịch
và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm thể hiện được đặc điểm tài chính và từ đó
làm sáng tỏ những kết quả”
Việc sử dụng các phương pháp khoa học trong công tác kế toán ngày càng
tăng, đây chính là cơ sở cho rằng kế toán là một khoa học ứng dụng – là một khoa
học do bởi phương pháp của kế toán, là một ứng dụng do bởi tính định hướng mục
tiêu của kế toán.(Mattessich, 1984; Steele, 1991; Belkaoui, 1996). Như vậy rõ
ràng kế toán không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật.
Gần đây hơn, Hiệp hội các nhà kế toán Mỹ (AAA) (1966, p.1) đã đưa ra một
định nghĩa rộng hơn về kế toán: “Kế toán là quá trình nhận dạng, đo lường và
truyền đạt thông tin kinh tế cho người sử dụng ra quyết định”.
3

Tuy nhiên, định nghĩa này không chuyên sâu vì thông tin kinh tế mà định
nghĩa đề cập rộng hơn nhiều so với thông tin mà kế toán cung cấp.
Năm 1970, Ủy ban nguyên tắc kế toán Mỹ (APB) định nghĩa “Kế toán là một
hoạt động dịch vụ. Chức năng của nó là cung cấp các thông tin tài chính định
lượng về các nghiệp vụ kinh tế hữu ích cho việc ra các quyết định kinh tế, ”
Mặc dù định nghĩa này đủ rộng để hoàn thiện phạm vi của kế toán, tuy nhiên
một hạn chế nghiêm trọng là kế toán chỉ cung cấp những thông tin định lượng,
trong khi khuynh hướng hiện đại thì kế toán còn cung cấp cả những thông tin định
tính.
Một định nghĩa toàn diện hơn được đưa ra bởi Ansari, Bell, Klammer &
Lawrence (1997,p.2), tác giả cho rằng kế toán bao gồm 4 ý:
- Bản chất là một quá trình đo lường,
- Phạm vi bao gồm cả những thông tin định lượng và định tính,
- Mục đích là giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu mang tính chiến
lược,
- Những thuộc tính là nâng cao sự hiểu biết về các hiện tượng được đo lường
và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định.
Định nghĩa này có sức thuyết phục mạnh hơn khi cho rằng thông tin của kế
toán bao gồm cả thông tin định lượng và định tính, cũng như nhấn mạnh tầm quan
trọng của kế toán đối với mục tiêu mang tính chiến lược của tổ chức.
Tóm lại, kế toán là một quá trình thu thập, đo lường, ghi chép và truyền đạt
những thông tin cần thiết cho người sử dụng thông tin ra các quyết định.
1.1.3. Chức năng và mục tiêu của kế toán
1.2.1.1. Các chức năng của kế toán:
Hoạt động kế toán có hai chức năng cơ bản, đó là chức năng thông tin và
chức năng kiểm tra.
4

- Với chức năng thông tin: Kế toán sẽ cung cấp các thông tin hữu ích cho
việc ra các quyết định liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp,
đánh giá hiệu quả tổ chức và lãnh đạo.
- Với chức năng kiểm tra: Kế toán thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt
động kinh tế tài chính, tình hình sử dụng và bảo quản tài sản trong doanh nghiệp,
đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp không bị gián đoạn, đạt được các
mục tiêu đã đề ra, đồng thời tuân thủ pháp luật và sự quản lý của nhà nước.
1.1.3.2. Mục tiêu cơ bản của kế toán:
Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp những thông tin hữu ích (bao gồm
cả những thông tin tài chính và phi tài chính) về hoạt động của doanh nghiệp cho
những người sử dụng bên trong và bên ngoài làm cơ sở ra các quyết định kinh tế.
1.2. Tổng quan về kế toán quản trị
1.2.1. Lược sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị
1.2.1.1. Trên thế giới:
Về sự phát triển của kế toán quản trị, các nhà nghiên cứu về tập quán kinh
doanh đã kết luận rằng ngành dệt ở Mỹ suốt những năm đầu thế kỷ 19 là tiêu biểu
cho thời kỳ chuyển tiếp từ kế toán thương nghiệp sang kế toán công nghiệp, và
đặc trưng là các nhà máy dệt với quy mô lớn. Trước thời điểm này kế toán thuộc
về trách nhiệm các nhà buôn với việc thiết lập rất đơn giản cho các thành phần của
báo cáo tài chính. Tuy nhiên, do bởi công nghiệp dệt phát triển nhanh chóng, cạnh
tranh ngày một khốc liệt hơn ở cả thị trường trong nước lẫn ngoài nước nên các
nhà quản lý cần có những thông tin kế toán rõ ràng, cụ thể hơn so với những thông
tin mà từ trước đến giờ được cung cấp cho các doanh nghiệp nhỏ, mang tính gia
đình.
Hệ thống các nhà máy dệt ở Lowell được các nhà nghiên cứu cho rằng đã áp
dụng kế toán quản trị đầu tiên ở Mỹ, các nhà máy này thuộc những công ty cổ
phần được thành lập bởi một nhóm các thương gia ở Boston năm 1814. Nghiên
5

cứu cho thấy sự tương tác và trao đổi thư từ giữa thủ quỹ, quản lý nhà máy và
giám đốc liên quan đến hoạt động của các nhà máy được mở rộng và chứng minh
bằng tài liệu, chứng từ liên quan - điều này làm nổi bật lên ý nghĩa quan trọng của
những thông tin kế toán.
Mặc dù không có những nhà quản lý phân cấp cho mỗi nhà máy, thay vào đó
là những đốc công sẽ có chức năng như là người đứng đầu và chịu trách nhiệm
quản lý nhà máy về sản lượng sản xuất, chất lượng sản phẩm, nhân sự nhà máy và
giữ sổ sách. Như vậy, thời điểm này những đốc công chính là thành viên quản trị
nồng cốt.
Đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt ở thị trường trong và ngoài nước mà đánh
dấu của nó là sự giảm giá liên tục trên thị trường và sự du nhập những công nghệ
dệt tiên tiến từ nước Anh nên các thông tin tài chính ở các nhà máy cần phải được
tuân thủ và cung cấp thường xuyên cho các cổ đông của công ty. Ví dụ, báo cáo
năm 1867 của Thủ quỹ cho Hội đồng quản trị công ty Lawrence bao gồm chi phí
lao động thường niên cho 4 bộ phận của quy trình sản xuất, tiền lãi cổ tức, tăng
trưởng vốn và chi phí cho việc sửa chữa và tái sinh,…
Theo các nhà nghiên cứu, các thủ tục và hệ thống báo cáo ở các nhà máy dệt
ở Lowell được chuẩn bị rất chi tiết và cung cấp thông tin quan trọng cho việc ra
các quyết định quản lý. Mặc dù vậy, mục đích và tính hữu dụng của các thông tin
chi phí trong thời gian này vẫn còn là một vấn đề không mấy chắc chắn đối với
các nhà nghiên cứu kế toán. Tuy nhiên, việc tồn tại những báo cáo chi phí rõ ràng
cho thấy các nhà quản lý sử dụng chúng trong việc phân bổ nguồn lực và ra các
quyết định dựa trên cơ sở khác biệt chi phí hợp lý, cho dù các báo cáo này còn
thiếu cơ sở để có thể xác định trách nhiệm liên quan đến lãng phí và tiêu hao vượt
định mức cho từng đối tượng cụ thể. Hơn nữa, xét trong bối cảnh kinh tế, công
nghệ và các yếu tố xã hội đương thời thì các báo cáo này đã cung cấp những thông
tin tài chính cần thiết và phát họa một bức tranh toàn cảnh về lãi-lỗ của công ty,
cụ thể:
6

- Báo cáo so sánh chi phí sản xuất: một trong những đặc điểm ấn tượng nhất
cho báo cáo của các nhà máy dệt ở Lowel là so sánh chi phí của các nhà máy ứng
với từng thời kỳ và từng dây chuyền sản xuất. Kết hợp tất cả các yếu tố này có thể
thấy rằng báo cáo so sánh chi phí có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác
nhau. Ví dụ, báo cáo năm 1827 cung cấp chi phí đơn vị và tổng chi phí cho từng
loại vải ở công ty Merricmack Manufacturing (MM), bao gồm các tính toán về
“hao phí” và “hao hụt thực sự” cho mỗi nhà máy, điều này cho thấy chất lượng
của sản phẩm luôn được đo lường một cách thường xuyên và yếu tố cạnh tranh đã
thiết lập nên các chỉ tiêu hao hụt. Báo cáo tổng kết năm 1828 biểu thị được lợi
nhuận cho mỗi nhà máy của MM, bởi vì mỗi nhà máy chỉ sản xuất một công đoạn
và khả năng sinh lời của mỗi công đoạn được xác định một cách rõ ràng. Ví dụ,
báo cáo năm 1830 gồm doanh thu cho từng loại vải; chi phí trực tiếp (sợi bông),
chi phí công đoạn chải, công đoạn xoay, công đoạn dệt; phân bổ chi phí chung và
chi phí sửa chữa; tổng lợi nhuận và chi phí trung bình cho mỗi yard sợi bông tính
cho mỗi nhà máy. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng kế toán chi
phí ở những nhà máy dệt thế kỷ 19 đã tạo được sự phối hợp, kiểm soát và gia tăng
hiệu quả của các quy trình sản xuất nhiều công đoạn, nhưng chưa gắn kết được sự
nỗ lực thực hiện ở mỗi quy trình, mỗi bộ phận gắn với mục tiêu lợi nhuận tổng thể
của công ty.
Tóm lại, báo cáo so sánh chi phí sản xuất trong thời kỳ này là một kỹ thuật
quan trọng khuyến khích việc cắt giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.
- Báo cáo lợi nhuận - chi phí đơn vị: thông tin chi phí chính xác là cần thiết
để duy trì mức lãi gộp hợp lý cho thành phẩm. Ví dụ, các báo cáo năm 1826 bao
gồm việc xác định chi phí cho các quy trình sản xuất và phân bổ chi phí cho các
loại vải có kiểu dáng, chủng loại khác nhau.
Trong một báo cáo mà quản lý nhà máy gửi cho giám đốc đã chứng minh
được chi phí đơn vị có ý nghĩa như thế nào trong việc phân bổ khả năng sản xuất
sản phẩm và quyết định thuê ngoài gia công. Ví dụ, tháng 6 năm 1830, khi nhu
7

cầu thị trường tăng 25%, các nhà quản lý của MM đã đề nghị thuê công ty
Hamiton thực hiện công đoạn tẩy trắng vải cho sản phẩm của họ.
- Các báo cáo chi tiêu khác: một vài báo cáo khác về chi phí cũng đáng được
chú ý. Một báo cáo 1830 chỉ ra các khoản chi vượt mức kế hoạch hàng năm về
tiền thưởng động viên; một báo cáo khác năm 1831 trình bày chênh lệch về sản
lượng khi các khung cửi hoạt động ở cường cao và cường độ trung bình, Tác giả
đã giám sát hoạt động của 80 khung cửi ở cường độ cao trong vòng 3 tuần làm
tăng thêm 3.083 yard so với hoạt động ở cường độ trung bình. Như vậy, việc gắn
kết chi phí với sự khác biệt của sản lượng sản xuất sẽ giúp cho các nhà quản lý
xác định được tác động về mặt tài chính của việc điều chỉnh tiền lương.
Hạn chế của các báo cáo trong thời kỳ này là thiếu chi phí tiêu chuẩn. Một số
nhà quản lý giải thích rằng lý do tại sao chi phí tiêu chuẩn, các chỉ tiêu cụ thể và
tính toán các chênh lệch không được thực hiện trong các nhà máy ở Lowell suốt
thời kỳ này là do hạn chế về kiến thức, sự quá độ liên tục và tốc độ phát triển
nhanh chóng của công nghệ đã ngăn cản việc cung cấp các dữ liệu cho việc thiết
lập các tiêu chuẩn chi phí. Tuy nhiên, các yếu tố như năng suất sản xuất tăng do
việc điều chỉnh tiền lương theo sản phẩm, tăng cường độ của máy móc thiết bị,
xác định rõ trách nhiệm đối với các bộ phận của quy trình và dựa vào thị trường
để định hướng tiến độ sản xuất và thuê mướn lao động là cần thiết cho một hệ
thống chi phí tiêu chuẩn.

Tóm lại, những báo cáo chi phí của các nhà máy ở Lowell được đánh giá là
toàn diện, tính toán chính xác và biểu thị rõ ràng về tính hữu dụng trong quản lý.
Bởi các báo cáo này cung cấp thông tin chí phí hỗ trợ cho việc ra các quyết định
trong nhiều lĩnh vực khác nhau của ban giám đốc, cho dù tư liệu nghiên cứu chưa
đầy đủ đã làm ít nhiều hạn chế hiểu biết về thực tế báo cáo ở các công ty trong
thời kỳ này. Một nhà nghiên cứu nổi tiếng kết luận rằng: những nhà quản lý ở
Lowell “ là những người khởi đầu cho sự phát triển các thủ tục kế toán quản trị”,
những báo cáo và phương pháp xác định chi phí đã đáp ứng một cách đầy đủ cho
8

nhu cầu quản lý các nhà máy ở Lowell, việc thiếu một số báo cáo như báo cáo chi
phí tiêu chuẩn, báo cáo phân tích chênh lệch nên được xem là do hạn chế về kiến
thức hay là một sự phát triển chưa đầy đủ.
Bắt đầu từ ngành dệt, kế toán quản trị được áp dụng rộng rãi ở các ngành
công nghiệp khác. Công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường
sắt vào năm 1840, khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công
việc quản lý ngày càng phức tạp, để có thể kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn
công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo
từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị. Trên cơ sở của hệ thống hạch
toán chi phí, Albert Fink- phó chủ tịch công ty là người đầu tiên tính toán được
chi phí cho 1 tấn/km vận chuyển vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ này.
Trong ngành luyện kim, kế toán quản trị cũng được áp dụng từ rất sớm.
Andrew Carnegie một doanh nhân lớn của thế kỷ XIX đã áp dụng kế toán quản trị
để quản lý doanh nghiệp của mình từ năm 1872. Dựa trên lập luận việc tiêu hao
chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ông đã chia doanh
nghiệp của mình thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán. Carnegie đã kiểm
soát và đánh giá hoạt động của từng bộ phận thông qua các báo cáo sử dụng vật
tư, nhân công hàng tháng. Hơn nữa, việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu
của từng loại sản phẩm cũng được ông thực hiện trong quá trình sản xuất. Kết quả
là Carmegie đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cảnh tranh, phát huy hết
các khả năng sản xuất và đưa ra được giá bán hợp lý.
Kế toán quản trị tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX
mà Pierre du Pont, Donaldson Brown và AlFred Sloan là những người đóng góp
nhiều cho sự phát triển của kế toán quản trị trong giai đoạn này. Để có thể dễ dàng
kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, Du Pont chia công ty
thành các bộ phận nhỏ và thay đổi từ mô hình quản lý tập trung sang mô hình
quản trị phân quyền. Trong mô hình quản trị mới, mỗi bộ phận sẽ do một nhà
quản trị đứng đầu chịu trách nhiệm quản lý và điều hành. Các bộ phận và các
9

phòng ban trong công ty được giao quyền tự chủ, tự ra quyết định và tự chịu trách
nhiệm trong định giá, liên kết sản xuất, tìm kiếm khách hàng, thiết kế sản phẩm,
mua vật tư và điều hành quá trình sản xuất. Nhờ áp dụng cơ chế phân quyền, công
ty tạo điều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và sự chủ động sáng
tạo của họ trong điều kiện được trực tiếp tiếp cận với thông tin do kế toán quản trị
cung cấp để ra các quyết định phù hợp và kịp thời, tăng khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường.
Nghiên cứu sự phát triển của kế toán quản trị cho thấy, kế toán quản trị hình
thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp. Môi
trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát
triển thị trường, giảm chi phí nâng cao lợi nhuận. Kế toán quản trị là công cụ hữu
hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả
hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và
hiệu quả.
1.2.1.2. Ở nước ta:
* Giai đoạn trước năm 1995:
Trong suốt thời gian này hệ thống kế toán Việt nam chỉ nhằm điều chỉnh
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Các báo cáo chủ yếu phục vụ cho công
tác điều hành, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên, tuy nhiên cũng đòi hỏi chi
tiết, cụ thể như chi phí sản xuất theo yếu tố, giá thành theo khoản mục, các yếu tố
làm tăng giảm giá thành,…các báo cáo giai đoạn này cũng có một số nội dung
tương đồng với các báo cáo kế toán quản trị hiện nay. Tóm lại, có thể nói trong
giai này về mặt hình thức kế toán quản trị có những biểu hiện nhất định, nhưng về
mặt bản chất thì chưa thể gọi là kế toán quản trị vì các báo cáo không phục trực
tiếp cho các nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp.
* Giai đoạn từ 1996 đến nay:
Từ ngày 01/01/1996, chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 1141/QĐ-
BTC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính có hiệu lực và áp dụng thống nhất trong
10

cả nước, với những quy định đầy đủ về hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài
khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Hệ thống
chứng từ kế toán gồm 2 loại: chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn, cho phép
doanh nghiệp tự thiết kế, thay đổi một số chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với
yêu cầu quản lý khác nhau ở mỗi doanh nghiệp. Hệ thống tài khoản với những
quy định trong việc hướng dẫn thiết lập các tài khoản cấp 2, 3 để theo dõi chi tiết
doanh thu, chi phí và các loại tài sản khác nhau. Hệ thống sổ sách kế toán với việc
quy định mở sổ chi tiết theo dõi các đối tượng kế toán phức tạp và nhiều biến
động để có thể ghi lại số liệu quá khứ của doanh nghiệp một cách đầy đủ theo thời
gian. Như vậy, nội dung của chế độ kế toán ban hành theo Quyết định 1141/QĐ-
BTC có những biểu hiện khá rõ nét của kế toán quản trị.
Nhận thức sự cần thiết của thông tin kế toán quản trị trong hệ thống thông tin
của doanh nghiệp tăng dần theo từng bước đổi mới của nền kinh tế. Tuy nhiên,
tiếp cận và vận dụng kế toán quản trị chỉ bắt đầu khi có sự gia tăng cả về số lượng
và chất lượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà đặc biệt là các
công ty đa quốc gia.
Cùng với sự vận động tất yếu của nền kinh tế, nhận thức được vai trò của kế
toán quản trị trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý doanh nghiệp,
Luật kế toán được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp
thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 đã có
những quy định về kế toán quản trị như:
- Tại điều 4 khoản 3 định nghĩa “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết
định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
- Tại điều 10 khoản 1 quy định “Kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài
chính và kế toán quản trị”.
Như vậy, đây là lần đầu tiên trong hệ thống Luật điều chỉnh về hoạt động kế
toán ở Việt Nam đề cập đến kế toán quản trị, những quy định này tuy chưa đầy đủ,
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét