Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp tài
chính…
2. Môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
2.1. Khái niệm về môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp các yếu tố bên trong
hoặc bên ngoài tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Môi trường bên trong bao gồm các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp như
mặt hàng kinh doanh, nhân lực, hệ thống thông tin, hoạt động marketing, tài chính,
thương hiệu, văn hoá doanh nghiệp…
Môi trường ngoài doanh nghiệp là các yếu tố của nền kinh tế quốc dân
như chính trị và pháp luật, kinh tế, kĩ thuật và công nghệ, điều kiện tự nhiên cơ sở
hạ tầng văn hoá xã hội, môi trường quốc tế …
Như vậy môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp là tập hợp các yếu
tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
2.2. Phân loại môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
- Theo phạm vi các yếu tố, môi trường kinh doanh bên ngoài bao gồm:
môi trường quốc tế, môi trường nền kinh tế, môi trường nội bộ ngành
hay còn gọi là môi trường tác nghiệp
- Theo cấp độ của môi trường, người ta chia thành môi trường nền kinh
tế quốc dân (vĩ mô) và môi trường cấp doanh nghiệp (vi mô)
- Theo lĩnh vực ảnh hưởng của môi trường , bao gồm các yếu tố kinh tế,
yếu tố chính trị, yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, kỹ thuật công nghệ,
điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng.
Mỗi cách phân loại môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp lại cho
thấy những khía cạnh khác nhau trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và
gợi mở những cách tiếp cận khác nhau đến tác động của môi trường ngoài đến hoạt
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do hạn chế, trong khuôn
khổ chuyên đề tốt nghiệp này chỉ tiếp cận đến tác động của môi trường kinh doanh
ngoài doanh nghiệp theo cách phân loại dựa trên phạm vi các yếu tố.
2.3. Đặc điểm của môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh ngoài doanh nghiệp là một hệ thống các yếu tố
luôn biến đổi và sự phân chia chỉ có tính ước lệ tương đối. Ví dụ như quan hệ công
chúng có thể xếp vào các yếu tố của cả vĩ mô và vi mô, có ảnh hưởng cả trực tiếp
và gián tiếp. Ngoài ra khi nền kinh tế bất ổn mối quan hệ giữa doanh nghiệp với
khách hàng cũng hoàn toàn thay đổi, lợi thế trước đây của đối thủ nay cũng có thể
biến thành chính yếu điểm của họ. Vì vậy, việc đánh giá các yếu tố của môi trường
ngoài doanh nghiệp cần cẩn thận và thường xuyên liên tục cũng như có tính dự báo
cao.
Các yếu tố bên ngoài không chỉ có tác động lẫn nhau mà còn tác động
đến các yếu tố của bên trong doanh nghiệp. Các yếu tố của môi trường quốc tế môi
trường kinh tế quốc dân tác động đến doanh nghiệp thông qua các yếu tố của môi
trường ngành kinh doanh. Ví dụ như giá cả và khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh
hưởng đến giá cả và tăng trưởng của Việt Nam và tác động đến nhà cung cấp
khách hàng, đối thủ cũng như chính bản thân doanh nghiệp do sự ảnh hưởng của
nó tới chi phí đầu vào đầu ra và cung, cầu ngành.
2.4. Nội dung phân tích môi trường ngoài doanh nghiệp theo phạm vi
2.4.1. Phân tích môi trường quốc tế
- Ảnh hưởng của chính trị thế giới
Xu thế chính trị thế giới có ảnh hưởng khá lớn đối với sự phát triển của
doanh nghiệp, trước đây khi các nước có tiềm lực về kinh tế thường duy trì ảnh
hưởng của mình với các nước có nền kinh tế nhỏ bé hơn đặc biệt là các nước kém
phát triển gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp nước này. Các doanh nghiệp này
không những đã có trình độ thua kém hơn, khả năng cạnh tranh kém hơn lại còn
chịu áp lực lớn từ các doanh nghiệp lớn tầm cỡ thế giới gây áp lực vì thế mà khó
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
có cơ hội phát triển. Một môi trường kinh tế thế giới ổn định hoà bình hợp tác là
một cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra thị trường thế
giới để khăng định mình cũng như mở rộng thị trường. Ngoài ra, sự thay đổi thể
chế mội quốc gia trên thế giới, hay một khu vực cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tất
cả các doanh nghiệp của các nước có quan hệ kinh tế, ví dụ như sự thay đổi chính
trị của một số nước Đông Âu vào những năm 1990 ảnh hưởng mạnh mẽ đến các
doanh nghiệp Việt Nam. Hay cuộc chiến tranh của Mỹ với Irac, sự kiện 11/9 ảnh
hưởng to lớn đến nền kinh tế Mỹ nhưng ngoài ra nó cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến nền kinh tế toàn thế giới đơn giản bởi vì Mỹ là quốc gia giàu mạnh nhất và
kinh tế Mỹ liên quan đến hầu hết các nền kinh tế khác trên thế giới…
- Tác động của kinh tế thế giới
Sự hình thành tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, tốc độ phát triển kinh
tế thế giới, tình hình giá cả và sự lạm phát đồng tiền mạnh trên thế giới, khủng
hoảng kinh tế và mối quan hệ kinh tế thương mại trên thế giới có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới như tốc độ tăng GDP, nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu
người/năm của các quốc gia và thế giới biểu hiện mức độ thịnh vượng của nền
kinh tế toàn cầu, từ đó mà ảnh hưởng đến cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Giá cả nguyên vật liệu trên thế giới tăng giảm cũng làm thay đổi
nguồn đầu vào của các doanh nghiệp trong nước, lạm phát đồng tiền mạnh còn gây
ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng bán hàng của doanh nghiệp. Khủng hoảng kinh
tế thế giới và khu vực có tính chất dây chuyền đến tất cả các nước, khu vực trên thế
giới.
- Pháp luật thông lệ quốc tế
Luật pháp bao giờ cũng là cơ sở pháp lý để tổ chức và thực hiện hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật quốc tế và các thông lệ
quốc tế trong hoạt động kinh doanh thường được các đối thủ nước ngoài áp dung
với các doanh nghiệp trong nước bởi đó là một hệ quy chuẩn chung. Nếu không có
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
hiểu biết thấu đáo cũng như có kinh nghiệm trong việc áp dụng cũng như xác định
các điều khoản luật các doanh nghiệp trong nước rất dễ lâm vào tình trạng bị thua
thiệt nhưng không được bảo vệ, hoặc phạm pháp do không biết luật, Thời cơ sẽ
chỉ đến với những doanh nghiệp bỏ thời gian và công sức nghiên cứu phân tích các
quy định pháp luật quốc tế, các định chế pháp lý có liên quan ở thị trường mà
doanh nghiệp sẽ hoạt động để chủ động lựa chọn thị trường, chọn đối tác, giao dịch
đảm phán, kí kết thực hiện hợp đồng phù hợp với quy định công ước quốc tế.
- Yếu tố công nghệ quốc tế
Sự tiến bộ của kĩ thuật công nghệ quốc tế nhanh chóng tạo ra nguyên vật
liệu mới, thiết bị máy móc hiện đại góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá
thành, tăng thêm chất lượng hàng hoá và nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường. Do đó nếu không nhanh chóng đổi mới nâng cao kĩ thuật
công nghệ doanh nghiệp sẽ không tránh khỏi sự vượt mặt của các doanh nghiệp
“nhanh tay” đón đầu hơn. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp cũng
phải nhận thức về điệu kiện cũng trình độ nơi mình hoạt động kinh doanh để lựa
chọn công nghệ phù hợp, không phải cứ công nghệ hiện đại nhất là hiệu quả nhất
và các doanh nghiệp cũng nên chú trong đến việc chủ động nghiên cứu, nội sinh
hoá công nghệ.
- Văn hoá quốc tế
Do tác động của khoa học kĩ thuật toàn cầu các quốc gia có xu hướng hoà
bình hoá các mối quan hệ, nền văn hoá của các dân tộc và các quốc gia vì thế mà
có xu hướng xích lại gần nhau hơn. Cũng chính yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến
hành vi tiêu dùng, giao tiếp, thị hiếu thói quen của người tiêu dùng. Một doanh
nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thâm nhập thị trường một nước khác khi quốc gia đó
yêu thích nét văn hoá cũng như phong cách của quốc gia của bản thân doanh
nghiệp. Doanh nghiệp sẽ không cần phải thay đổi phương thức kinh doanh của
mình khi tham gia thị trường mới này.
2.4.2. Phân tích môi trường nền kinh tế
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
- Yếu tố chính trị pháp luật
Các yếu tố liên quan đến chính trị, pháp luật bao gồm: sự ổn định về
chính trị và đường lối ngoại giao, sự cân bằng trong chính sách của chính phủ, vai
trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính Phủ đối với các lĩnh vực của
đời sống xã hội, sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp vào hoạt động kinh tế xã
hội của Chính phủ, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật và hiệu lực thi hành chúng
trong nền kinh tế. Chính các yếu tố này đã tạo nên khuôn khổ pháp lý của môi
trường để doanh nghiệp hoạt động. Môi trường kinh doanh ổn định bình đẳng là
điều kiện tốt cho các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bình đẳng, tạo quan hệ chặt
chẽ giữa người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng. Doanh nghiệp sẽ phải chịu
trách nhiệm về sản phẩm dịch vụ của mình với khách hàng.
- Yếu tố kinh tế :
Các yếu tố kinh tế có thể kể đến như: tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất
nước ổn định hay suy giảm; mức lạm phát, thất nghiệp, lãi xuất ngân hàng; tiềm
năng kinh tế và sự gia tăng đầu tử của các ngành và của nền kinh tế quốc dân; các
chính sách tiền tệ, tín dụng, tài chính quốc gia; giai đoạn của chu kì kinh tế. Đây là
các yếu tố có ý nghĩ vô cùng quan trọng trong phân tích môi trường kinh doanh vì
nó tác động đến cả cung và cầu về hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế quốc dân, ảnh
hưởng trực tiếp đến quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tham gia
hay không, tăng hay giảm. Nếu tốc độ phát triển kinh tế nhanh, ổn định lạm phát
và lãi suất ngân hàng được kiểm soát, các doanh nghiệp có cơ hội gia tăng đầu tư,
phát triển sản xuất kinh doanh, cán bộ và công nhân viên có thu nhập ổn định sẽ
gia tăng sức mua trên thị trường doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận và đạt hiệu
quả kinh doanh theo dự tính. Tuy nhiên nếu nền kinh tế quốc dân ở giai đoạn suy
thoái, lạm phát thất nghiệp gia tăng, sức mua giảm sẽ đẩy các doanh nghiệp vào
nguy cơ khủng hoảng phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, ngân hàng không thu hồi
được tiền sẽ dẫn đến mất giá đồng tiền ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp.
- Yếu tố kĩ thuật công nghệ
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
Các yếu tố kĩ thuật công nghệ sẽ quyết định và chi phối kĩ thuật công
nghệ của doanh nghiệp, quyết định sự ra đời sản phẩm mới, hình thành phương
thức kinh doanh, phương thức thoả mãn nhu cầu, ảnh hưởng tới khả năng cạnh
tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tác động đến công nghệ của
doanh nghiệp gồm có trình độ và mức độ hiện đại của cơ sở vật chất kĩ thuật của
nền kinh tế, chiến lược phát triển khoa học công nghệ và nguồn lực để thực hiện
chiến lược. Mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của ngành, khả
năng áp dụng tiến bộ kĩ thuật sử dụng cơ giới hoá trong ngành,…Nếu nền kinh tế
đất nước có trình độ công nghệ lạc hậu, thiếu chiến lược phát triển dài hạn về kĩ
thuật công nghệ mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thấp, quy định về quyền
sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ chưa đầy đủ hoàn thiện sẽ gây khó
khăn rất lớn cho doanh nghiệp trong cải thiện công nghệ của mình
- Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng
Nhân tố này bao gồm các yếu tố sau: khí hậu thời tiết điều hoà hay
không, trình độ hiện đại của cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống thông
tin liên lạc, sự thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu tái sinh và không thể tái sinh, ô
nhiễm môi trường, sự gia tăng về chi phí nguyên liệu, năng lượng, vai trò của nhà
nước trong bảo vệ môi trường,…Các yếu tố này liên quan rất lớn đến chi phí sản
xuất kinh doanh và cách sử dụng nguồn lực tự nhiên trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, cơ sở hạ tầng sản xuất hiện đại giúp
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí để phát triển kinh doanh.
- Văn hoá xã hội
Các nhân tố về văn hoá xã hội có tác động chậm chạp, khó thấy đối với
doanh nghiệp vì nó có ảnh hưởng gián tiếp thông qua cuộc sống và hành vi con
người tới cơ cấu nhu cầu, hành vi mua sắm, khuynh hướng tiêu dùng của khách
hàng. Tuy nhiên ảnh hưởng của nhân tố này lại sâu sắc lâu dài và khó thay đổi. Các
nhân tố về văn hoá xã hội có thể kể đến như dân số và xu hướng thay đổi dân số, di
dân, tôn giáo, lối sống và thái độ với chất lượng cuộc sống, nghề nghiệp. Chúng ta
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
dễ dàng thấy rằng nếu chúng ta có thu nhập cao hơn, quan tâm chất lượng cuộc
sống hơn chắc chắn chúng ta sẽ đòi hỏi hàng hoá chất lượng cao hơn, hình thức
đẹp hơn và dịch vụ phục vụ tốt hơn…
2.4.3. Phân tích môi trường ngành – môi trường tác nghiệp
- Khách hàng
Khách hàng là những tập thể, cá nhân có nhu cầu và có khả năng thanh
toán mong muốn được đáp ứng, thoả mãn về hàng hoá của doanh nghiệp. Nói cách
khác, khách hàng chính là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp, người đem lại
doanh thu cho doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp cũng chính là thoả màn
tốt nhất nhu cầu khách hàng nhằm có được sự trung thành cũng như tín nhiệm của
họ. Mỗi doanh nghiệp, vì thế, nếu muốn quyết định kinh doanh ở đâu như thế nào
phải tìm hiểu rõ khách hàng trên các yếu tố như vị trí địa lý, quy mô, mật độ, tuổi
tác, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, tôn giáo quốc tịch, lối sống
cá tính. Thái độ tiêu dùng của khách hàng thường xuyên hay không, kỹ tính hay
không, thiện chí mua hàng hay không, mức độ tiêu dùng nhiều hay ít,…Trên cơ sở
đó, tuỳ thuộc đặc điểm mặt hàng kinh doanh, doanh nghiệp phải phân chia được số
lượng khách hàng theo các tiêu chí khác nhau như khối lượng mua nhiều hay ít, vị
trí tương đối với doanh nghiệp gần hay xa, mục đích mua sắm tiêu dùng cuối cùng
hay trung gian, khách hàng là tư nhân hay tập thể. Từ đó, doanh nghiệp có thể
thấy được khả năng mặc cả của khách hàng. Nếu số lượng khách hàng ít hơn tương
đối so với số lượng doanh nghiệp, lượng hàng mua khối lượng lớn họ sẽ có khả
năng đàm phán với doanh nghiệp lớn hơn do có nhiều khả năng lựa chọn hơn cũng
như việc rút lui của họ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ
đó, họ có thể đòi hỏi một mức giá thấp hơn, cũng như đòi hỏi các dịch vụ đi kèm
nhiều hơn,…
- Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp, nhà cung ứng cung cấp những
mặt hàng tượng tự và có thể thay thế cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
trường. Đây chính là đối tượng đáng quan tâm nhất của doanh nghiệp trên thị
trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh bại hoặc chiếm ưu thế hơn nếu muốn thành
công. Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp mà mạnh hơn đồng nghĩa với việc thị
trường của doanh nghiệp bị thu hẹp và doanh nghiệp bị mất lợi nhuận. Doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh của mình phải đặc biệt chú ý quan sát các đối
thủ của mình một cách thường xuyên liên tục, trên các khía cạnh như mục đích
tương lai của đối thủ (mục tiêu tài chính, thái độ với rủi ro, quan điểm tổ chức bộ
máy quản lý, chiến lược chung, hạn chế liên quan đến quy định của chính phủ, ),
nhận định của đối thủ về chính họ (về ưu, nhược điểm, chi phí sản xuất, chất
lượng, công nghệ, uy tín gắn với sản phẩm,…) và độ chính xác của các nhận định
này, thông tin về chiến lược hiện thời của đối thủ (theo đuổi chiến lược nào, cạnh
tranh như thế nào, chính sách tổ chức thực hiện ra sao), cuối cùng là về tiềm năng
của đối thủ (sản phẩm, khả năng về tài chính nhân lực, phân phối và bán hàng,
nghiên cứu phát triển, khả năng tăng trưởng thích ứng).
Từ việc xác định về bản chất đối thủ, doanh nghiệp sẽ xác định mức độ
cạnh tranh của đối thủ trên thị trường. Theo M.Porter, nhà kinh tế học nổi tiếng về
mô hình 5 áp lực cạnh tranh cho rằng yếu tố quyết định đến mức độ cạnh tranh bao
gồm số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều hay ít, mức độ tăng trưởng ngành kinh
doanh nhanh hay chậm, chi phí cố định thấp hay cao, đối thủ có đủ ngân sách để đa
dạng hoá sản phẩm hoặc chuyển sang ngành nghề kinh doanh mới hay không, nhu
cầu mong muốn và tiềm lực bảo vệ thị phần của các đối thủ, tình hình và nhu cầu
thị trường, rào cản rút lui khỏi ngành cao hay thấp.
- Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là người cung cấp hàng hoá dịch vụ đầu vào cho doanh
nghiệp và cho đối thủ cạnh tranh. Có nhiều loại đầu vào trong doanh nghiệp nhưng
ở đây chúng ta chỉ xét đến đầu vào là hàng hoá dịch vụ. Doanh nghiệp chính là
khách hàng của nhà cung ứng vì thế sự tác động cũng như mối quan hệ của nhà
cung ứng với doanh nghiệp cũng tương tự như doanh nghiệp với khách hàng. Để
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
tránh sự đe doạ của nhà cung ứng, doanh nghiệp cần đa dạng hoá để giảm áp lực,
không nên chỉ phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất, lựa chọn nhà cung ứng
tốt nhất về chất lượng, uy tín giao hàng, độ tin cậy, giá cả, Tuy nhiên trong trường
hợp không thể lựa chọn nhà cung ứng, doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ
bền vững để ổn định nguồn hàng.
- Nhà phân phối, trung gian thương mại
Đây là thành phần bao gồm các cá nhân tổ chức giúp doanh nghiệp trong việc
tuyên truyền quảng cáo phân phối bán hàng cho doanh nghiệp. Đó là những người
tham gia vào mô giới và vận chuyển mô giới, tuyên truyền, quảng cáo, là đại lý
bán hàng cho doanh nghiệp. Lợi ích hay tỷ lệ hoa hồng hợp lý là điều kiện để lôi
kéo sự ủng hộ giúp đỡ doanh nghiệp thực hiện mục tiêu, ngược lại sẽ là nguy cơ
cạnh tranh với doanh nghiệp, gây chậm chễ ách tắc cách khâu trong quá trình lưu
chuyển hàng hoá.
- Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những doanh nghiệp chưa xuất hiện trong ngành
nhưng trong tương lai lại có thể tham gia và trở thành đối thủ của doanh nghiệp. Sự
tham gia của các doanh nghiệp mới này là do sức hấp dẫn của ngành lớn (thị
trường tiêu thụ lớn và đang tăng trưởng nhanh), rào cản nhập ngành nhỏ dễ tham
gia và dễ rút lui. Rào cản nhập ngành mạnh hay yếu dựa trên các yếu tố như trang
bị kĩ thuật, bí quyết công nghệ, thương hiệu uy tín của các doanh nghiệp đã tham
gia, thị phần còn lại, giá cả cho chi phí ban đầu, cơ sở hạ tầng, nguồn lực đầu
nguồn lực quý hiếm, sự phản kháng của các doanh nghiệp trong ngành
- Sản phầm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của những doanh nghiệp hoạt động
trong ngành khác nhưng có tác dụng thoả mãn cùng một nhu cầu khách hàng so
với sản phẩm của ngành. Muốn dự báo được sản phẩm thay thế mới là rất khó vì
nó phụ thuộc vào việc dự báo tiến bộ khoa học công nghệ điều này thường không
thực hiện đối với tầm cỡ một doanh nghiệp, hơn nữa những mối đe doạ này đến từ
==========================================================
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
==========================================================
xa và không biết được lúc nào đang đến. Tuy nhiên với những doanh nghiệp có
mặt hàng kinh doanh đa dạng, và sản phẩm chứa đựng bí quyết công nghệ hay
công nghệ cao thì áp lực này không phải là lớn.
II. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp
Chiến lược có nguồn gốc từ quân sự với ý nghĩa là khoa học về hoạch
định và điều khiển các hoạt động quân sự hay nghệ thuật chỉ huy các phương tiện
để chiến thắng đối phương. Như vậy chiến lược là khoa học hoạch định, điều khiển
và nghệ thuật sử dụng nguồn lực, phương tiện trong các hoạt động quân sự có quy
mô lớn, thời gian dài để tạo ra ưu thế nhằm chiến thắng đối thủ.Từ lĩnh vực quân
sự thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi ra lĩnh vực kinh tế vĩ mô và vi mô
như chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển các ngành, chiến
lược phát triển công ty hay chiến lược các bộ phận như marketing, bán hàng…
Đối với cấp doanh nghiệp có nhiều cách tiếp cận chiến lược, mỗi tổ chức
cũng như mỗi nhà kinh tế học lại tiếp cận chiến lược theo những cách khác nhau.
Theo BCG, Boston consulting group, một công ty tư vấn kinh tế nổi tiếng
trên toàn thế giới, cho rằng, chiến lược kinh doanh là việc sử dụng phương tiện sẵn
có nhằm làm mất thế cân bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế cạnh tranh về phía
doanh nghiệp.
Theo M. Porter, giáo sư đại học Harvart Mỹ, người đóng góp rất nhiểu
trong việc hệ thống và truyền bá chiến lược kinh doanh, cho rằng, chiến lược kinh
doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa mục tiêu cần đạt tới và
những phương tiện cần tìm để đạt mục tiêu.
Từ những cách tiếp cận trên có thể nhận thấy, chiến lược là định hướng
hoạt động kinh doanh có mục tiêu trong một thời gian dài cùng với hệ thống chính
sách, biện pháp và cách thức phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu của doanh
nghiểp trong khoảng thời gian tương ứng.
==========================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét