Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Điều hành doanh nghiệp tác động đến giá trị doanh nghiệp như thế nào Trường hợp ở Việt Nam





2.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 43
2.6.1 Dữ liệu 43
2.6.2 Phân tích thực nghiệm 43
2.6.3 Tổng kết kết quả và hướng nghiên cứu trong tương lai 50
Chương 3: Những kiến nghị giải pháp của đề tài 52
3.1. Những vấn đề liên quan đến cổ đông 52
3.1.1. Những biện pháp giúp cổ đông tự bảo vệ mình 52
3.1.2. Những đề xuất khác đối với công ty 53
3.2. Những vấn đề liên quan đến ban quản trị và ban điều hành 54
3.2.1. Những đề xuất về thành viên độc lập 54
3.2.2. Những kiến nghị liên quan đến ban quản trị, ban điều hành và ban kiểm soát55
3.3. Những vấn đề về minh bạch thông tin 56
3.3.1. Những vấn đề liên quan đến giao dịch và những người liên quan 57
3.3.2. Những kiến nghị để hạn chế những rủi ro do giao dịch với bên liên quan gây
ra: 58
3.3.3. Những kiến nghị về minh bạch và công bố thông tin ngoài những điều đã quy
định trong luật: 58

Kết Luận 59
Phụ lục
Bảng phụ lục A: Các nhân tố hình thành chỉ số cấu thành nên chỉ số điều hành doanh
nghiệp i
Bảng phụ lục B: Danh sách doanh nghiệp ii
Phụ lục C: Mục lục quy chế quản trị doanh nghiệp và tóm tắt nội dung quy chế quản
trị công iii
Phụ lục D: Bài viết đánh giá về thông tư số 09/2010/TT-BTC hướng dẫn về công bố
thông tin viii
Tài liệu tham khảo
1



Lời mở đầu

Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu
Điều hành doanh nghiệp đã trở thành đề tài quan trọng trong những năm gần
đây. Những người điều hành, chủ sở hữu và những người quản lý doanh nghiệp tin
tưởng rằng sẽ có rất nhiều lợi ích khi doanh nghiệp có mô hình đi ều hành doanh
nghiệp tốt. Điều hành doanh nghiệp tốt sẽ dẫn đến sự gia tăng trong giá cổ phiếu và sẽ
giúp doanh nghiệp sẽ tiếp cận với nhiều vốn đầu tư hơn. Những nhà đầu tư nước ngoài
thường rất lo ngại khi đầu tư và mua cổ phiếu của những doanh nghiệp không có
những nguyên tắc điều hành doanh nghiệp tốt. Ngoài ra trước những cuộc sụp đổ của
những doanh nghiệp lớn trên thế giới như Enron, Wroldcom, Tyco và những doanh
nghiệp khác đều là những minh chứng cho sự mất mát cho cổ đông và buộc thế giới
phải có những cái nhìn đúng đ ắn hơn về điều hành doanh nghiệp. Và từ đó nhiều tổ
chức trên thế giới đã đưa ra những nguyên tắc điều hành doanh nghiệp.
Gần đây, trên thế giới đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu về vấn đề quản trị
doanh nghiệp và đã đưa ra những minh chứng xác đáng về tầm quan trọng của vấn đề
này đến gía trị doanh nghiệp. Còn ở Việt Nam vấn đề điều hành doanh nghiệp vẫn là
vấn đề khá mới và chưa được chú trọng đúng mức. Thể hiện là còn nhiều bất cập trong
luật cũng như trong điều lệ của doanh nghiệp. Xuất phát từ lý do trên, đ ề tài đã thực
hiện cuộc nghiên cứu nhỏ tại thị trường ở Việt Nam. Và cũng mong mu ốn tìm ra
những minh chứng chứng minh cho mức ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của điều
hành doanh nghiệp đến doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Để tìm ra tầm quan trọng của điều hành doanh nghiệp đến giá trị doanh nghiệp, trước
hết đề tài chọn ra hai chỉ số lần lượt đại diện cho điều hành doanh nghiệp là chỉ số CGI
và giá trị doanh nghiệp là chỉ số PBV( giá trị thị trường/giá trị sổ sách), sau đó đề tài
sẽ chạy mô hình hồi qui giữa chỉ số PBV và CGI trong đó PBV là biến phụ thuộc và
CGI là biến giải thích. Trong đó chỉ số CGI được hình thành từ bảng câu hỏi khảo sát
về tình hình điều hành doanh nghiệp, bảng câu hỏi khảo sát này dựa vào những tiêu
chuẩn cơ bản về điều hành doanh nghiệp của trong cuốn sách OECD về tiêu chuẩn
điều hành doanh nghiệp.
2



Ngoài việc chạy mô hình giữa chỉ số PBV và CGI để tìm hiểu xem một mô hình điều
hành doanh nghiệp tốt có tạo ra một giá trị cao hơn cho doanh nghiệp hay không thì đề
tài còn chạy mô hình hồi quy giữa PBV và những bộ phận cấu thành nên chỉ số điều
hành doanh nghiệp là chỉ số cổ đông và sở hữu, minh bạch và công bố thông tin, hội
đồng quản trị và ban điều hành. Từ đó đề tài sẽ đánh giá lần lượt xem một doanh
nghiệp được đánh giá tốt trong cơ cấu cổ đông và sở hữu, minh bạch và công bố thông
tin, hội đồng quản trị và ban điều hành có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp
hay không.
Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận, trình bày những nguyên tắc về điều hành doanh nghiệp mà
đề tài sử dụng làm cơ sở.
Chương 2: Đưa ra những kết quả thực nghiêm trên thế giới và đưa ra kết quả của bài
nghiên cứu ở Thế Giới và Việt Nam.
Chương 3: Đưa ra những kiến nghị giải pháp và hướng đi của đề tài.
Đóng góp của đề tài
Đề tài được ra đời trong bối cảnh các doanh nghiệp phải trãi qua những cơn khủng
hoảng tài chính trong những gần đây đã gây ra tổn thất lớn cho các cổ đông , ngoài ra
đa số các nhà đầu tư vẫn chưa thực sự hiểu biết về lĩnh vực đầu tư cổ phiếu và vấn đề
điều hành doanh nghiệp đây cũng là nguyên nhân làm cho các cổ đông bị thiệt hại khi
đầu tư vào một doanh nghiệp mà cổ phiếu bị mất giá.
Với kết quả nghiên cứu được trong đề tài này đề tài hi vọng sẽ cho thấy được tầm quan
trọng của điều hành doanh nghiệp đến giá trị doanh nghiệp, không chỉ những người
điều hành doanh nghiệp cần quan tâm đến vấn đề này để có thể xây dựng một mô
hình điều hành doanh nghiệp tốt để có thể vừa tối đa hoá giá trị của cổ đông mà còn có
thể tăng giá trị của doanh nghiệp mà chính những người đầu tư cũng cần phải tìm hiểu
về vấn đề điều hành doanh nghiệp để có những quyết định đầu tư hiệu quả hơn.
Hướng phát triển của đề tài
Trong tương lai khi những hạn chế của thị trường được khắc phục, thông tin
được minh bạch và đầy đủ hơn và đặc biệt vấn đề điều hành doanh được chú trọng hơn
thì tôi sẽ chọn được nhiều doanh nghiệp hơn để khảo sát, có thể thu thập được nhiều
thông tin để chỉ số điều hành doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn tình hì nh điều
3



hành doanh nghiệp của doanh nghiệp, và cuối cùng có thể tìm được mối tương quan
với mức ý nghĩa cao giữa chỉ số điều hành doanh nghiệp và những biến số khác như tỷ
suất sinh lợi, chỉ số P/S (giá thị trường/doanh số), mức chia cổ tức cho cổ đông, chi phí
sử dụng vốn…
4



Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Định nghĩa về điều hành doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Điều hành doanh nghiệp (Corporate governance).
Một số định nghĩa về điều hành doanh nghiệp như sau:
- "Điều hành doanh nghiệp là một lĩnh vực kinh doanh học nghiên cứu cách thức
khuyến khích quá trình quản trị kinh doanh hiệu quả trong các doanh nghiệp cổ phần
bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, cấu trúc tổ chức và quy chế - quy tắc.
Điều hành doanh nghiệp thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất
tài chính, chẳng hạn, những cách thức nào mà người chủ sở hữu doanh nghiệp khuyến
khích các giám đốc của họ sử dụng để đem lại hiệu suất đầu tư cao hơn". Trích dẫn từ
cuốn “Managerial Ownership and Financial Performance” của Mathiesen (2002).
- Điều hành doanh nghiệp là cách thức mà các nhà cung cấp nguồn vốn cho doanh
nghiệp, nhà đầu tư đảm bảo thu được lợi tức từ các khoản đầu tư của họ." Trích dẫn từ
cuốn “A Survey of Corporate Governance” của Shleifer, Andrei, Vishny, R., (1997).
- Điều hành doanh nghiệp là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát
các doanh nghiệp. Cấu trúc Điều hành doanh nghiệp chỉ ra cách thức phân phối quyền
và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp cổ
phần như
Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan.
Điều hành doanh nghiệp cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên
quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, Điều hành doanh nghiệp cũng đưa ra
cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu doanh nghiệp, và cả phương tiện
để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc." Trích dẫn từ sách “Principles
of Corporate Governance” của tổ chức OECD (2004).
- "Điều hành doanh nghiệp có thể được hiểu theo nghĩa h ẹp là quan hệ của một
doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với
xã hội " (Financial Times, 1997).
- "Điều hành doanh nghiệp nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh nghiệp,
tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm". Trích dẫn từ James D. Wolfensohn,
Financial Times (1999).
- "Điều hành doanh nghiệp là chủ đề mặc dù được định nghĩa không rõ ràng nhưng
có thể coi như đó là tập hợp các đối tượng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt
5



đẹp cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế của nền
kinh tế.” Trích dẫn từ cuốn “Maw on Corporate Governance” của Maw, N., Horsell,
Lord Lane of, M. Craig-Cooper (1994).
- Còn ở Việt Nam thì theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 về việc
ban hành Quy chế áp dụng cho các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, “điều hành doanh nghiệp” là hệ thống các
quy tắc để đảm bảo cho doanh nghiệp được định hướng điều hành và được kiểm soát
một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến doanh
nghiệp. Các nguyên tắc điều hành doanh nghiệp bao gồm: Đảm bảo một cơ cấu
quản trị hiệu quả; Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; Đối xử công bằng giữa các cổ
đông; Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp;
Minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp; Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) và Ban
kiểm soát (BKS) lãnh đạo và kiểm soát doanh nghiệp có hiệu quả.
Nhưng có thể hiểu một cách đơn giản nhất, điều hành doanh nghiệp ám chỉ đến
cách mà ban điều hành và ban quản lý điều hành doanh nghiệp, đưa ra những quyết
định, những quyết định đặc biệt có tác động quan trọng đến cổ đông. Mục tiêu của
doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị cổ đông nên mục tiêu chính của điều hành doanh
nghiệp là bảo vệ lợi ích và đối xử công bằng đối với tất cả các cổ đông.
1.2 Vấn đề người đại diện trong các công ty cổ phần
Trong các công ty lớn, sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là đi ều tiết
hết sức cần thiết. Những công ty này có thẻ có hàng trăm ngàn cổ đông, do vậy không
có cách thoả mãn việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý. Bạn có thể nghĩ rằng
quản lý một công ty cổ phần cũng gần giống như điều hành cả một đô thị thông qua
các buổi họp hội đồng cho tất cả các cư dân của đô thị. Luật cho phép uỷ quyền cho
các người đại diện đi họp thay bạn.
Việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý đã có m ột thuận lợi rõ ràng. Nó cho
phép chia nhỏ quyền sở hữu theo phần góp vốn bằng nhau và từ đó sự chuyển nhượng
thay đổi quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Và điều này cũng cho phép công ty thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp để
điều hành công ty của mình theo hư ớng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu
ban đầu của các chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc phân định của các chủ sở hữu và mục tiêu
6



của các nhà quản lý khác nhau. Và đi ều này nguy hiểm ở chỗ thay vì hành đ ộng theo
những ước vọng của các cổ đông thì các nhà quản lý lại tìm kiếm những sự nhàn nhã
hơn, hoặc một phong cách sống làm việc xa hoa hơn: họ có thể lãng tránh những quyết
định không được hợp lòng ngư ời hoặc họ có thể cố gắng xây những toà cao ốc chọc
trời bằng tiền của những cổ đông.
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của các cổ đông và các nhà quản lý đã tạo nên nhứng vấn
đề về người chủ - người đại diện. Các cổ đông là người chủ còn các nhà quản lý
chuyên nghiệp là người đại diện cho họ. Các cổ đông sẽ yêu cầu các nhà quản lý làm
sao để gia tăng giá trị của công ty nhưng các nhà quản lý có thể tự rút lui khỏi những
công việc nặng nhọc này hoặc có thể thu vén cho cá nhân để làm giàu. Các chi phí đại
diện xuất hiện khi: Các nhà quản lý không có gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hoá giá
trị công ty. Hoặc các cổ đông sẽ gánh chịu chi phí để kiểm soát ban quản lý và do đó
ảnh hưởng đến công việc của họ. Dĩ nhiên sẽ không có chi phí nào khi các cổ đông
đồng thời cũng là nhà quản lý. Đây cũng chính là thu ận lợi của loại hình công ty tư
nhân: người chủ và người quản lý không có mâu thuẫn về lợi ích.
Mâu thuẫn giữa các cổ đông và nhà quản lý không chỉ dừng lại ở vấn đề người chủ -
người đại diện, một vấn đề mà các giám đốc tài chính luôn phải đối phó, mà nó cong
mở rộng hơn nữa. Ví dụ chi phí các cổ đông khuyến khích các nhà quản lý nỗ lực làm
việc vì quyền lợi của các cổ đông và như vậy các nhà quản lý cấp cao lại phải tiếp tục
suy nghĩ cần những biện pháp gì đ ể động viên khuyến khích mọi người khác trong
công ty cùng nỗ lực làm việc. Trong trường hợp này nhà quản trị cấp cao sẽ là người
chủ và các nhà quản trị ở cấp thấp hơn và tất cả những nhân viên khác sẽ là người đại
diện.
Chi phí đại diện có thể nảy sinh trong lĩnh vực tài chính. Trong những thời điểm bình
thường, ngân hàng và các trái chủ, những người cho doanh nghiệp vay tiền, sẽ có cùng
quan điểm với các cổ đông trong việc mong muốn công ty thành công và phát đạt.
Nhưng khi công ty có những vấn đề khó khăn, sự thống nhất về mục tiêu chung có thể
đổ vỡ. Vào những lúc như vậy sự thay đổi ban quản trị là điều cần thiết để cứdoanh
nghiệp, nhưng những nhà cho vay lại không còn muốn tiếp tục đầu tư vào doanh
nghiệp nữa và họ quan tâm đến việc thu hồi lại khoản tiền đã cho doanh nghiệp vay.
Họ miễm cưỡng và không muốn quan tâm những vấn đề của doanh nghiệp, những rủi
7



ro có thể đe doạ đến sự an toàn của các khoản cho vay của họ. Sự tranh cãi thậm chí có
thể xảy ra giữa các nhà tài trợ khác nhau và khi các chủ nợ cảm nhận công ty có khả
năng bị phá sản thì sẽ có sự tranh cãi giữa các chủ nợ nhằm giành cho mình một vị trí
ưu tiên hơn để có thể nhận lại khoản vay theo thứ tự chi trả của luật phá sản.
Giá trị của toàn bộ doanh nghiệp giống như một chiếc bánh mà từng phần của nó được
phân chia cho các bên có yêu cầu về quyền lợi. Nó bao gồm nhà quản lý và các cổ
đông cũng như các bên có ảnh hưởng đến công ty và ngân hàng, các nhà đầu tư- những
người đã cho doanh nghiệp vay nợ. Ngoài ra, chính phủ cũng được xem như là một
bên có quyền lợi khi doanh nghiệp phải làm nghĩa vụ thuế với nhà nước từ một phần
lợi nhuận của mình.
Tất cả các bên có yêu cầu quyền lợi cùng đứng chung với nhau trong một mạng lưới
các hợp đồng giao kèo pháp lý phức tạp, cũng như bằng các hình thức khác như sự
thông hiểu và tin cậy lẫn nhau. Ví dụ khi ngân hàng cho công ty vay tiền thì họ sẽ thảo
một hợp đồng có tính pháp lý và trong đó s ẽ quy định đầy đủ tất cả những quy định
cần thiết như lãi suất, ngày đến hạn thanh toán, thậm chí họ sẽ giới hạn mức cổ tức mà
doanh nghiệp sẽ thanh toán cho cổ đông trong tương lai hoặc giới hạn các khoản vay
bổ sung của doanh nghiệp sau này. Nhưng bạn không thể ký vào những văn bản như
vậy vì bạn không thể lường hết trước được những sự kiện có khả năng xảy ra trong
tương lai. Vì v ậy, một hợp đồng không thể đầy đủ tất cả và cần thiết phải được bổ
sung bởi sự tin cậy lẫn nhau và bằng những thương lượng sao cho dung hoà được
quyền lợi của các bên khác nhau.
Vấn đề người chủ- người đại diện có thể dễ dàng giải quyết nếu mọi người cùng chấp
nhận được những thông tin ngang bằng nhau. Nhưng đây là điều hiếm có trong lĩnh
vực tài chính. Các nhà quản lý, các cổ đông và các chủ nợ có thể có những thông tin
rất khác nhau về giá trị của các tài sản thực hoặc các tài sản tài chính của công ty và
điều này có thể tồn tại trong nhiều năm trước khi được phát hiện ra. Các giám đốc tài
chính cần thiết phải ghi nhận những bất cân xứng thông tin này và phải tìm cách làm
yên lòng những nhà đầu tư rằng họ sẽ được bảo đảm là không gặp phải một bất ngờ
khó chịu nào hết.
8



1.3 Những nguyên tắc và những chính sách trong điều hành doanh nghiệp
1.3.1 Những nguyên tắc điều hành doanh nghiệp của tổ chức OECD
Không có một mô hình hoặc một quy ước đơn lẻ nào về điều hành doanh nghiệp
tốt đươc chấp nhận trên thế giới. Tuy nhiên, những nguyên tắc điều hành doanh nghiệp
của OECD( trong cuốn sách: OECD Principles of Corporate Governance) được áp
dụng rất rộng rãi. Những nguyên tắc này coi trọng năm yếu tố: Quyền lợi của các cổ
đông; sự đối xử công bằng giữa các cổ đông; vai trò c ủa các bên có quyền lợi liên
quan trong quản trị doanh nghiệp; Công khai và minh bạch thông tin và trách nhiệm
của Hội đồng Quản trị.
1.3.1.1 Quyền lợi cổ đông
Cổ đông có những quyền cơ bản như bầu cử thành viên của hội đồng ban quản
trị hoặc những quyền khác tác động đến sự hình thành trong ban quản trị, sửa đổi điều
lệ doanh nghiệp, phê duyệt các giao dịch bất thường, quyền phê duyệt hoặc đề cử
những thành viên kiểm toán và phê duyệt phân phối lợi nhuận. Những quyền cơ bản
khác được quy định trong luật và các quy chế nội bộ trong doanh nghiệp.
Những quyền lợi cơ bản của cổ đông nên bao gồm những quyền sau:
- Biết rõ về các cách thức đăng ký quyền sở hữu.
- Chuyển nhận cổ phần.
- Có được những thông tin cần thiết đúng lúc và chính xác.
- Tham gia biểu quyết trong cuộc họp cổ đông.
- Bầu và bãi nhiệm thành viên của ban quản trị.
- Được chia lợi nhuận từ doanh nghiệp.
Cổ đông phải được biết thông tin và tham gia vào những quyết định liên quan đến sự
thay đổi quy định của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Bổ sung hay sửa đổi những nguyên tắc chỉ đạo của doanh nghiệp.
- Phát hành thêm cổ phiếu.
- Những giao dịch bất thường ảnh hưởng đến doanh số của doanh nghiệp.
Cổ đông phải có cơ hội để tham gia và bầu cử trong những cuộc họp cổ đông và phải
được cung cấp những cách thức tham gia như những thủ tục bầu cử, những luật lệ dẫn
dắt những cuộc họp cổ đông. Cụ thể:
9



- Cổ đông phải được cung cấp thông tin về ngày, giờ, địa điểm và lịch trình của
cuộc họp cũng như những vấn đề được thông qua trong cuộc họp một cách đầy đủ và
đúng thời điểm.
- Cổ đông có thể đặt câu hỏi với HĐQT bao gồm những câu hỏi liên quan đến ban
kiểm toán bên ngoài hàng năm, thêm những thông tin trong lịch trình cuộc họp, đề
nghị những giải pháp.
- Cổ đông có quyền bầu cử cho kể cả lúc có mặt cũng như lúc vắng mặt và cần
được đối xử công bằng trong biểu quyết khi có mặt hay vắng mặt.
- Cổ đông và các tổ chức nên được góp ý vào những vấn đề liên quan đến quyền
lợi cơ bản của họ được xác định trong điều lệ để ngăn chặn sự lạm dụng quyền.
1.3.1.2 Đối xử công bằng giữa các cổ đông
Nhà đầu tư luôn tin rằng vốn mà họ bỏ ra sẽ được bảo vệ khỏi sự lạm dụng và
phung phí của những người quản lý, thành viên ban quản trị và các cổ đông kiểm soát.
Trong khi đó, những người quản lý, thành viên ban quản trị và cổ đông kiểm soát có
thể tham gia vào những hoạt động có lợi cho lợi ích của họ trước những chi phí mà cổ
đông không kiểm soát phải gánh chịu. Trong việc tạo nên cơ chế bảo vệ quyền lợi cho
cổ đông, cần phân biệt giữa những quyền trước và sau của cổ đông. Những quyền
trước như là quyền ưu tiên mua trước và đa số điều kiện trước những quyết định nhất
định. Những quyền sau cho phép tìm kiếm sự bồi thường khi quyền lợi bị vi phạm.
Một cách để các cổ đông tăng tính hiệu lực quyền lợi của họ là có thể khởi xướng các
thủ tục pháp lý và thủ tục hành chính chống lại những người quản lý và thành viên ban
quản trị. Kinh nghiệm cho thấy yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ
đông là khi những phương thức hiệu quả tồn tại để đạt được sự bồi thường cho những
sự bất bình với những chi phí hợp lý và không đến mức chậm trễ. Niềm tin của các cổ
đông thiểu số được nâng cao khi hệ thống pháp luật tạo nên một cơ chế cho những cổ
đông thiểu số có thể kiện khi họ tin chắc quyền lợi bị vi phạm. Việc cung cấp cơ chế
có tính hiệu lực là trách nhiệm chính của những nhà lập pháp và những người điều
chỉnh.

Tất cả những cổ đông nắm giữ cổ phiếu cùng loại phải được đối xử công bằng. Cụ thể:
- Ứng với mỗi loại cổ phiếu, tất cả các cổ đông phải có cùng quyền biểu quyết.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét