Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Tài liệu lưu trữ nhân dân

5
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG I - TÌM HIỂU VỀ TÀI LIỆU LƯU TRỮ NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm tài liệu lưu trữ nhân dân
Tài liệu lưu trữ có thể xem như một loại hình di sản văn hóa của dân tộc.
Ngay từ những ngày đầu của Chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất
đề cao ý nghĩa của cơng tác lưu trữ khi chỉ rõ "tài liệu có giá trị đặc biệt về phương
diện kiến thiết quốc gia" (trích Thơng đạt số 1 C/VP ngày 3/1/1946). Cho đến nay,
cơng tác lưu trữ chỉ liên quan đến các tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ
quan nhà nước và trong các tổ chức chính trị xã hội. Pháp lệnh lưu trữ quốc gia
năm 2001 đã khẳng định rõ: “ Tài liệu lưu trữ quốc gia là tài liệu có giá trị về chính
trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hố, giáo dục, khoa học và cơng
nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, qua hoạt
động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (sau
đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc
nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn”. Định nghĩa chính thống này
đã nhắc tới các tài liệu hình thành trong đời sống của cá nhân nổi tiếng, nhưng
thành phần tài liệu thuộc loại như vậy trong các cơ sở lưu trữ của ta khơng đáng kể.
Hơn nữa, xét trên phương diện lý thuyết, việc xác định tài liệu lưu trữ cá nhân chỉ
liên quan đến những nhân vật nổi tiếng cũng tạo nên những rào cản cho sự mở rộng
phạm vi thu thập các tài liệu có nguồn gốc cá nhân và đang nằm trong tay nhân
dân. Ngồi ra, trong thời kỳ hội nhập, khi kinh tế tư nhân đang được bình đẳng với
các thành phần kinh tế khác thì tài liệu lưu trữ hình thành do hoạt động của thành
phần kinh tế này cũng cần có một vị trí mới.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Trên thế giới, “tài liệu lưu trữ nhân dân” là thuật ngữ khơng còn mới mẻ,
nhưng ở Việt Nam, việc xây dựng một khái niệm thống cho “tài liệu lưu trữ nhân
dân” vẫn còn bỏ ngỏ. Hiện nay có nhiều quan niệm về tài liệu lưu trữ nhân dân.
Chẳng hạn như theo Nguyễn Văn Thâm, tài liệu lưu trữ nhân dân có thể là một bản
thảo về một cơng trình nghiên cứu của cá nhân, một sáng tác nghệ thuật, một bức
ảnh chưa cơng bố, các bằng phát minh sáng chế, giấy chứng nhận bản quyền được
cấp cho các sản phẩm được đăng ký độc quyền, tài liệu về các giải thưởng của cá
nhân trên các lĩnh vực, các giấy tờ về nhân thân của mỗi người, di chúc… Đó cũng
có thể là một bản thiết kế cơng trình tư nhân, các hợp đồng nhân sự, kế hoạch sản
xuất, kinh doanh của các cơng ty tư nhân, tài liệu của các trường tư, của các tổ chức
được thành lập và hoạt động dưới quyền điều hành của các cá nhân khơng thuộc hệ
thống cơ quan nhà nước như các văn phòng tư vấn, các tổ chức từ thiện… Tất cả
những tài liệu này có thể gọi chung là tài liệu lưu trữ nhân dân. Nhưng đối với một
khái niệm, việc liệt kê thành phần, loại hình của đối tượng được đề cập tới nên
được hạn chế. Khái niệm về tài liệu lưu trữ nhân dân cũng vậy. Nếu như coi sự liệt
kê các loại tài liệu nói trên là khái niệm tài liệu lưu trữ nhân dân thì khái niệm này
khơng tồn diện, đầy đủ. Tài liệu lưu trữ từ nhân dân là một khái niệm rất rộng, bên
cạnh những loại hình tài liệu đã được biết đến hiện nay, cũng có thể tồn tại những
loại hình tài liệu mới, chưa từng được nhắc tới, nhưng vẫn tồn tại lẩn khuất đâu đó
trong nhân dân.
Một cách hiểu khác về tài liệu lưu trữ nhân dân đã được tác giả Trần
Hồng đưa ra trong một bài viết về kho lưu trữ nhân dân trên Tạp chí Văn thư Lưu
trữ Việt Nam, đó là: “Tài liệu lưu trữ nhân dân có thể là bản chính, bản gốc hoặc
bản sao hợp pháp tài liệu được ghi trên giấy, phim, ảnh, băng hình, băng ghi âm,
đĩa âm thanh hoặc các vật mang tin khác”. Định nghĩa này khơng liệt kê các thành
phần tài liệu cụ thể như định nghĩa đã nêu ở trên, nhưng lại chưa làm rõ được
những nét đặc thù, riêng biệt của loại hình tài liệu lưu trữ nhân dân. Ở đây, ta vẫn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
thấy tài liệu lưu trữ nhân dân và tài liệu lưu trữ nói chung gần như khơng có sự
phân biệt.
Trong qúa trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tham khảo những tài liệu
về lý luận và thực tiễn cơng tác lưu trữ. Trên cơ sở kế thừa những cách hiểu về tài
liệu lưu trữ nhân dân của các tác giả đi trước, trong phạm vi đề tài nghiên cứu khoa
học sinh viên, nhóm nghiên cứu xin được đưa ra một cách hiểu về tài liệu lưu trữ
nhân dân như sau: Tài liệu lưu trữ nhân dân là tài liệu thuộc quyền sở hữu hợp
pháp của cơng dân và khơng thuộc nguồn nộp lưu vào các lưu trữ lịch, có ý
nghĩa khơng chỉ với nhân dân mà còn có nhiều ý nghĩa khác về mặt lịch sử,
kinh tế, văn hố, giáo dục…

1.1.1. Đặc điểm tài liệu lưu trữ nhân dân
Nếu như tài liệu lưu trữ nhà nước được tổ chức dựa vào những định chế
mang tính quyền lực của nhà nước thì tài liệu lưu trữ nhân dân đòi hỏi phải được tổ
chức quản lý theo những định chế riêng, bởi vì đó là tài sản riêng của cơng dân
hoặc một nhóm cơng dân hoạt động theo pháp luật. Đó là những tài liệu có ý nghĩa
trên nhiều mặt và khơng thuộc nguồn nộp lưu vào các lưu trữ Nhà nước. Tại Điều
5, Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia khẳng định: “ 1. Tài liệu riêng của cá nhân, gia đình,
dòng họ có giá trị như tài liệu quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này được Nhà
nước đăng ký và bảo hộ; cơ quan lưu trữ có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ về kỹ
thuật bảo quản; 2. Nhà nước khuyến khích việc tặng cho, ký gửi tài liệu riêng của
cá nhân, gia đình, dòng họ cho cơ quan lưu trữ; trong trường hợp bán tài liệu riêng
của cá nhân, gia đình, dòng họ thì phải báo cho cơ quan lưu trữ và ưu tiên bán cho
cơ quan lưu trữ.”. Như vậy, phần lớn những tài liệu lưu trữ của cơng dân khơng
được lưu trữ cơng thu thập, bảo quản. Nhà nước khuyến khích các cá nhân hiến
tặng hay bán cho Nhà nước những tài liệu lưu trữ có giá trị để đưa vào bảo quản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
trong các kho lưu trữ do Nhà nước quản lý nhằm phát huy cao độ khả năng khai
thác các tài liệu đó.
Một điểm cần lưu ý ở khái niệm này đó là ngồi các cá nhân còn có các
nhóm cá nhân sở hữu tài liệu lưu trữ nhân dân. Nhóm cá nhân đó có thể là một
doanh nghiệp tư nhân, gồm một hoặc nhiều thành viên cùng sở hữu các tài liệu
chung của doanh nghiệp như mẫu thiết kế, hợp đồng…; trong các làng, xã thì
những tài liệu như thần tích, thần sắc thuộc quyền sở hữu chung của cả dân làng.
Tài liệu lưu trữ nhân dân là những tài liệu có giá trị khơng chỉ đối với cá
nhân, nhóm cá nhân mà còn mang những giá trị khác về mặt lịch sử và thực tiễn.
Rất nhiều tài liệu của các tổ chức và cơng dân khơng nằm trong danh mục tài liệu
thu vào các kho lưu trữ do Nhà nước quản lý, trong những hồn cảnh cụ thể vẫn
phục vụ tốt cho việc nghiên cứu lịch sử và hoạt động thực tiễn.
Như vậy, ngồi những đặc điểm cơ bản được khái qt trong khái niệm đã
nêu trên thì tài liệu lưu trữ nhân dân còn mang những đặc điểm sau:
Một là, cũng giống như tài liệu lưu trữ nói chung, tài liệu lưu trữ nhân dân
cũng phản ánh những thơng tin q khứ. Đó là các sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch
sử, những thành quả lao động sáng tạo của nhân dân ta trong các thời kỳ lịch sử….
Hai là, loại hình tài liệu lưu trữ nhân dân rất đa dạng. Đó có thể là những
tài liệu của cá nhân như giấy tờ tuỳ thân, những tài liệu do cơng dân thu thập, sưu
tầm được, những tài liệu gia truyền (gia phả, tộc phả ); tài liệu của doanh nghiệp
tư nhân cũng như những bản hợp đồng, những mẫu thiết kế …
Ba là, tài liệu lưu trữ nhân dân khơng phân biệt thời gian, xuất xứ, tác giả,
kỹ thuật chế tác và phương thức làm ra tài liệu… đối với một cá nhân, bên cạnh
giấy tờ tuỳ thân còn có những tài liệu tản mạn khác do cá nhân đó sưu tầm được
như những pho sách cổ , hoặc những tài liệu của gia đình, dòng tộc cá nhân đó
như gia phả, tộc phả Đối với doanh nghiệp, tài liệu lưu trữ nhân dân có thể là bản
hợp đồng của doanh nghiệp ký kết với doanh nghiệp khác, những tài liệu về đối thủ
cạnh tranh mà doanh nghiệp đó thu thập được, cũng có thể là những bản thiết kế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
mẫu mã sản phẩm được hình thành từ khi doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt
động….
Bốn là, những tài liệu lưu trữ nhân dân khơng tập trung ở một chỗ, mà
nằm rải rác trong nhân dân, trong từng gia đình, từng làng xã, từng doang nghiệp tư
nhân…do nhân dân tự lưu giữ, bảo quản và sử dụng theo những mục đích riêng.
Đây là điểm khác biệt so với tài liệu lưu trữ nhà nước bởi tài liệu lưu trữ nhà nước
được bảo quản tập trung, thống nhất tại các phòng, kho lưu trữ nhà nước; được tổ
chức khai thác sử dụng một cách khoa học, nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân và
xã hội.

1.1.2. Thành phần tài liệu lưu trữ nhân dân
1.1.2.1. Tài liệu thuộc sở hữu của cá nhân
*Tài liệu về thân thế, sự nghiệp
Đối với mỗi cá nhân, trong cả cuộc đời của mình đều gắn bó mật thiết với
những loại giấy tờ, tài liệu nhất định. Đó là những giấy tờ nhân thân như giấy khai
sinh, chứng minh thư, sổ hộ khẩu Những tài liệu này là minh chứng xác nhận
cho sự tồn tại, cho tư cách cơng dân của một con người. Bên cạnh đó, trong q
trình sống và hoạt động, mỗi cá nhân đều có những giấy tờ, tài liệu liên quan như:
giấy chứng nhận q trình cơng tác, tun duơng thành tích cơng trạng, giấy tờ liên
quan đến quyền sở hữu, thừa kế tài sản…. Những tài liệu này rất có ý nghĩa đối với
riêng cá nhân đó, về mặt vật chất hoặc tinh thần. Vì thế mỗi cá nhân đều có nhu cầu
lưu giữ những tài liệu của riêng mình.
Đối với những cá nhân tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho xã hội thì những
tài liệu do họ sản sinh ra trong q trình sống và hoạt động khơng chỉ có ý nghĩa
đối với bản thân cá nhân đó, mà còn mang ý nghĩa to lớn đối với tồn xã hội.

* Tài liệu do cá nhân thu thập, sưu tầm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Trong khối tài liệu của nhân dân, do nhân dân sở hữu khơng chỉ có những tài
liệu liên quan đến bản thân họ mà còn có rất nhiều những tài liệu khác. Đó là
những tài liệu của gia đình, dòng họ truyền lại như gia phả, những bí quyết gia
truyền, những cuốn sách cổ…. Trong các tộc phả của các dòng họ còn ẩn chứa biết
bao tài liệu q mà chúng ta chưa có điều kiện khai thác - đó là những ghi chép
chân thực nhất về bối cảnh xã hội giờ cùng sự phát triển của dòng họ. Chẳng hạn
như trong cuốn “Lương gia thế phả” hiện còn đang giữ ở nhà thờ họ Lương (làng
Nhị Khê – Hà Tây), có ghi chép rất tỷ mỉ về các sự kiện, nhân vật liên quan đến
dòng họ; trong đó có bản di chúc của Ơn Như - Lương Văn Can. Cụ đã để lại một
bản di chúc cho dòng họ và dân tộc, đoạn mở đầu viết bằng chữ Hán và phần nội
dung viết bằng chữ Nơm - với mong muốn con dân nước Việt đừng bao giờ ngi
nỗi đau mất nước. Ngồi ra, tài liệu do cá nhân sưu tầm cũng có thể là những tài
liệu tản mạn, do cá nhân tự thu thập và sưu tầm được như những pho sách cổ,
những bản khắc chữ cổ, những bức tranh thờ Hàng Trống….

1.1.2.2. Tài liệu thuộc sở hữu của các làng, xã
Làng xã Việt Nam có tính cộng đồng và tự trị rất cao. Do đó, trong một
làng xã có những tài sản thuộc sở hữu chung của mọi người như đình làng, cổng
làng, những đồ vật cổ, q hiếm của làng, và trong đó có cả những tài liệu lưu trữ
nhân dân như thần tích, thần sắc, bản ghi chép về lịch sử làng nghề, những sắc
phong của nhà vua cho những người có cơng thành lập làng… Đó khơng chỉ là
những tài liệu q, có giá trị đối với làng, xã đó, mà những tài liệu đó còn có những
giá trị to lớn trong nghiên cứu lịch sử, có ý nghĩa giáo dục, kinh tế, văn hố….
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì việc khơng thể dựng lên một bức
tranh chân thực về đời sống của người dân trong các làng xã phong kiến xưa vì
nguồn sử liệu trong nhân dân hiện nay vẫn bị giấu kín và chưa có điều kiện phát
hiện. Qua những lần điền dã dân tộc học, các nhà sử học đều phát hiện được những
điều hết sức ngạc nhiên còn ẩn chứa trong nhân dân mà trong các viện sử học
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
khơng tìm thấy. Nghiên cứu về làng xã Việt Nam, người ta tìm đến các tộc phả của
dòng họ tại địa phương, những dòng chữ được khắc trên các bia mộ,…, thậm chí cả
những lời kể của người dân cũng được coi là nguồn sử liệu đáng q cần được xem
xét.

1.1.2.3. Tài liệu của các tổ chức tư nhân
Xã hội càng phát triển thì số lượng ngày càng nhiều. Đó có thể là các doanh
nghiệp tư nhân, các Hội do cá nhân tự thành lập như Hội đồng hương, Hội đồng
khố, Hội người cao tuổi Tài liệu của những tổ chức này khơng chỉ có ý nghĩa
đối với các thành viên trong hội mà đơi khi còn có ý nghĩa đối với xã hội.
Theo đường lối mới của Đảng ta, ngày nay kinh tế tư nhân đang được đặt
bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong q trình phát triển kinh tế của đất
nước. Điều này đã được ghi trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước.
Vì thế các sản phẩm hình thành do hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân - kể cả
tài liệu lưu trữ cũng cần phải có một vị trí mới, rộng hơn nhiều so với quan niệm
cũ.
Những tài liệu sản sinh trong các doanh nghiệp tư nhân có thể là kế hoạch
sản sản xuất, kinh doanh; các ký kết hợp đồng, các dây chuyền cơng nghệ….

1.2. Giá trị của tài liệu lưu trữ nhân dân
1.2.1. Giá trị lịch sử
Như chúng ta đã biết tài liệu có trong nhân dân, do nhân dân sở hữu khơng
phải chỉ có những tài liệu liên quan đến thân thế sự nghiệp và chỉ có giá trị đối với
riêng cá nhân đó mà trong nhân dân còn tồn tại rất nhiều tài liệu q, có giá trị
nhiều mặt như: Giá trị lịch sử, văn hố, kinh tế…Những tài liệu ấy hiện nay còn
nằm rải rác trong nhân dân và hầu như khơng được biết đến, nhưng đơi khi những
tài liệu “vơ danh” ấy lại có giá trị lịch sử rất lớn đối với cả một dân tộc. Chẳng hạn
như những cuốn cổ sử còn sót lại trong các làng xã, gia đình, dòng họ; những cuốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
tộc phả; những dấu tích của nhà vua để lại tại các vùng q trong những lần đi vi
hành….Đó là những minh chứng lịch sử rất quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn
tồn diện hơn về q khứ của dân tộc. Thời đại phong kiến trong các triều đình
khơng bao giờ thiếu đi vai trò của người biên chép lịch sử về triều đại đó và các
triều đại trước. Nhờ đó mà trải qua hàng nghìn năm cho tới tân ngày nay, chúng ta
vẫn có thể biết cuộc sống của cha ơng mình những ngày mới hình thành đất nước.
Những cái tên như: Lê Văn Hưu, Ngơ Sĩ Liên….hẳn đã trở nên rất đỗi quen thuộc
trong giới nghiên cứu lịch sử. Và người ta cũng biết đến “Đại Việt sử ký tồn thư”
như một cuốn cổ sử đầy đủ nhất (mà chúng ta còn giữ lại được), phản ánh sự hình
thành và phát triển đất nước qua các triều đại phong kiến trong lịch sử. Tuy nhiên,
những ghi chép đó mới chỉ phản ánh được thế sự trong triều đình nên đơi khi còn
mang tính chủ quan của người viết, đặc biệt là mang đậm ý chí của nhà vua - người
đứng đầu đất nước. Còn cuộc sống thực của người dân thì hầu như khơng được
nhắc đến trong các cuốn chép sử triều đình. Nhưng qua những cuộc khảo cứu lịch
sử trong nhân dân, người ta mới biết đến những người chép sử trong nhân dân. Họ
là những con người thầm lặng góp phần hồn thiện bức tranh lịch sử của dân tộc
nhưng chưa từng một lần được lưu danh trong sử sách. Hẳn là chưa thể phản ánh
được đầy đủ sự hình thành và phát triển của một thời đại lịch sử nếu như mới chỉ
thơng qua cuộc sống giàu sang phú q của những đấng “bề trên” của xã hội; người
ta cũng khơng đánh giá được sự phát triển của một quốc gia nếu mới chỉ thơng qua
một nhóm người. Muốn biết được một đất nước có thực sự phát triển hay khơng
phải nhìn vào đời sống của tầng lớp bình dân trong xã hội - đó mới là sự phản ánh
chân thực nhất.
Ngày nay, chúng ta biết được cuộc sống của người dân xưa khơng phải qua
các ghi chép sử trong cung mà chủ yếu qua các cuốn tộc phả của dòng họ; qua các
bản thần tích, thần sắc của làng; những kinh nghiệm cuộc sống được truyền miệng
từ đời này qua đời khác… cùng những di chỉ khảo cổ học mà các nhà nghiên cứu
lịch sử đã tìm được trong những lần điền dã dân tộc học….
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Nhắc đến những ghi chép trong lịch sử Việt Nam, người ta thường nhắc đến
“Đại Việt sử ký tồn thư” của Ngơ Sĩ Liên, “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Khâm
định Việt sử thơng giám cương mục” của Qn sử Triều Nguyễn… Gần như tất cả
các cơng trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ đầu phong kiến (thế kỷ X) đều
lấy những ghi chép đó làm minh chứng. Tuy vậy, có những phát hiện sau này gây
nhiều bất ngờ trong giới sử học lại khơng xuất phát từ đó mà chính là những phát
hiện “tình cờ” trong nhân dân.
Trong cuốn Tạp chí Xưa và Nay có cơng bố Cuốn sử thi chương hồi cổ nhất
nước ta. Đó là cuốn “Hoan Châu Ký” - Một phát hiện tình cờ trong trào lưu “tìm về
cội nguồn” của giới nghiên cứu lịch sử. Dòng họ Nguyễn Cảnh vốn là một trong
những dòng họ có thanh thế, muốn tìm lại mình để vừa dẫn dắt con cháu tiếp bước
theo truyền thống tổ tiên vừa để được thẩm định của Nhà nước về mặt lịch sử văn
hố. Khi lục tìm các tộc phả đã bất ngờ tìm thấy cuốn tộc phả viết tường tận về
dòng họ Nguyễn Cảnh từ khi xuất hiện (Năm 1406) cho suốt tám đời (đến 1678).
Các nhà sử học cho biết: “Đọc “Hoan Châu ký” chúng ta còn có thể biết được
tường tận thời kỳ Lê Trung Hưng với những cuộc chiến đấu của các phe phái đại
biểu cho chính thống cũng như ngụy tặc; và ngay cả những xung đột, tranh cướp
ngơi thứ, quyền binh của nhau trong từng phe phái; biết thêm những địa danh lịch
sử, những nhân vật lịch sử cũng như những chi tiết lịch sử có gía trị mà cuốn “Đại
Việt sử ký tồn thư” đến nay được coi là cuốn cổ sử đầy đủ nhất mà ta có, còn thiếu
hoặc khơng đề cập tới….Đặc biệt “Hoan Châu ký” viết theo dạng chương hồi (4
hồi, 16 tiết và lời bạt), viết cách đây đã hơn 300 năm (Năm 1678 được coi là năm
viết xong) nên được các nhà văn hố sử coi là “loại tiểu thuyết chương hồi cổ nhất
nước ta” [8, 29]. Vậy mà suốt bao năm cuốn sách q đó nằm im trong nhân dân
mãi đến năm 1994 mới được phát hiện.
Đọc các cơng trình nghiên cứu lịch sử mới biết băn khoăn lớn nhất của các
nhà nghiên cứu lịch sử là nguồn tài liệu. Khi nghiên cứu về vấn đề lịch sử thế kỷ X,
các ghi chép được ghi trong “Đại Việt sử ký tồn thư” và các ghi chép về sau rất sơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
lược nên nhiều vấn đề - nhất là cuộc sống ngồi cung cấm gần như khơng được
nhắc đến. Khi đưa ra các vấn đề về tình hình ruộng đất, tình hình thủ cơng nghiệp,
thương nghiệp… chủ yếu các nhà sử học dựa vào các di chỉ khảo cổ học và các dấu
tích còn sót lại trong các bia mộ, gia phả, các thần tích và theo người dân truyền
tụng lại.
Để có cái nhìn tồn diện về lịch sử Việt Nam trong từng giai đoạn thì có sự
góp phần khơng nhỏ từ các tài liệu, các chứng tích lịch sử còn chứa đựng trong
nhân dân. Đó có thể là gia tộc của các dòng họ; các thần tích, thần sắc; trên các bia
mơ và đơi khi còn tìm thấy cả trong các phong tục tập qn, trong các sáng tác
truyền miệng của người dân….
Tài liệu lưu trữ nhân dân khơng chỉ ẩn chứa trong các làng xã của vùng đồng
bằng, trung du mà trên khắp mọi miền của tổ quốc bất cứ nơi đâu có sự sinh sống
của con người đều xuất hiện những nguồn tài liệu q. Chẳng hạn vào bất cứ làng
Chăm nào ở Ninh Thuận người ta cũng có thể tìm thấy các tàng thư cổ khơng biết
có tự bao giờ. Các nhà Chăm học đã liệt kê ra khối tri thức (văn hố phi vật thể)
khổng lồ chứa trong những tàng thư cổ. Ví như: Cách xem thời tiết thiên văn,
phương pháp tính lịch, y học, kỹ thuật, nghệ thuật, phương thuật, lịch sử, tín
ngưỡng dân gian, tiểu sử hệ thống thần linh,nội dung và ý nghĩa các lễ hội (ngày
xưa), thánh ca, những bài ca tấy sach tâm hồn, trường ca, gia huấn ca, ca dao, tục
ngữ, thơ ca, truyện cổ, âm nhạc . . . .Những điền dã đã phát hiện ra các thư tịch cổ
trong các nhà dân. Nhiều gia đình người Chăm còn lưu giữ 3 - 4 tàng thư; đặc biệt
khơng ít gia đình như gia đình ơng Hải Thanh ở làng Phước Lập, xã Phước Nam,
huyện Ninh Phước, Ninh Thuận còn lưu giữ được ba hòm thư tịch cổ (tất cả đều
bằng chữ cổ Sanskrit) với ít nhất 45 cuốn [7; 11-12 ].
Có thể nói ở khắp mọi nơi trên đất nước, đến đâu chúng ta cũng có thể tìm
thấy những ghi chép cổ của nhân dân còn tồn tại đến tận ngày nay. Và dù đã cố
gắng rất nhiều nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể khám phá hết những bí mật
còn tiềm ẩn trong những dòng chữ kỳ lạ đó. Hiện nay, tại Bảo tàng Dân tộc học của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét