Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
sự nhưng đều mới dừng ở mức độ xử lý hành chính và chế tài chưa đủ sức
răn đe. Các chứng cứ pháp lý dưới dạng số hóa, điện tử cũng cần phải được
nghiên cứu, bổ sung. Việc phòng chống tội phạm ICT rất cần sự phối hợp của
nhiều quốc gia khác nhau và nền tảng luật pháp phải có sự tương thích đặc
biệt là nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trong tiến
trình ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Hiện nay, luật pháp
của Việt Nam về tội phạm ICT còn có cách biệt so với nhiều nước. Những
hạn chế này gây khó khăn cho chúng ta phối hợp với các quốc gia khác trong
phòng chống tội phạm và là những điểm yếu dễ bị tội phạm lợi dụng.
Xuất phát từ những nhận định ban đầu như trên, việc thực hiện chuyên
đề “Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan
đến tội phạm công nghệ thông tin và truyền thông” trong đó tập trung vào
phần các tội danh, chứng cứ trong Bộ Luật hình sự và Tố tụng hình sự là rất
cần thiết, góp phần cập nhật, cụ thể hóa môi trường pháp lý có liên quan tới
các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền
thông, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nói
chung cũng như trong lĩnh vực khoa học và công nghệ của nước nhà theo
hướng phù hợp với luật pháp quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới.
II. Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT/CNTT) đã và đang phát
triển rất mạnh mẽ, liên tục, thâm nhập sâu rộng vào mọi mặt hoạt
động kinh tế, xã hội.
Máy tính điện tử và mạng viễn thông là thành phần cơ bản của CNTT.
Hơn nửa thập kỷ qua, máy tính và viễn thông đã có nhiều bước phát triển
đột phá, tạo cơ sở cho ứng dụng CNTT trở nên sâu rộng trong nhiều lĩnh
vực. Những mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời và phát triển của máy tính
điện tử bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ XX. Máy tính điện tử bắt đầu
xuất hiện từ năm 1946 và thế hệ thứ nhất, thứ hai được sản xuất hàng loạt
trong thập kỷ tiếp theo, chủ yếu được ứng dụng trong tính toán khoa học -
kỹ thuật. Các máy tính điện tử thế hệ thứ ba với kỹ thuật mạch tích hợp và
các bộ nhớ bán dẫn ra đời giữa thập kỷ 60, được sử dụng nhiều trong các
trung tâm tính toán lớn và phạm vi ứng dụng đã mở rộng trong hoạt động
Trang 5
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
kinh doanh, quản lý kinh tế. Cuối những năm 60, đầu những năm 70 bắt đầu
có các mạng máy tính kết nối các trung tâm tính toán và năm 1969 mạng
máy tính ARPANET thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ - có thể được coi là tiền
thân của mạng Internet ngày nay - xuất hiện. Giữa thập kỷ 70, các bộ vi xử
lý (micro-processor) ra đời. Đây là tập hợp các linh kiện thực hiện chức
năng của cả bộ xử lý trung tâm của một máy tính điện tử được chứa trong
một "chip" bán dẫn có diện tích khoảng 1-2cm
2
. Kỹ thuật vi xử lý khởi đầu
một cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin, tạo cơ sở cho sự ra đời của
máy tính cá nhân vào đầu thập kỷ 80. Từ đó đến nay, máy tính cá nhân với
năng lực ngày càng cao, chức năng ngày càng phong phú, giá ngày càng rẻ
đã và đang thâm nhập khắp mọi nơi trên thế giới và được sử dụng trong mọi
lĩnh vực hoạt động của con người. Cùng với sự phát triển bùng nổ của các
mạng viễn thông truyền dữ liệu quốc gia và quốc tế trên cơ sở kỹ thuật
máy tính điện tử và kỹ thuật viễn thông hiện đại, nhiều hệ thống "siêu xa
lộ thông tin" ở các cấp độ khác nhau đã được hình thành ở nhiều quốc
gia, khu vực và toàn cầu.
Năng lực tính toán của máy tính tăng lên nhanh chóng. Từ năm 1965,
theo dự báo của Gordon E. Moore, người đồng sáng lập ra công ty Intel,
số lượng bóng bán dẫn (transitor) được tích hợp trong mỗi 1 inch vuông
sẽ tăng lên gấp đôi trong khoảng thời gian 18 tháng (thường được gọi là
Quy luật Moore) và chi phí cho tính toán giảm khoảng 25% mỗi năm.
Các bộ vi xử lý ngày càng có mật độ tích hợp bán dẫn cao hơn, có nhiều
chức năng hơn, kích thước nhỏ hơn, dễ sử dụng hơn, chi phí ngày càng
giảm và chúng có thể xuất hiện ở rất nhiều nơi. Máy tính điện tử ENIAC,
ra đời ngày 15/2/1946 tại đại học Pennsylvania (Hoa Kỳ), có thể thực
hiện khoảng 5000 phép tính cộng, trừ đơn giản trong mỗi giây. ENIAC
chứa hơn 17.000 đèn điện tử chân không, công suất khoảng 150 kW,
chiếm diện tích khoảng 167 m2, nặng 27 tấn và trị giá 500.000 đô la Mỹ
tại thời điểm đó.
Ngày nay, hệ thống Blue Gene/L của công ty IBM được cài đặt trong
Phòng thí nghiệm Lawrence Livermore (Hoa Kỳ) là siêu máy tính mạnh
nhất trên thế giới. Tốc độ xử lý tối đa của Blue Gene/L lên tới hơn 280
teraflop, tức là hơn 280 nghìn tỷ phép tính mỗi giây. Cùng với sự gia tăng về
Trang 6
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
năng lực tính toán, dung lượng bộ nhớ và các thiết bị lưu trữ của máy tính
cũng tăng với tốc độ tương tự. Máy tính điện tử đã góp phần làm cho nhiều
lĩnh vực hội tụ với nhau, nó không chỉ là thiết bị tính toán thuần túy mà đã
được ứng dụng hết sức rộng rãi trong mọi mặt của đời sống xã hội. Theo
đánh giá sơ bộ, hiện nay thế giới có gần 600 triệu máy tính đang được sử
dụng. Lượng máy tính cá nhân trên toàn cầu sẽ tăng gấp đôi, dự kiến đạt
khoảng 1,3 tỷ chiếc vào năm 2010.
Hình 1. Xu hướng gia tăng năng lực xử lý, tốc độ truyền dẫn và dung lượng lưu trữ
Máy tính điện tử ra đời đã có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu
khoa học, hoạt động kinh doanh, quản lý. Tuy nhiên, chỉ khi các máy tính được
kết nối với nhau thành mạng, liên mạng, hình thành các “siêu xa lộ thông tin”
dựa trên hạ tầng truyền dẫn với công nghệ hiện đại thì công nghệ thông tin mới
thực sự thể hiện rõ vai trò động lực cho sự phát triển của xã hội loài người. Có
thể hiểu mạng máy tính là tập hợp các máy tính, thiết bị công nghệ thông tin
được kết nối với nhau thông qua môi trường truyền dẫn theo các quy tắc trao
đổi dữ liệu (giao thức) nhất định. Mạng ARPANET xuất hiện năm 1969 có thể
coi là mạng máy tính đầu tiên trên thế giới. Cuối năm 1968, các máy tính của 4
trường Đại học Hoa Kỳ đã được liên kết thành một mạng ARPANET. Đến năm
1981 đã có khoảng 200 máy tính liên kết vào ARPANET. Bắt đầu từ năm 1970,
nhóm nghiên cứu thuộc một số trường đại học Hoa Kỳ đã phát triển bộ giao
thức điều khiển truyền thông, giao thức liên mạng (TCP/IP) và năm 1983
Trang 7
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
TCP/IP chính thức được sử dụng trên ARPANET. Công nghệ cho mạng cục bộ
(LAN) ra đời trong năm 1970 và bộ giao thức TCP/IP là những tác nhân quan
trọng thúc đẩy việc phát triển các mạng cục bộ. Từ năm 1982, việc truy nhập
vào ARPANET hoàn toàn miễn phí, tên gọi Internet bắt đầu xuất hiện. Năm
1986, đã có hơn 5000 máy tính kết nối vào ARPANET. Không chỉ các trường
đại học và viện nghiên cứu mà các doanh nghiệp và các cơ quan của Chính phủ
cũng xây dựng mạng cục bộ và tổ chức kết nối Internet. Sự phát triển mạnh mẽ
của Internet diễn ra từ ngay những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX, thuật
ngữ ARPANET không còn được sử dụng nữa và Internet trở thành tên gọi
chính thức.
Cùng với những thành tựu về công nghệ mạng và đặc biệt là sự xuất hiện
World Wide Web vào cuối năm 1991, Internet bắt đầu được dùng cho mục đích
thương mại và với khoảng 1.000.000 người sử dụng. Internet sau khi ra đời đã
được phổ biến nhanh chóng. Để đạt mức 50 triệu người sử dụng, điện thoại mất
74 năm, radio mất 38 năm, máy tính cá nhân mất 16 năm, máy truyền hình mất
13 năm, còn Internet chỉ mất có 4 năm. Năm 2006, toàn thế giới ước tính có
hơn 1 tỷ người dùng, chiếm gần 16% dân số.
Cuối năm 1996, hơn 200 trường đại học của Hoa Kỳ cùng với một số cơ
quan Chính phủ, trung tâm nghiên cứu, các công ty lớn, đối tác trong nước và
quốc tế đã nghiên cứu triển khai thí điểm thế hệ Internet 2 với nhiều công nghệ
và ứng dụng mới. Mục tiêu chính của Internet 2 nhằm gia tăng tốc độ xử lý,
truyền tải dữ liệu, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu các ứng dụng
đa phương tiện (multimedia) trong các phòng thí nghiệm ảo, thư viện điện tử,
chẩn đoán y học từ xa. Qua thử nghiệm bước đầu trao đổi dữ liệu giữa Geneva,
Thụy Sỹ và California, Hoa Kỳ, Internet 2 có thể truyền tải với tốc độ gần 7
gigabits/giây, nhanh hơn tốc độ Internet phổ biến hiện nay hàng nghìn lần. Gần
đây, công nghệ web thế hệ 2 trên Interrnet xuất hiện. Đặc trưng quan trọng nhất
của công nghệ này cho phép người khai thác dịch vụ web có thể tùy biến theo
yêu cầu, sở thích cá nhân khi tham gia vào cộng đồng trực tuyến và tính năng
của các ứng dụng web không khác biệt nhiều với tính năng của các phần mềm
ứng dụng chạy trên máy đơn lẻ. Công nghệ web thế hệ 2 tạo ra “các trang web
của riêng mình” đang làm thay đổi phương thức thu thập, phân phối, xử lý
thông tin, phá vỡ các mô hình quản lý, kinh doanh trước đây; nhiều phần mềm
Trang 8
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
nổi tiếng, có thị phần lớn đang bị lấn át bởi khả năng của người khai thác
Internet có thể xây dựng rất nhanh chóng các chương trình phần mềm nhỏ có
khả năng tùy biến. Hàng triệu người trên thế giới hiện nay đã tạo nên các cộng
đồng trực tuyến để trao đổi, chia sẻ thông tin, thảo luận những vấn đề cùng
quan tâm.
Vai trò của CNTT đối với phát triển xã hội loài người vô cùng quan
trọng, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bền vững,
mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá, phát
triển xã hội. Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương
tiện quan trọng để quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức – động lực của sự phát
triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực con người
CNTT phát triển đặc biệt nhanh chóng tạo đà cho thông tin và tri thức
bùng nổ và đó chính là nguồn gốc của những thay đổi sâu sắc hiện nay trong xã
hội loài người. CNTT được ứng dụng rộng rãi đã thúc đẩy nhanh chóng các
hoạt động thông tin trong mọi lĩnh vực, các hoạt động đó ngày càng tạo thêm
nhiều giá trị gia tăng trong các khu vực kinh tế, làm cho thông tin trở thành một
nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, “khu vực kinh tế thông tin"
ngày càng trở thành khu vực năng động nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong nhiều
nền kinh tế trên thế giới. Ở những nước phát triển, đóng góp của khu vực kinh
tế thông tin chiếm trên 50% GDP. Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT nhiều
ngành nghề mới, việc làm mới được tạo ra, nhất là trong các lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm, mặc dù sản
lượng nông nghiệp không ngừng tăng. Phát triển mạnh nhất là các ngành dịch
vụ giá trị gia tăng cao. Khu vực sản xuất vật chất không còn là khu vực sản xuất
chính nữa, khu vực dịch vụ ngày càng trở thành chủ yếu, bởi khu vực này tạo ra
giá trị gia tăng nhiều nhất, dựa vào xử lý thông tin và tạo ra thông tin và tri
thức.
Trang 9
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
Hình 2. Mức độ sử dụng Internet trên toàn thế giới
Hình 3. Số người sử dụng Internet trên toàn thế giới được phân chia theo khu vực
Trong nền kinh tế mới, giá trị gia tăng được tạo ra bởi những yếu tố vô
hình như bí quyết, sáng chế, phát minh, thiết kế mẫu mã, tiếp thị, dịch vụ tài
chính, quản trị kinh doanh Giá trị gia tăng của các yếu tố đầu vào là nguyên
liệu năng lượng ngày càng giảm đi. Hiện nay, giá trị của các tài sản vật chất của
các công ty ở nhiều nước phát triển chỉ còn chiếm khoảng 20% giá trị của công
ty. Nhờ ứng dụng CNTT trong tổ chức sản xuất và quản lý, năng suất lao động
không ngừng tăng. Theo phân tích của cơ quan thống kê Phần Lan, năng suất
lao động của các nước OECD trong hai thập kỷ qua đã tăng gấp đôi, riêng Phần
Lan tăng gấp ba lần. CNTT góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu lao động
Trang 10
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
xã hội. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai ở các nước phát triển nông dân
chiếm đa số. Ngày nay, số nông dân ở những quốc gia này chỉ còn khoảng 1/10
so với trước đây 80 năm. Nông dân sản xuất chỉ chiếm 2% lực lượng lao động
và trở thành những nhà "kinh doanh nông nghiệp". Số lượng “công nhân áo
xanh” giảm đi, “công nhân áo trắng” tăng lên và đặc biệt là tăng nhanh công
nhân tri thức. Trong ngành chế tạo máy ở Hoa Kỳ, “công nhân áo xanh” năm
1950 chiếm 35%, năm 1960 30%, năm 1980 20% và hiện nay dưới 15%. Tính
chung ở các nước phát triển “công nhân áo xanh” trong công nghiệp chỉ còn
không quá 20%, công nhân tri thức chiếm hơn 40%.
CNTT là nhân tố quan trọng đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá. Mạng
Internet làm cho thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé và gắn kết hơn. Tri thức và
thông tin không biên giới, các luồng giao lưu hàng hoá, dịch vụ thương mại,
đầu tư, tài chính, công nghệ, nhân lực v.v gia tăng mạnh mẽ, vượt khỏi quy
mô quốc gia vươn tới quy mô quốc tế. Các thị trường phạm vi toàn cầu và khu
vực, các cơ chế điều tiết quốc tế quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế
quốc tế được hình thành và phát triển rất nhanh chóng.
Chính phủ điện tử (CPĐT) (e-government) là chiến lược chủ chốt cho xã
hội thông tin và nhiều quốc gia đã coi đây là một trong những nhân tố quan
trọng nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của mình. Mục đích cơ bản của
Chính phủ điện tử là cung cấp thông tin, các dịch vụ công hướng tới người dân,
các doanh nghiệp ở mọi nơi, mọi lúc. Ứng dụng CPĐT hỗ trợ giảm tham nhũng,
giảm chi phí, tăng cường tính minh bạch, hiệu quả đối với hoạt động của các cơ
quan nhà nước. Mạng thông tin kết nối các cơ quan quản lý với đối tượng quản
lý giúp cho quá trình ra quyết định được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và
chính xác. Hoa Kỳ, Đan Mạch, Singapore, Hàn Quốc là những quốc gia triển
khai rất thành công mô hình Chính phủ điện tử.
Giáo dục, đào tạo, học tập từ xa giúp nâng cao chất lượng các chương
trình giảng dạy và học tập, giúp cho mọi người có thể học tập suốt đời, phát
triển kỹ năng liên tục, thích ứng với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa
học công nghệ. Mô hình giáo dục truyền thống đào tạo - ra làm việc đang
chuyển sang mô hình đào tạo suốt đời, đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục
đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc. Nhờ có mạng Internet, hình thức giáo dục,
Trang 11
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
đào tạo, học tập từ xa qua mạng rất phát triển. Mạng máy tính đã đem đến cơ
hội kết nối những người học với các nguồn thông tin phong phú, vô tận phân bố
khắp nơi trên thế giới. Cùng với máy tính, các thiết bị điện tử cầm tay như các
thiết bị số hóa hỗ trợ cá nhân (PDA), điện thoại di động, thông qua các kết nối
mạng, đặc biệt là mạng không dây (wireless), cho phép mọi người có thể học
tập thường xuyên, suốt đời, nâng cao kiến thức, kỹ năng ở mọi nơi, mọi lúc.
Trường đại học “ảo” ở châu Phi (AVU) là tổ chức giáo dục theo hướng đổi mới.
Mục tiêu chính của đại học này là tạo ra môi trường đào tạo và huấn luyện đạt
tiêu chuẩn quốc tế cho sinh viên và chuyên gia. Sau giai đoạn hoạt động thí
điểm thành công, hiện nay đại học này đã thiết lập 57 trung tâm đào tạo đặt tại
27 quốc gia châu Phi. Tại Hoa Kỳ, đầu năm 2001 Viện Công nghệ
Massachusetts (MIT) quyết định thực hiện dự án có tên "Tư liệu khóa học mở"
(OCW). Dự án có nhiệm vụ đưa lên Internet toàn bộ những tư liệu học tập của
khoảng 2.000 môn học ở MIT để mọi người trên toàn thế giới có thể học hỏi và
tham khảo qua truy cập miễn phí, kho tài liệu khổng lồ này. Ngoài việc cung
cấp tài liệu, MIT hy vọng dự án "Tư liệu khóa học mở" sẽ tạo ra một sự biến
chuyển về phương pháp học tập, giảng dạy trong cộng đồng giáo dục. "Tư liệu
khóa học mở" đã thu hút học viên của hàng trăm quốc gia và lãnh thổ truy cập.
Không chỉ sinh viên, mà còn rất nhiều giảng viên của các đại học khác trên thế
giới có thể vào đây để tự học tập thêm và tìm tư liệu hỗ trợ cho công tác giảng
dạy. Cho đến nay, tư liệu của 1200 môn học trong hơn 30 lĩnh vực và ngành
nghề khác nhau đã được cập nhật.
Y học là một trong những lĩnh vực mà công nghệ thông tin được ứng
dụng rất rộng rãi. Công nghệ thông tin đã mang lại hiệu quả thiết thực trong
nghiên cứu, quản lý và hoạt động chuyên môn. Dịch vụ chǎm sóc sức khỏe có
ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm chẩn đoán, điều trị, cung cấp thuốc, tư
vấn, dự phòng, phục hồi, bảo hiểm “Hội chẩn từ xa”, “chữa bệnh trên mạng”
đang được ứng dụng phổ biến, tạo điều kiện khai thác tri thức của các chuyên
gia giỏi trong nước và quốc tế chẩn đoán và điều trị bệnh nhân vùng sâu, vùng
xa, không có điều kiện tiếp cận với các trung tâm y tế. Trung tâm tư vấn sức
khỏe từ xa KUCTT của đại học Kansas (Hoa Kỳ) là một trong những trung tâm
dịch vụ và nghiên cứu về sức khỏe con người có chương trình hoạt động hiệu
quả nhất thế giới. Thành lập từ năm 1991 được kết nối mạng tới cộng đồng dân
Trang 12
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
cư miền tây Kansas, ngày nay Trung tâm đã có 60 kết nối tới toàn tiểu bang và
đã thực hiện tư vấn lâm sàng cho hơn 13.000 trường hợp với 60 chuyên ngành
khác nhau.
Thương mại điện tử (e-commerce) là một trong những bước nhảy vọt
trong ứng dụng Interrnet. Có thể coi thương mại điện tử là các hoạt động
thương mại được thực hiện thông qua Internet. Lợi ích mang lại của thương mại
điện tử là khả năng sẵn sàng phục vụ cao, góp phần giảm bớt các khâu trung
gian, tiết kiệm thời gian, chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ trong kinh doanh.
Thương mại điện tử được coi là động lực phát triển chủ yếu của nhiều nền kinh
tế. Theo ước tính, doanh số thương mại điện tử thế giới năm 2005 đạt gần 700 tỉ
USD và dự báo hơn 1.000 tỉ USD vào năm 2012. Năm 2005, doanh số thương
mại điện tử tại Mỹ tăng gần 30%, du lịch trực tuyến chiếm tới 1/3. Tại Pháp
doanh số thương mại điện tử năm 2005 đạt khoảng 3 tỷ euro, tăng 40%, trong
đó du lịch trực tuyến chiếm tới 45%. Hơn 60% vé máy bay tại Mỹ được bán
qua Internet và tại châu Âu là hơn 20%. Là mạng thương mại điện tử hàng đầu
thế giới, hàng hóa eBay rao bán trên mạng được chuyển thẳng từ người bán đến
người mua không qua các khâu trung gian. eBay hiện nay có khoảng 150 triệu
khách hàng trên khắp thế giới, 5 triệu đồ vật thuộc hơn 50.000 lĩnh vực được
giao bán và mức giao dịch năm 2005 đạt hơn 40 tỷ USD. Nhờ sử dụng CNTT
và internet các ngành sản xuất, lắp ráp ô tô giảm chi phí từ 8 - 12%, ngành xây
dựng giảm 7- 10% chi phí sản xuất.
Công nghệ thông tin có ứng dụng rộng rãi đối với hoạt động quản lý, bảo
vệ môi trường. Công nghệ thông tin giúp thu thập, xử lý số liệu, hỗ trợ cảnh
báo, điều tiết môi trường; đưa ra giải pháp xử lý các thảm họa môi trường, lạm
dụng nguồn tài nguyên quý hiếm. Năm 1998, chương trình kết nối mạng phục
vụ phát triển bền vững của Liên hiệp quốc và Liên minh các quốc đảo đã xây
dựng hệ thống mạng liên thông giữa 43 quốc đảo đáp ứng các nhu cầu liên quan
đến các vấn đề đa dạng sinh học, môi trường biển, thay đổi khí hậu. Hàng
tháng, website của hệ thống mạng có khoảng 300.000 lượt truy cập từ hơn 100
quốc gia. Hệ thống đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức, ý thức
bảo vệ môi trường đối với các quốc đảo này.
Trang 13
Chuyên đề: Góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến tội phạm ICT
An ninh, quốc phòng cũng có những thay đổi cơ bản do tác động của
CNTT. CNTT đã tạo ra những thế hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh "thông
minh"; từ đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, làm
thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia. Quân đội được trang bị
đầy đủ, yểm trợ tối đa, toàn diện. Thông tin về chiến trường, về đối phương
được các thiết bị như vệ tinh viễn thông, radar gửi về tức thời, đầy đủ qua các
trang bị của người lính. Vũ khí được gắn thiết bị điện tử, có khả năng nhận
dạng đối tượng, thu thập, phân tích, xử lý thông tin với độ chính xác cao, nâng
cao hiệu quả tác chiến. Quân phục “thông minh”, ngoài chức năng bảo vệ cơ
thể người lính còn có thể tự thông báo về vị trí tác chiến, tình trạng sức khỏe,
nhận dạng chiến trường CNTT đang hứa hẹn những khả năng ứng dụng vô
tận.
*
* *
Cho đến nay, ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và
nhiều tổ chức chính trị - xã hội đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, góp phần đổi
mới lề lối làm việc, cải cách nền hành chính. Năm 2002, Ban Bí thư Trung
ương Đảng ban hành Đề án tin học hóa hoạt động cơ quan Đảng giai đoạn
2001-2005 (gọi tắt là Đề án 47). Mục tiêu chung của Đề án 47 được xác định là
“Đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống thông tin
điện tử của Đảng”. Đề án 47 có sự chỉ đạo chặt chẽ và thống nhất trong toàn
Đảng, được triển khai tích cực, đạt được những kết quả cụ thể, đã thực hiện
được những mục tiêu cơ bản và sẽ hoàn thành toàn bộ Đề án trong năm 2006.
Việc triển khai có hiệu quả Đề án 47 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng
hạ tầng công nghệ, đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng của cán bộ Đảng
trong việc ứng dụng CNTT phục vụ sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, bước đầu
hình thành một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung rất cơ bản
cho toàn hệ thống cơ quan Đảng, góp phần đổi mới lề lối làm việc, từng bước
đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan
Đảng. Việc triển khai Đề án 47 đã giúp cho Trung ương Đảng, các cấp uỷ Đảng
có cơ sở chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng và trong toàn xã
hội.
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét