1.1.2/ Phát triển ngành công nghiệp thép Việt Nam
Ngành thép Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công trong phát triển!
Nhưng cũng có thực tế là từ hơn 10 năm nay, trong khi thị trường thép Việt
Nam phát triển rất mạnh, thì công nghiệp thép lại chưa phát triển tương ứng.
Và đó là điều bất bình thường của ngành thép Việt Nam.
Tại Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010 (ban hành
năm 2001), Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2005: sẽ đạt sản lượng sản xuất
1,2 - 1,4 triệu tấn phôi thép; 2,5 - 3,0 triệu tấn thép cán các loại; 0,6 triệu tấn
sản phẩm thép gia công sau cán. Còn đến năm 2010, kế hoạch đặt ra sẽ đạt
mức: sản xuất 1,8 triệu tấn phôi thép, 4,5 - 5,0 triệu tấn thép cán các loại; và
1,2 - 1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán.
Phá kỷ lục dự báo !
Về cơ bản, ngành thép đã phát triển đúng kế hoạch, đạt được những chỉ
tiêu trên đúng thời gian xác định. Trừ một số chỉ tiêu then chốt! Chẳng hạn,
đến năm 2007, sản lượng phôi thép sản xuất trong nước mới đạt trên 782.000
tấn - thấp hơn so với mức phải đạt được theo kế hoạch vào năm 2005. Còn
thép cán cả năm 2007 đạt: 2,2 triệu tấn - cũng thấp hơn cả mức phải đạt được
vào năm 2005. Cần phải nói rõ là sản lượng phôi thép và thép cán trong nước
của năm 2007 đã tăng hơn 10% - 14% so với năm 2006. Trong khi đó, thì
lượng thép tiêu thụ của cả nước năm 2007 đã đạt 10,3 triệu tấn - tăng tới 42%
so với năm 2006. Mức tăng này đã phá vỡ mọi dự báo về sự tăng trưởng - đưa
Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất khu vực Đông
Nam Á.
Năm 2007 cũng ghi nhận bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đã gần
tiệm cận "ngưỡng" 100 kg thép/người/năm - mức được nhiều chuyên gia
khẳng định là điểm đầu trong giai đoạn "cất cánh" của công nghiệp quốc gia.
Nhưng dường như, điều này sẽ không có nhiều "ý nghĩa" với thực tế tại Việt
Nam! Vì với 8,1 triệu tấn thép tiêu thụ trong năm 2007 được cung ứng từ các
5
nguồn không phải sản xuất trong nước, đã làm sai lệch hẳn theo hướng nhập
phôi thép! Và, phần lớn sản lượng là thép xây dựng, thì rõ ràng thị trường
thép Việt Nam đang phát triển một cách tự phát!
Tốc độ tăng sản lượng sản xuất trong nước đã không đáp ứng kịp nhu cầu
tăng trưởng, đồng thời dự báo tốc độ tăng trưởng không chính xác, đã đẩy
thị trường thép Việt Nam tới thực tế phụ thuộc vào nguồn thép nhập khẩu. Có
nghĩa là tính chủ động trong chiến lược phát triển ngành và hoạch định thị
trường đã bị suy giảm, bị hạn chế! Và, đó là thực tế không tốt, không bình
thường của ngành thép Việt Nam, với tư cách là công nghiệp cơ bản, đóng vai
trò thúc đẩy các ngành công nghiệp khác của nền kinh tế. Nói một cách hình
tượng: nếu mục tiêu của Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm
2010 của Việt Nam là một đường thẳng, thì thực tế phát triển để đi đến mục
tiêu ấy lại mang dáng vẻ gấp khúc hình chữ Z!
Ai làm chủ thị trường?
Bất chấp sự tăng trưởng của sản lượng sản xuất trong nước và sản lượng
tiêu thụ, giá thép trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc độ phi mã.
Trong 5 năm (2003 - 2008) giá thép đã tăng gấp đôi. Và chỉ trong vài tháng
cuối năm 2007, đầu năm 2008, giá thép đã tăng tới 4 lần, lên tới "ngưỡng"
18 triệu VND/tấn như hiện tại! Giá thép tăng gấp, không những làm các nhà
thầu xây dựng, người tiêu dùng khốn đốn; mà đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền
kinh tế. Vì: Nhà nước buộc phải bù giá vài nghìn tỷ VND cho các nhà thầu;
đồng thời yêu cầu khẩn trương ban hành quy chế mới xác định giá vật liệu
xây dựng đảm bảo sát với diễn biến của thị trường.
Có không ít ý kiến đã khẳng định thép tăng giá là do phân phối thao túng.
Hiệp hội Thép Việt Nam - với số hội viên hiện chiếm trên 80% sản lượng
thép xây dựng - thừa nhận hiện việc đầu cơ giá thép là có thật với hình thức
găm hàng để chờ giá. Cũng theo Hiệp hội thép, thực tế kinh doanh thép hiện
tại chỉ bán qua đại lý đã tạo điều kiện cho giới kinh doanh thép có cơ hội thao
6
túng giá. Thừa nhận này rõ ràng là nghiêm trọng. Vì Chính phủ đã chính thức
có ý kiến yêu cầu các ngành chức năng phải tăng cường giám sát "xử lý
nghiêm những vi phạm về liên kết độc quyền giá, nâng giá thép thành phẩm
bất hợp lý" (Công văn 1609/VPCP-KTTH của Chính phủ ngày 14/3/2008).
Thừa nhận của Hiệp hội thép và "phản ứng" của Chính phủ là sự khẳng
định thực tế thị trường thép Việt Nam hiện nay đang chỉ do một số đầu mối
phân phối thép làm chủ. Xa hơn, các nhà sản xuất thép Trung Quốc cũng
đang chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Vì sản lượng thép thành phẩm nhập về
Việt Nam từ Trung Quốc đang ngày càng tăng, đặc biệt là phôi thép. Với
những điều chỉnh về thuế của chính phủ Trung Quốc trong thời gian gần đây,
không ít DN Việt đã công bố ý định, thậm chí nhập khẩu thép thành phẩm của
Trung Quốc để sử dụng thay cho thép trong nước sản xuất. Và trong thời gian
trước mắt, đó dường như là giải pháp kinh doanh có lợi nhất đối với DN.
Đối với các nhà quản lý và không ít DN, thực tế ấy là hạn chế, nhưng cũng
lại là cơ hội để ngành thép trong nước phát triển. Bằng chứng là có hàng loạt
dự án, với số vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD công bố sẽ đầu tư sản xuất phôi,
các loại thép thành phẩm tại Việt Nam. Mà, tín hiệu đầu tiên chính là việc
công bố sản xuất thành công thép tấm cán nóng tại cụm công nghiệp (CCN)
thép Cửu Long Vinashin (Hải Phòng). Đây là CCN thép được xây dựng từ
năm 2004 với số vốn đầu tư lên tới trên 1.400 tỉ đồng. Sản lượng của CCN
này đủ đáp ứng tới 20% nhu cầu thép tấm mỗi năm của Việt Nam - loại sản
phẩm từ trước đến nay DN trong nước hoàn toàn phải nhập khẩu ! Cái
"được" nữa là với việc tổ chức CCN thép này thành 6 NM hoàn chỉnh, khép
kín từ khâu luyện phôi đến cán thép thành phẩm và chế tạo thiết bị, khí công
nghiệp Mô hình này sẽ: không những đảm bảo sự chủ động trong quản lý
sản xuất; mà còn đảm bảo khai thác tối đa các giá trị gia tăng từ các loại sản
phẩm thép. Xa hơn, điều đó cũng có nghĩa là nhà sản xuất sẽ nắm được quyền
chủ động kinh doanh trên thị trường thép.
7
1.1.3/ Thị trường ống thép và phôi thép
Suốt trong một thời gian dài cho đến nay, thị trường ống thép luôn ở trong
tình trạng cung lớn hơn cầu. Hiện nay, năng lực sản xuất ống thép toàn ngành
đạt khoảng 4 triệu tấn/ năm. Trong khi nhu cầu thị trường chỉ ở mức khiêm
tốn là 2 triệu – 3 triệu tấn/năm. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sản xuất
thép VN vẫn đang phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài. Lượng phôi thép
ngoại nhập chiếm tới 70% trong tổng các nguồn phôi. Hơn nữa cung luôn
trong tình trạng lớn hơn cầu, làm cho giá bán đôi khi thấp hơn giá thành sản
phẩm. Thực trạng này đang đặt ra một thách thức to lớn cho người “đứng mũi
chịu sào” là Hiệp hội thép VN phải tìm ra một hướng đi mới, một giải pháp
mới cho việc tự chủ nguồn phôi, nguyên liệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động cho ngành sản xuất thép trong nước.
“ Hiện nay, giá thép của một số đơn vị trong Tổng công ty Thép Việt
Nam chỉ ở mức hơn 13 triệu đồng/tấn đối với các loại thép cuộn và thép cây.
Giá thép của Công ty gang thép Thái Nguyên (đã tính 5% VAT) đối với thép
cây là 13,65 triệu đồng/tấn và thép cuộn là 13,7 triệu đồng/tấn. Trong khi đó,
giá bán tại các đại lý lên tới 15 - 16 triệu đồng/tấn, thậm chí có nơi bán tới 17
triệu đồng/tấn, đã gây ra sự chênh lệch lớn về giá trên thị trường thép xây
dựng.
Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, nguyên
nhân quan trọng khiến cho giá thép liên tục tăng cao là do phụ thuộc vào
nguồn phôi thép nhập khẩu, đến 50% nhu cầu thép trong nước, mà phần lớn
nhập từ Trung Quốc. Trong khi, giá phôi thép Trung Quốc liên tục có những
biến động khó lường. Đặc biệt, để siết chặt xuất khẩu, đầu năm 2008 Trung
Quốc đã chính thức nâng thuế xuất khẩu phôi thép từ 15% lên 25% và từ 10%
lên 15% đối với thép thành phẩm.
Tuy nhiên, việc mua phôi thép từ Trung Quốc cũng đang rất khó khăn do
nước này cắt giảm sản lượng phôi thép và thép thành phẩm nhằm hạn chế ô
8
nhiễm môi trường. Do vậy, các doanh nghiệp phải tìm mua phôi từ các nước
trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan và các nước khác như Thổ
Nhĩ Kỳ, Nga, Ucraina thậm chí là từ Nam Phi hay Brazil. Tuy nhiên, việc mua
phôi từ các nước này cũng không dễ dàng.
Cuối năm 2007, các doanh nghiệp thép đã nhập khẩu một lượng phôi dự trữ,
số phôi này đủ dùng đến hết quý 1/2008. Tuy nhiên, giá phôi thép được dự báo
sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới và đạt mức 730 USD/tấn trong
tháng đầu năm 2008 (hiện nay, công ty thép Vinakyoei đã phải mua với giá 742
USD/tấn, còn các công ty khác mua với giá trung bình khoảng 720 USD/tấn),
thêm vào đó, có thông tin trong thời gian tới giá quặng sắt sẽ tăng thêm 30% và
than mỡ tăng thêm 20% thì giá phôi thép sẽ tiếp tục còn tăng cao.
Theo dự tính, trong năm 2008 tổng nhu cầu phôi cho sản xuất thép vào
khoảng 4,6 triệu tấn. Tuy nhiên, nguồn phôi trong nước mới chỉ đáp ứng được
2 triệu tấn, còn lại hơn 2 triệu tấn vẫn phải nhập khẩu.
Cũng theo ông Phạm Chí Cường, ngành thép đang gặp rất nhiều khó khăn
trong việc nhập khẩu thép phế liệu để sản xuất phôi. Ông Cường cho rằng, cần
quy định lại cho rõ ràng về quy định nhập khẩu thép phế, để các cơ quan cùng
hiểu rõ và từ đó tìm ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho
ngành thép trong việc nhập khẩu thép phế sao cho hài hòa giữa lợi ích kinh tế
và đảm bảo được yêu cầu bảo vệ môi trường.
Nhằm hạn chế và kiềm giá trên thị trường, các doanh nghiệp thuộc Tổng
công ty Thép như Thép Thái Nguyên, Thép miền Nam đã buộc phải tăng giá,
tuy nhiên việc tăng giá cũng hạn chế chỉ từ 100-200 nghìn đồng/tấn, nhưng giá
này vẫn thấp hơn giá của các công ty ngoài (không thuộc Tổng công ty Thép)
từ 500 nghìn - 1 triệu đồng/tấn.
Do biết được thông tin này, một số doanh nghiệp thương mại đã đặt hàng
của hai công ty Thép Thái Nguyên và Thép miền Nam với số lượng hàng nghìn
tấn và trả tiền trước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thương mại đã tích trữ
tới vài vạn tấn thép đợi đợt tăng giá thép mới bán ra.
9
Theo một số chuyên gia trong ngành thép cho biết, với tốc độ phát triển
nhanh cùng với nhu cầu xây dựng tăng cao thì nhu cầu thép của thị trường
trong năm 2008 tăng khoảng 20% so với năm 2007, sẽ khiến giá thép tiếp tục
tăng cao trong thời gian tới.
Tuy nhiên, sẽ không có chuyện khan hiếm hàng, bởi các doanh nghiệp
không hề giảm sản lượng mà ngược lại còn tăng lên. Theo thống kê của Hiệp
hội Thép, trong mấy tháng cuối năm 2007 sản lượng thép tăng khá cao, trung
bình đạt 330 nghìn tấn/tháng, nhất là trong tháng 10/2007 sản lượng thép đạt
mức 380 nghìn tấn.
Ông Cường cho rằng, để giải quyết tình trạng căng thẳng về nguồn cung
phôi chỉ còn cách duy nhất là đẩy mạnh sản xuất phôi trong nước. Như vậy, sẽ
không những chủ động được đầu vào mà giá cũng sẽ thấp hơn nhập khẩu. Bởi
lẽ, giá thành phôi sản xuất trong nước thấp hơn nhập khẩu tới 200 USD/tấn.
Tuy nhiên, hiện nay các nhà sản xuất trong nước lại đang gặp khó khăn
trong nhập khẩu thép phế do chưa có quy định rõ ràng của các cơ quan chức
năng. Hiệp hội thép cũng đã có kiến nghị với Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ
Công Thương cần có những quy định thoáng hơn các tiêu chuẩn môi trường,
tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước được nhập khẩu thép phế, giảm
giá thành sản xuất phôi nội. ”
( Nguồn từ website : http.//www.yb.com.vn )
1.1.4/ Thị trường thép tấm, thép lá và xà gồ
Thị trường thép tấm, lá và xà gồ nói chung cũng có tình trạng tương tự như
thị trường ống thép đó là cung thường lớn hơn cầu, gía cả phụ thuộc và lên
xuống theo giá nguyên liệu đầu vào và nhu cầu của khách hàng. Đôi khi sự
lên xuống đó là thất thường. Gía thép tấm, lá vào hai quý cuối năm 2004 có
xu hướng tăng mạnh do nguồn cung thế giới giảm mạnh, Nhưng đến năm
2005 thì xu hướng giảm mạnh giá bán lại xuất hiện trên thị trường do nhu cầu
thị trường giảm xuống. Đến quý 1 năm 2007, nhu cầu thép tấm, lá tương đối
10
ổn định, do vậy giá cả cũng không có nhiều biến động. Riêng đối với thị
trường xà gồ thì do điều kiện thời tiết nước ta vẫn chưa vào mùa mưa nên các
công trình công nghiệp vẫn đang được xây dựng nhiều. Do vậy làm cho nhu
cầu, giá cả xà gồ tăng lên nhưng tăng một cách chậm dần.
Sau khi nước ta gia nhập WTO, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các
công trình công nghiệp, dân dụng, nhu cầu của các ngành cơ khí chế tạo…sẽ
tăng lên nhanh chóng trong những năm tới, mở ra cơ hội phát triển mới cho
các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thép nói chung
Bảng báo giá thép tấm, lá, cuộn
11
Thứ
tự
Tên sản phẩm
Độ
dài
(m)
Trọng
lượng
(Kg)
Giá
chưa
VAT
(Đ/Kg)
Tổng giá
chưa VAT
Giá có
VAT
(Đ/Kg)
Tổng giá
có VAT
Đặt
hàng
Thép tấm, lá CT3C-SS400-08KP-Q235B (Thời gian hiệu lực từ ngày 11/04/2008)
1 Thép lá cán nguội 0.8 x 1250 x 2500mm 19,6 15.800 309.680 16.590 325.164
2 Thép lá cán nguội 1.0 x 1250 x 2500mm 24,53 15.800 387.574 16.590 406.953
3 Thép lá cán nguội 1,2 x 1250 x 2500mm 30,4 15.800 480.320 16.590 504.336
4 Thép lá cán nguội 1,5 x 1250 x 2500mm 36,79 15.800 581.282 16.590 610.346
5 Thép lá cán nguội 0,5x1000 x 2000mm 7,85 15.800 124.030 16.590 130.232
6 Thép lá SS400 2,0 x 1000 x2000mm 31,4 14.848 466.215 15.590 489.526
7 Thép lá SS400 2,5 x 1250 x 2500mm 61,3 14.848 910.159 15.590 955.667
8 Tấm SS400 3.0 x 1250 x 6000mm 176,62 13.809 2.438.870 14.499 2.560.813
9 Tấm SS400 3.0 x 1500x 6000mm 212 13.809 2.927.417 14.499 3.073.788
10 Thép tấm SS400 4,0 x 1500 x 6000mm 282,6 13.332 3.767.731 13.999 3.956.117
11 Thép tấm SS400 5,0 x 1500 x 6000mm 353,25 13.332 4.709.664 13.999 4.945.147
12 Thép tấm SS400 6,0 x 1500 x 6000mm 423,9 13.332 5.651.596 13.999 5.934.176
13 Thép tấm SS400 8,0 x 1500 x 6000mm 565,2 13.332 7.535.462 13.999 7.912.235
14 Thép tấm SS400 10 x 1500 x 6000mm 706,5 13.332 9.419.327 13.999 9.890.294
15 Thép tấm SS400 12 x 2000 x 6000mm 1.130,4 13.332 15.070.923 13.999 15.824.470
16 Thép tấm SS400 14 x 1500 x 6000mm 989,1 14.285 14.129.058 14.999 14.835.511
17 Thép tấm SS400 16 x 2000 x 6000mm 1.507,2 15.047 22.678.336 15.799 23.812.253
18 Thép tấm SS400 18 x 1500 x 6000mm 1.271,7 15.237 19.377.075 15.999 20.345.928
19 Thép tấm SS400 20 x 2000 x 6000mm 1.884 15.237 28.706.777 15.999 30.142.116
20 Thép tấm SS400 22 x 1500 x 6000mm 2.072,4 15.713 32.564.312 16.499 34.192.528
21 Thép tấm SS400 25x 2000 x 6000mm 2.355 15.237 35.883.471 15.999 37.677.645
22 Thép tấm SS400 30 x2000 x6000mm 2.826 15.237 43.060.166 15.999 45.213.174
23 Thép tấm SS400 40ly x 1500 x 6000mm 2.826 15.713 44.405.880 16.499 46.626.174
24 Thép tấm SS400 50 x 1500 x 6000mm 2.961 15.713 46.527.180 16.499 48.853.539
25 Thép tấm SS400 60mm ->100mm 1 16.276 16.276 17.090 17.090
26 Thép lá nguội 0,5-0,6x1250mm xcuộn 1 15.514 15.514 16.290 16.290
27 Thép lá cán nguội 0,7-0,9x1250mm xcuộn 1 15.514 15.514 16.290 16.290
28 Thép lá cán nguội 1,0-1,1x1250mm xcuộn 1 15.514 15.514 16.290 16.290
29 Thép lá cán nguội 1,2-1,5x1250mm xcuộn 1 15.514 15.514 16.290 16.290
30 Thép lá cán nguội 2.0x1410x2500mm 55,34 14.562 805.856 15.290 846.149
31 Tấm SS400 110mm ->150mm 1 16.752 16.752 17.590 17.590
32 Tấm 5->12 x 1500 x 6000 CT3PC KMK 1 15.133 15.133 15.890 15.890
33 Tấm 14->16 x 1500 x 6000 CT3PC KMK 1 16.181 16.181 16.990 16.990
Thép tấm 16Mn(Q345B)-C45-65G (Thời gian hiệu lực từ ngày 11/04/2008)
34 Tấm 16Mn 6x1800x6000mm 508,68 15.237 7.750.830 15.999 8.138.371
35 Tấm 16Mn 8x1800x6000mm 678,24 15.237 10.334.440 15.999 10.851.162
36 Tấm 16Mn 10x1800x6000mm 847,8 15.237 12.918.050 15.999 13.563.952
37 Tấm 16Mn 12x1800x6000mm 1.017,36 15.237 15.501.660 15.999 16.276.743
38 Tấm 16Mn 14x1800x6000mm 1.186,92 16.943 20.109.816 17.790 21.115.307
12
1.1.5/ Dự báo nhu cầu thép năm 2008
“ Tổng khối lượng tiêu thụ thép năm 2008 của Việt Nam sẽ là 9 triệu tấn
(tăng 25% so với năm 2006) bao gồm dự báo nhu cầu của tất cả các loại
thép như Phôi, Tấm lá cán nóng, nguội thép hình, thép đặc chủng
Tổng khối lượng tiêu thụ thép năm 2008 của Việt Nam sẽ là 9 triệu tấn (tăng
25% so với năm 2006) bao gồm :
- Tổng nhu cầu Thép phôi là 4,4 triệu tấn
- Nhập khẩu là 2,4 triệu tấn và trong nước sản xuất là 1,8 triệu tấn
- Nhập khẩu phế liệu là 0,6 triệu tấn, Trong nước thu gom được 1,2 triệu tấn
Tổng nhu cầu cho thép hình là khoảng 0,25 triệu tấn, trong đó nhập khẩu là
0,14 triệu tấn, trong nước sản xuất ở các kích cỡ nhỏ khoảng 0,11 triệu tấn.
Tổng nhu cầu của thép cán nguội là 1,2 triệu tấn trong đó nhập khẩu 0,7 triệu
tấn trong nước sản xuất khoảng 0,5 triệu tấn.
Tổng nhu cầu thép tấm lá cán nóng là khoảng 2,8 triệu tấn trong đó cán lại
khoảng 0,55 triệu tấn, để làm ống khoảng 0,45 triệu tấn, Cuộn cán nóng cắt
nhỏ và xây dựng khoảng 0,9 triệu tấn, Tấm cán nóng cho đóng tàu và xây dựng
khoảng 0,9 triệu tấn, gần như tất cả khối lượng này từ nhập khẩu.
Tổng nhu cầu cho thép Inox và các loại thép đặc chủng khác ít nhất là 0,5 triệu
tấn (Trong đó khối lượng nhập khẩu chiếm 90%)
Như vậy tổng nhu cầu khoảng 9 triệu tấn cho năm 2008 trong đó nhập khẩu
chiếm khoảng 7 triệu tấn.”
( Nguồn từ website : http://www.metal.com.vn )
1.2/ Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Thương mại Nhật Quang 1.2.1/
Lịch sử hình thành và phát triển
13
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập ASEAN vào năm 1995; nhu cầu đầu
tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, cơ khí chế tạo, nhằm cải thiện và xây dựng
mới cơ sở hạ tầng, vật chất, kĩ thuật cho đất nước đang tăng cao…Công ty
TNHH TM Nhật Quang đã ra đời vào ngày 1/6/1999, theo giấy đăng kí kinh
doanh số: 071823 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.
Nhà máy cán thép đầu tiên của công ty được xây dựng tại ngõ 53/109, Đức
Giang – Gia Lâm – Hà Nội, với tổng số vốn đầu tư ban đầu là khoảng 11.5 tỷ
đồng. Tuy giai đoạn đầu mới thành lập còn nhiều khó khăn trong việc tạo lập
và phát triển thị trường. Song các cấp lãnh đạo và toàn thể cán bộ, công nhân
viên luôn cố gắng làm việc hết mình vì sự phát triển chung của công ty. Do đó
công ty đã dần từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu, và đến nay có
thể coi là đã có một vị trí nhất định trên thị trường, đã tạo được niềm tin nơi
khách hàng. Đầu năm 2006 vừa qua Nhật Quang (NQ) đã đầu tư xây dựng
thêm một nhà máy cán thép mới ở KCN Phố Nối – Hưng Yên, với tổng số
vốn đầu tư ban đầu lên đến 50.3 tỷ đồng. Điều đó góp phần chứng tỏ rằng
công ty đã có sự lớn mạnh cả về chất lẫn về lượng trên cả 3 phương diện nhân
lực, vật lực, tài lực và thị trường của công ty đã, đang được mở rộng.
Đầu năm 2006 vừa qua Nhật Quang (NQ) đã đầu tư xây dựng thêm một nhà
máy cán thép mới ở KCN Phố Nối – Hưng Yên, với tổng số vốn đầu tư ban
đầu lên đến 50.3 tỷ đồng. Điều đó góp phần chứng tỏ rằng công ty đã có sự
lớn mạnh cả về chất lẫn về lượng trên cả 3 phương diện nhân lực, vật lực, tài
lực và thị trường của công ty đã, đang được mở rộng.
1.2.2/ Phương thức hoạt động của công ty TNHH Thương mại Nhật
Quang
1.2.2.1/ Sự luân chuyển của dòng thông tin nội bộ
Khi bắt đầu lập kế hoạch, cũng như xác định các mục tiêu, các chiến lược
sản xuất, kinh doanh, các hoạt động cụ thể cho từng thời kì thì giám đốc công
ty sẽ đứng ra tổ chức cuộc họp hội đồng cổ đông để bàn bạc, rồi đi đến thống
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét