Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.Hoạt động cho vay của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.Khái niệm, vai trò hoạt động cho vay của các ngân hàng trong nền
kinh tế thị trường
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho
chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Đối với hầu
hết khách hàng, cả doanh nghiệp lẫn cá nhân, ngân hàng là một trong những
nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh
nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư
vấn và nguồn vốn bổ sung. Hoạt động cho vay của các ngân hàng có mối
quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế bởi vì cho vay thúc đẩy sự
tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế. Cho vay là
chưc năng kinh tế lâu đời nhất của ngân hàng, là hoạt động mang lại nhiều lợi
nhuận cho ngân hàng song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất.
Trong quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo
quyết định số 284/2000/QĐ/NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay được định nghĩa như sau : “Cho vay là
một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trong thời gian
nhất định theo sự thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”.
Hoạt động cho vay có vai trò quan trọng đối với các cá nhân , doanh
nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đối với ngân hàng, tổ
chức tín dụng và đối với toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể như sau:
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Thứ nhất, cho vay là hoạt động cơ bản kết nối những nguồn vốn nhàn
rỗi với những người thực sự có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động
này làm tăng thu nhập cho những người chưa có kế hoặch đầu tư nói chung và
những khoản tiền nhàn rỗi nói riêng, đồng thời làm tăng khả năng hoạt động
của những người có nhu cầu về vốn là doanh nghiệp hay cá nhân. Có thể nói,
hoạt động cho vay tạo ra sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
Thứ hai, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn
trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ. Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền lớn khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì
sẽ tạo nên khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác
tại một ngân hàng khác tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không có
một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ
thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Thứ ba, bằng việc cho vay với lãi suất ưu đãi cho một dự án phát triển
mang tính chất chiến lược cũng là hoạt động tài trợ nằm trong chính sách của
chính phủ để phát triển đất nước.
Thứ tư, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao
cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi huy động và các khoản chi
phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt
động của ngân hàng.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.Các hình thức cho vay của ngân hàng
Theo các tiêu thức khác nhau có thể phân chia làm rất nhiều loại hình cho
vay khác nhau, cụ thể như sau:
1.1.2.1.Theo hình thức cấp tín dụng
Thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời gian nhất
định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này là hạn mức thấu
chi. Để được thấu chi, khách hàng có thể làm đơn xin ngân hàng hạn mức
thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Khi
khách hàng có số tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và
lãi. Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với
những khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
Cho vay trực tiếp từng lần : là hình thức cho vay tương đối phổ biến
của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên,
không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay
mở rộng sản xuất đặc biệt thì khách hàng mới vay ngân hàng, tức là vốn từ
ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu ki sản xuất kinh
doanh.
Mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay
vốn cần thiết. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho cho
vay, xác định quy mô cho vay, xác định thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi
suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt thành những
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hồ sơ khác nhau. Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc
và lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối dơn giản. Ngân hàng có thể
kiểm soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản
đảm bảo.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó
ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín
dụng có thể cấp cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối thiểu tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoặch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kì khách hàng có thể
thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mứac tín dụng.
Mối lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp
các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau
khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền
cho khách hàng.
Đây là hình thức vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng không ấn định ngày trả nợ mà sẽ thu nợ khi khách hàng có thu
nhập do đó tạo tính chủ động trong quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy
nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân
hàng khó có thể kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Việc cho vay dựa trên
luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải
nghiên cứu kế hoặch lưu chuyển hàng hoá để dự phòng ngân quỹ trong thời
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
gian tới. Khi khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Đồng thời khách hàng phải đảm bảo rằng tất cả
số tiền cần vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều
dùng trả vào tài khoản tiền vay trước khi trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng: thủ tục vay chỉ
cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn
kịp thời. Vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Còn đối
với ngân hàng, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hoá tồn
đọng…) thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của
khoản vay không được quy định rõ ràng.
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho
vay trả góp thường áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ
cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng
hoá mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người
vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ
của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay
thường là lãi suất cao nhất trong khung hình lãi suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ
chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức
tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và
khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Nghiệp vụ này tạo khả
năng thanh toán linh hoạt cho toàn bộ nền kinh tế.
Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với một tổ chức tín dụng khác.
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay của các
tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Hình thức cho vay này thường áp dụng đối với những dự án quy mô
lớn, một ngân hàng không dủ khả năng cho vay đồng thời cũng không thể
chiu đựng được rủi ro khi dự án không thành công. Vì vậy khi nhận được dự
án vay vốn, ngân hàng này liên kết với nhiều ngân hàng khác để cùng tài trợ
cho dự án.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay
theo các phương thức mà pháp luật không cấm, phù hợp với các quy định tại
các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ
chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Ví dụ như cho vay theo dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu tư phục vụ đời
sống; cho vay gián tiếp - tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Phụ nữ…
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Theo đó
thì cho vay có thể chia làm thành hai loại:
Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng. Hơn một nửa số khoản vay thương mại của ngân hàng được thực hiện
dưới hình thức cho vay ngắn hạn. Hầu hết những khoản cho vay là nhằm hỗ
trợ cho việc tăng dự trữ hàng hoá, dịch vụ cho nguời vay hoạt động theo mùa.
Khoản vay này được hoàn trả khi hàng tồn kho của người vay được bán và
các khoản thu của nó được thu hồi; lãi suất chỉ được tính trên số vốn vay thực
Cho vay trung và dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến 60 tháng đối với cho vay trung hạn và từ 60 tháng trở lên đối với
cho vay dài hạn. Trong một khoảng thời gian dài, các ngân hàng thương mại
không cho vay dài hạn, thậm chí cũng không cho vay trung hạn, bởi vì thiếu
các công cụ để quản lý rủi ro nảy sinh từ các hình thức cho vay trên, nhất là
thiếu nguồn vốn lâu dài và khó huy động vốn. Nhưng sau này để đáp ứng nhu
cầu khách hàng một cách tốt nhất, các ngân hàng phải dần chú ý đến phần thị
trường cho vay trung, dài hạn và thay đổi phương thức của họ phù hợp với bối
cảnh mới, đặc trưng bởi sự khuyến khích của chính quyền cũng như sự phức
tạp hoá của thị trường tiền tệ hoặc tác động của sự rối loạn gắn chặt với thói
quen. Cho vay trung và dài hạn thưòng dùng để tài trợ cho việc mua tài sản cố
định hoặc mở rộng sản xuất với quy mô lớn, cấp tài chính cho việc thay đổi
về công tác kiểm soát công ty hoặc mua lại khoản vay tín dụng tuần hoàn.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.3.Theo tài sản đảm bảo
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản
đảm bảo khi vay. Lí do là khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro
trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng Những biến cố
không mong đợi có thể gây cho ngân hàng những tổn thất lớn. Chính vì vậy,
trừ những khách hàng có uy tín cao, nhiều khách hàng phải có tài sản đảm
bảo khi nhận tín dụng của ngân hàng. Yêu cầu phải có tài sản đảm bảo, ngân
hàng muốn có được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ
hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ. Theo đó, cho vay cũng được
phân làm hai loại sau:
Cho vay có tài sản đảm bảo: đây là hình thức cho vay có đảm bảo
đối vật, tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc cầm cố. Các
tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hoá trong kho, nhà cửa, thiết
bị…Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản hợp pháp, có khả năng bán được
làm đảm bảo.
+ Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức thế chấp: là hình
thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu
(hoặc sử dụng) của các tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời
gian cam kết song vẫn được quyền sử dụng tài sản với cam kết giữ nguyên
hiện trạng.
Đảm bảo bằng thế chấp thuận lợi cho người đi vay có thể sử dụng
tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh doanh, tuy nhiên có thể gây khó
khăn cho ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát tài sản đảm bảo bởi quá
trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản hoặc khách hàng có thể lợi dụng phân
tán, làm giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy ngân hàng
phải tăng khả năng đánh giá, xem xét kĩ vật thế chấp.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
+ Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố : là hình thức
cho vay theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm
soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết ( thường gọi
là thời gian tài trợ). Ngân hàng quản lý toàn bộ tài sản đó, mọi chi phí liên
quan đến việc quản lý do người vay chịu.
Các tài sản cầm cố thưòng gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chiu ảnh hưởng của
các yếu tố môi trưòng tự nhiên. Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân
hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời viêc ngân
hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài
trợ. Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ
hợp pháp của vật cầm cố, sau đó ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật
cầm cố, kí hợp đồng cầm cố quy định quyền và nghĩa vụ liên quan đến vật
cầm cố.
Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức đảm bảo đối nhân bao
gồm cho vay tín chấp và cho vay có bảo lãnh
+ Cho vay theo tín chấp: là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng
không yêu cầu khách hàng có tài sản đảm bảo mà chỉ dựa trên uy tín của
khách hàng. Trong trường hợp này, khách hàng phải là khách hàng truyền
thống của ngân hàng, có uy tín lớn và tiềm lực tài chính mạnh.
+ Cho vay có bảo lãnh: Trong hình thức cho vay này có sự xuất
hiện của người thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân
hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được. Đối với
người bảo lãnh có uy tín (Nhà nước, các tổ chức tài chính lớn, các công ty
lớn…) , ngân hàng chấp nhận bảo lãnh không cần có tài sản đảm bảo. Trường
hợp còn lại, khi cho vay ngân hàng yêu cầu phải có tài sản đảm bảo.
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1.1.2.4. Theo mục đích sử dụng vốn
Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hoá : là hình thức cho vay đối với
các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để bổ sung vốn đầu tư, mở rộng
hoạt động sản xuất lưu thông hàng hoá.
Cho vay tiêu dùng : là hình thức cho vay để thanh toán các chi phí hợp
pháp phục vụ cho các mục đích tiêu dùng cá nhân bao gồm : mua sắm nhà
cửa, xe cộ, các loại hàng hoá lâu bền như tủ lạnh, điều hoà, máy giặt, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, sửa chữa nhà, cho vay du hoc
1.1.2.5. Theo đối tượng cho vay
Đối tượng cho vay được xét trên các khía cạnh là qui mô vốn, qui mô
lao động là chủ yếu và được chia ra làm hai loại : cho vay doanh nghiệp lớn
và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp lớn là những doanh
nghiệp có qui mô vốn trên 10 tỷ, qui mô lao động trên 300 lao động. Còn lại
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phân loại như thế này sẽ giúp cho
việc quản lý, việc cho vay đối với những đối tượng này có hiệu quả hơn
Sau đây là những vấn đề nghiên cứu liên quan đến DNV&N
1.2.Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.Khái niệm DNV&N
Trong phần các hình thức cho vay của ngân hàng thì doanh nghiệp
vừa và nhỏ được đề cập dưới tiêu thức phân loại là đối tượng cho vay. Trên
thực tế, ở các quốc gia khác nhau, ở các địa phương khác nhau, ở các thời
điểm kinh tế xã hội khác nhau thì DNV&N lại được xác định trên những cơ
sở về quy mô vốn, số lượng lao động khác nhau. Có nghĩa là mặc dù được
xác định trên cơ sở những số tuyệt đối ( quy mô vốn, số lượng lao động)
nhưng khái niệm DNV&N lại vẫn mang tính chất tương đối. Vậy nên khi nói
đến một doanh nghiệp là lớn hay vừa và nhỏ thì ta phải đặt doanh nghiệp vào
Lª Hång V©n Líp: Ng©n hµng 45B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét