hình Doanh nghiệp. Để được thành lập Doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp
định theo yêu quy định của pháp luật.
b. Vốn điều lệ: của Doanh nghiệp là số vốn được ghi trong điều lệ của
Doanh nghiệp, số vốn này do các chủ sở hữu góp. Vốn điều lệ không ít hơn vốn
pháp định.
1.1.3.2 Phân loại theo nguồn gốc hình thành vốn
Phân loại vốn theo nguồn gốc hình thành thì vốn gồm vốn chủ sở hữu và
vốn vay.
a. Vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình Doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp
bao gồm ba bộ phận chủ yếu:
- Vốn góp ban đầu
- Lợi nhuận không chia
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
Vốn góp ban đầu:
Khi Doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ Doanh nghiệp cũng phải
có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu góp. Khi nói đến
nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở
hữu của Doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình
thức tạo vốn của bản thân Doanh nghiệp.
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
Nhà nước. Chủ sở hữu của các Doanh nghiêp Nhà nước là Nhà nước. Đối với
công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để thành lập
công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiêm hữu hạn
trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ.
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Quy mô số vốn ban đầu của chủ Doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng,
tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
Doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu Doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì Doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi
5
5
để tăng trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ
phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp. Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện
được nếu như Doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép
tiếp tục đầu tư. Đối với các Doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc
không chỉ và khả năng sinh lời của bản thân Doanh nghiệp mà còn phụ thuộc
vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước.
Phát hành cổ phiếu mới
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ
sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Một nguồn tài chính dài hạn rất quan
trọng là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho Doanh nghiệp. Phát hành cổ
phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của Doanh nghiệp.
b. Nguồn vốn vay
Để bổ sung vốn trong quá trình kinh doanh Doanh nghiệp có thể sử dụng
nợ từ các nguồn: tín dụng Ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua
phát hành trái phiếu.
Nguồn vốn tín dụng Ngân hàng và tín dụng thương mại
Có thể nói rằng vốn vay Ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan
trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân Doanh nghiệp mà còn
đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các Doanh
nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các Ngân hàng thương mại cung
cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn. Không một Doanh nghiệp nào
không vay vốn Ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu Doanh
nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường. Trong quá trình hoạt động
các Doanh nghiệp thường vay Ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là có đủ vốn cho các dự án mở rộng
hoặc đầu tư chiều sâu của Doanh nghiệp.
Các Doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại
hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp. Nguồn vốn này hình thành một cách
tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn
6
6
tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các Doanh
nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong một sô Doanh nghiệp nguồn
vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20%
tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn.
Tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ,
tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng
các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền.
Phát hành trái phiếu công ty
Trái phiếu là tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn. Trước
khi phát hành trái phiếu Doanh nghiệp cần xem xét loại trái phiếu nào phù hợp
với nhất với điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài
chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi
phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
1.1.3.3 Phân loại theo tính chất luân chuyển vốn
Hiện nay, theo cách phân loại này các Doanh nghiệp phân loại vốn chủ
yếu làm hai loại là vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu
động.
a. Vốn đầu tư vào tài sản cố định của Doanh nghiệp
“ Vốn đầu tư vào tài sản cố định ” là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản cố định trong Doanh nghiệp.
Căn cứ vào tính chất và vai trò tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản
xuất của Doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động và đối
tượng lao động. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc
điểm cơ bản là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay
đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên đến khi bị sa thải ra khỏi quá trình sản xuất. Mọi
tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống
gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay
một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả
hệ thống không thể hoạt động được. Những tư liệu được coi là tài sản cố định
khi thoả mãn đồng thời hai tiêu chuẩn sau:
7
7
Tiêu chuẩn về thời gian: có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Tiêu chuẩn giá trị: Ở nước ta hiện nay tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở
lên.
Trong điều kiện tiến bộ khoa học- kỹ thuật như hiện nay, khi mà khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũng
được mở rộng, nó bao gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vật chất,
gồm chi phí thành lập Doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế, chi phí
về lợi thế kinh doanh…
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần
về giá trị của tài sản cố định. Do tài sản cố định bị hao mòn nên trong mỗi chu
kỳ sản xuất người ta tính chuyển một phần giá trị tương đương với phần hao
mòn vào giá trị thành phẩm, khi sản phẩm được tiêu thụ bộ phận tiền này được
trích lại thành một quỹ nhằm để tái sản xuất tài sản cố định, còn gọi là khấu hao
tài sản cố định.
Trong Doanh nghiệp thương mại vốn đầu tư vào tài sản cố định thường
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn.
b. Vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kỳ sản xuât, đến chu kỳ sản xuất sau phải sử dụng các đối tượng lao động khác.
Tài sản lưu động là những tái sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong
quá trình kinh doanh. Vốn đầu tư vào tài sản lưu động được dùng để chỉ tài sản
lưu động của Doanh nghiệp.
1.1.4 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
1.1.4.1 Khái niệm vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
a Khái niệm
Lượng tiền ứng trước thoả mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là
vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động
khác. Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành
8
8
thực thể của sản phẩm. Vốn đầu tư vào tài sản lưu động được dùng để chỉ tài sản
lưu động trong Doanh nghiệp. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và
thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Vốn kinh doanh của
Doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, như vậy vốn lưu động là
giá trị còn lại của vốn kinh doanh sau khi đã trừ đi vốn cố định.
Trên bảng cân đối kế toán vốn đầu tư vào tài sản lưu động được thể hiện ở
các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn
kho.
Các khoản mục trong phần vốn đầu tư vào tài sản lưu động trên bảng cân
đối kế toán:
Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Đây
là loại có tính thanh khoản cao nhất.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn, góp vốn liên doanh, cho vay vốn… có thời hạn thu hồi không quá một năm.
Khoản này có tính lưu động mạnh thứ hai sau tiền.
Các khoản phải thu: là những khoản tiền mà khách hàng và những bên
liên quan đang nợ Doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán. Các
khoản này sẽ được trả trong thời hạn ngắn. Khoản mục thuế giá trị gia tăng được
khấu trừ cũng là tài sản lưu động của Doanh nghiệp vì chỉ tiêu này phản ánh số
thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ và số thuế giá trị gia tăng được cơ quan
có thẩm quyền chấp nhận hoàn lại nhưng chưa hoàn lại.
Hàng tồn kho: bao gồm vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá trong kho,
hàng gửi bán, hàng đang đi đường, sản phẩm dở dang… Những tài sản này có
thời gian luân chuyển ngắn, thường không quá một năm nên được xếp vào tài
sản lưu động.
Tài sản lưu động khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi
phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược
ngắn hạn. Nguyên tắc cơ bản của quản lý tài chính là Doanh nghiệp phải dùng
nguồn vốn dài hạn để hình thành tài sản cố định. Điều đó sẽ đảm bảo rằng các tài
sản cố định sẽ được sử dụng trong thời gian dài hơn một năm trong Doanh
9
9
nghiệp. Đầy cũng là điều kiện để thời gian sử dụng của tài sản cố định và nguồn
hình thành phù hợp với nhau. Tương tự như vậy, tài sản lưu động của Doanh
nghiệp phải được hình thành từ nguồn vốn ngắn hạn. Cách tài trợ này giúp cho
Doanh nghiệp có được sự ổn định, an toàn về mặt tài chính.
Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh, các giao dịch tài chính
không phải lúc nào cũng diễn ra theo nguyên tắc đó. Chính vì vậy có thể xuất
hiện sự chênh lệch giữa các nguồn vốn và các tài sản có cùng tính chất thời gian
sử dụng. Khoản chênh lệch đó chính là vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường
xuyên.
b Nguồn hình thành vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động có thể được hình thành từ các nguồn như
vốn tự có, vốn vay dài hạn.
Nguồn vốn chủ sở hữu có thể do Nhà nước cấp ( đối với Doanh nghiệp
Nhà nước), vốn góp, vốn liên doanh, lợi nhuận để lại …
Vốn vay dài hạn và ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng, từ phát hành cổ
phiếu, trái phiếu …
c Phân loại vốn đầu tư vào tài sản lưu động của Doanh nghiệp
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền
đang chuyển, các chứng khoán thanh khoản cao có thể nhanh chóng chuyển
thành tiền, các khoản phải thu gồm tiền phải thu từ khách hàng khi cung cấp
hàng hoá, dịch vụ, các khoản ứng trước cho nhà cung cấp
- Vốn bằng hiện vật ( hàng tồn kho) bao gồm tất cả nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, hàng mua đang đi đường, thành phẩm
trong kho…
1.1.4.2 Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là giá trị chênh lệch giữa
vốn dài hạn và vốn đầu tư vào tài sản cố định hoặc giữa vốn đầu tư vào tài sản
lưu động với nợ ngắn hạn.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = vốn dài hạn- vốn đầu tư
vào tài sản cố định
10
10
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = vốn đầu tư vào tài sản
lưu động - nợ ngắn hạn
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có thể nhận các giá trị sau:
- Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên > 0
Vốn dài hạn > vốn đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động > nợ ngắn hạn
Trong trường hợp này việc tài trợ từ các nguồn vốn là tốt. Toàn bộ tài sản
cố định được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn, có nghĩa là một cách ổn định, Doanh
nghiệp không những đủ vốn tài trợ cho các tài sản cố định của mình mà còn thừa
để tài tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn. Đồng thời khi vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên dương cũng có nghĩa là tổng tài sản lưu động lớn hơn nợ
ngắn hạn. Điều đó chứng tỏ Doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có thể
trang trải được các khoản nợ ngắn hạn với tài sản quay vòng nhanh.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên < 0
Vốn dài hạn < vốn đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động < nợ ngắn hạn
Trong trường hợp này, tài sản cố định lớn hơn nguồn vốn dài hạn. Điều
này có nghĩa rằng Doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho đầu
tư dài hạn. Điều này khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay thì phải tìm ra nguồn
vốn khác để thay thế. Đây chỉ là một giải pháp tình thế. Nếu điều này xảy ra liên
tục thì sự tồn tại của Doanh nghiệp bị đe doạ, Doanh nghiệp có thể bị đẩy tới giải
pháp là bán tài sản cố định hay là thanh lý. Đồng thời khi vốn đầu tư vào tài sản
lưu động thường xuyên âm thì khả năng thanh toán của Doanh nghiệp là rất kém,
bởi vì chỉ có tài sản lưu động mới có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian
ngắn để trả nợ, trong khi đó tài sản lưu động lại nhỏ hơn nợ ngắn hạn.
Các Doanh nghiệp đang phát triển mạnh là một tình huống đáng chú ý.
Trong quá trình phát triển Doanh nghiệp đầu tư, tài sản cố định tăng mạnh.
Trong một khoảng thời gian nào đó, tài sản cố định có thể tăng nhanh hơn nguồn
vốn dài hạn. Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có thể âm. Nếu trong
đà phát triển, Doanh nghiệp sinh ra lợi nhuận hoặc huy động được thêm vốn dài
11
11
hạn, thì đây chỉ là một hiện tượng tức thời không đáng ngại. Vì vốn dài hạn sẽ
dần dần tăng lên bằng mức tài sản cố định, và vốn đầu tư vào tài sản lưu động
thường xuyên trở thanh dương. Ta thấy rằng sự phát triển có thể mang tới sự bất
ổn định tài chính, do đó, phải phân tích và theo dõi chặt chẽ để có những biện
pháp điều chỉnh nếu cần.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = 0
Vốn dài hạn = vốn đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư vào tài sản lưu đông = nợ ngắn hạn
Tình hình tài chính như vậy là tương đối lành mạnh. Nguồn vốn dài hạn
đủ để tài trợ cho tài sản cố định. Còn tài sản lưu động đủ để trang trải các khoản
nợ ngắn hạn.
Việc phân tích vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có ý nghĩa
rất quan trọng. Đó là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chính sách tài trợ của
Doanh nghiệp đối với các hoạt động phát sinh trong kỳ. Vốn đầu tư vào tài sản
lưu động thường xuyên dương là một dấu hiệu an toàn và vững chắc đối với sự
tài trợ của Doanh nghiêp.
Khi phân tích chỉ tiêu này ta phân tích các biến động theo thời gian của
vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên.
Các nguyên nhân gây ra các biến động đó:
Việc tăng vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên có thể là do tăng
vốn tự có, điều này là rất tốt. Điều đó có nghĩa rằng Doanh nghiệp hoạt động thu
được lợi nhuận hay huy động được thêm vốn từ bên ngoài.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên tăng do vay nợ gia tăng,
điều này có thể là không tốt nếu khoản nợ lớn hơn vốn tự có và nhất là nếu
Doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên cũng có thể tăng nếu tài
sản cố định giảm hoặc Doanh nghiệp ngừng đầu tư dài hạn. Điều này không thể
coi là tích cực. Bỏi vì giảm tài sản cố định có nghĩa là Doanh nghiệp buộc phải
bán một phần cơ sở vật chất của mình để giảm quy mô kinh doanh. Tình trạng
này chưa thể coi là tốt đựơc.
12
12
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu cốt yếu
trong phân tích và quản lý tài chính. Theo nguyên tắc, chỉ tiêu này phải dương, ít
nhất là bằng 0. Như vậy là tài sản cố định được hình thành một cách ổn định từ
các nguồn vốn dài hạn và tài sản lưu động lớn hơn hoặc ít nhất là bằng nợ ngắn
hạn, bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của Doanh nghiệp.
1.1.4.3 Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn
hạn Doanh nghiệp cần để tài trợ cho bộ phận tài sản lưu động không phải là tiền,
đó là hai khoản mục hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Vốn đàu tư vào tài sản lưu động = nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên + vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền = vốn đầu tư vào tài sản lưu động – nhu cầu vốn đầu tư vào
tài sản lưu động thường xuyên
Vốn dài hạn > tài sản cố định => vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường
xuyên > 0
Tài sản cố định > vốn dài hạn => vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường
xuyên < 0
Tài sản lưu động > vốn ngắn hạn => nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên > 0
Tài sản lưu động < vốn ngắn hạn => nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu
động thường xuyên < 0
Để hình thành hàng tồn kho và các khoản phải thu, Doanh nghiệp cần vốn.
Đây là các khoản sử dụng ngắn hạn ( trong một thời gian ngắn, các khoản này sẽ
quay trở lại hình thức vốn bằng tiền khi khách hàng thanh toán). Phải có vốn để
mua nguyên vật liệu, trong quá trình sản xuất phải trả lương nhân công, chi phí
về năng lượng, bảo quản máy móc. Khi có thành phẩm phải chi tiêu cho việc lưu
kho, lúc tiêu thụ sản phẩm nhiều khi phải cho khách nợ. Các nhà quản lý đều
nhằm mục tiêu giảm tới mức tối thiểu nhu cầu vốn. Mục tiêu đạt được thông qua
cách quản lý tồn kho, cách quản lý sản xuất, chính sách thương mại, và hành
chính. Mục tiêu giảm nhu cầu vốn cũng đạt được thông qua cách quản lý tài
13
13
chính của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải cố tìm được những nguồn vốn từ
bên ngoài, vay các nhà cung cấp, nợ thuế Nhà nước, yêu cầu khách mua hàng
ứng tiền trước. Các khoản nợ ngắn hạn này sẽ giúp giảm nhu cầu vốn của Doanh
nghiệp.
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên được biểu diễn
trong sơ đồ sau:
Chu kỳ sản xuất kinh doanh
Nhu cầu vốn nguồn vốn
phải thu
tồn kho
nợ ngắn hạn
Nhu cầu vốn đầu tư
vào tài sản lưu động
thường xuyên
Sơ đồ nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên được tính như sau:
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên = ( tồn kho +
khoản phải thu) - nợ ngắn hạn
Trong thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau :
Nhu cầu vốn đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên < 0
Tức là khoản tồn kho và các khoản phải thu nhỏ hơn nợ ngắn hạn. Chính
vì vậy các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài dư thừa và bù đắp đủ cho các sử
dụng ngắn hạn của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp không cần vốn để tài trợ cho
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Phải thu
tồn kho
20
nợ ngắn hạn
40
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét