mà thông thường người ta xem là có chất lượng. Chất lượng sản phẩm có thể được hiểu
như sau : Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản
phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định.
Một cách tổng quát, có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu. Sự phù
hợp nầy phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, có thể gọi tóm tắt là 3P, đó là :
Performance hay Perfectibility : hiệu năng, khả năng hoàn thiện, Price : giá thỏa mãn
nhu cầu, Punctuallity : đúng thời điểm.
f. Giá trị sử dụng (tính hữu dụng của sản phẩm)
Khi muốn tung một sản phẩm mới vào thị trường, trước hết nhà sản xuất phải
hoạch định trình độ chất lượng, dự kiến mức chất lượng, tiên đoán chất lượng kinh tế
của sản phẩm. Sau đó sản xuất thử và thử nghiệm trên thương trường. Khi đã biết khá
chính xác hệ số hiệu quả sử dụng của sản phẩm có khả năng cạnh tranh và nằm trong
phạm vi chất lượng tối ưu, các nhà sản xuất mới tiến hành sản xuất hàng loạt sản phẩm
đó. Mặt khác, khi mua một sản phẩm,người tiêu dùng bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích
hay tính hữu dụng, hay giá trị sử dụng mà họ mong muốn thu được khi sử dụng sản
phẩm
Theo Karl Mark, công dụng của một vật làm cho vật đó trở thành một giá trị sử
dụng. Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào công dụng của nó, nhưng chính công
dụng lại phụ thuộc vào nhu cầu xã hội. Nếu không có nhu cầu về một giá trị sử dụng thì
mặc dù sản phẩm có công dụng cũng không có giá trị sử dụng. Giới hạn của giá trị sử
dụng chính là nhu cầu tồn tại về nó.
Ngày nay, có thể nhận thức thuộc tính công dụng không phải là yếu tố duy nhất
tạo nên giá trị sử dụng của sản phẩm. Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, thực chất họ
muốn mua cái gì đó hơn là chính bản thân sản phẩm.
Theo P.A.Samuelson: “Giá trị sử dụng là một khái niệm trừu tượng để chỉ tính
thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc một sự thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa mà có.”
Giá trị sử dụng là sự cảm nhận của một cá nhân về sự thỏa mãn nhu cầu và sự thích thú
của mình thông qua việc sử dụng một sản phẩm vật chất hay một dịch vụ.
Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào:
Thuộc tính công dụng của sản phẩm, được tạo ra bởi chất thể của sản phẩm, do
đặc tính kỹ thuật của sản phẩm qui định. Thuộc tính công dụng được gọi là phần cứng
của sản phẩm.
Thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng, là những gì mà người tiêu dùng
cảm thấy có nơi sản phẩm, được tạo ra nhờ dịch vụ bán và sau khi bán. Thuộc tính được
thụ cảm bởi người tiêu dùng được gọi là phần mềm của sản phẩm. Nhiều khi người tiêu
dùng mua sản phẩm không đơn thuần vì những đặc tính kỹ thuật và khả năng phục vụ
của sản phẩm mà có thể vì nó làm cho người mua có cảm giác sang trọng phù hợp với
địa vị xã hội của họ hay một cảm giác nào đó mang lại cho khách hàng sự thích thú nào
đó của riêng họ.
Thực tế kinh doanh cho thấy thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng là một
bộ phận quan trọng cấu thành nên giá trị sử dụng của sản phẩm và là yếu tố phải đặc
biệt chú ý khi đưa sản phẩm của mình tham gia thị trường.
Giá trị sử dụng của sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng hàng
cung so với cầu, sức mua, ý muốn sẳn sàng mua Nếu cung nhỏ hơn cầu, phần mềm của
5
sản phẩm tăng lên. Các nhà đầu cơ thường lợi dụng cách nầy để tăng giá sản phẩm trong
thị thị trường độc quyền để thu lợi bất chính. Nếu cung lớn hơn cầu, phần mềm của sản
phẩm giảm đi, đồng thời giá trị sử dụng cũng giảm theo.
Tóm lại :
Công dụng của sản phẩm + sự thích thú, sự thụ cảm của người tiêu dùng
Giá trị sử dụng của sản phẩm
Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nói lên khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu của
sản phẩm trong khi đó giá trị sử dụng của sản phẩm chính là mức cụ thể đáp ứng nhu
cầu trong tiêu dùng.
Qua các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm có thể nhận biết được: Công dụng cơ bản
của sản phẩm, các đặc điểm về kết cấu hình dáng, kích thước, điều kiện sử dụng, các
thông số kỹ thuật của sản phẩm, các chỉ tiêu kinh tế của sản phẩm.
Trong khi đó, các thuộc tính của sản phẩm (cả phần cứng và phần mềm) cho biết:
Lĩnh vực đại thể các nhu cầu được thỏa mãn, lĩnh vực cụ thể và mức cụ thể các nhu cầu
được thỏa mãn, các thuộc tính của sản phẩm được thụ cảm bởi người tiêu dùng , chi phí
để thỏa mãn nhu cầu, người tiêu dùng lúc nào cũng mong muốn đạt được lợi ích (giá trị
sử dụng) tối đa với chi phí bỏ ra tối thiểu.
1.1.2. Các điều kiện cơ bản cho hoạt động cạnh tranh
Nhu cầu về lợi nhuận là động lực nảy sinh và thúc đẩy cạnh tranh: Những năm
gần đây, do lợi nhuận cao và do tầm chiến lược của CNĐT đối với nền kinh tế, nhiều
nước đã đổ xô vào phát triển CNĐT, dẫn đến khủng hoảng thừa các sản phẩm điện tử
thông dụng. Tuy nhiên, về lâu dài thị trường hàng điện tử thế giới vẫn rộng mở không
ngừng cho các sản phẩm công nghệ cao, hiện đại, có những tính năng mới, nổi trội,
thông minh.
Kinh tế thị trường tạo môi trường cho hoạt động cạnh tranh. Việc chuyển sang
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các DN, các tổ chức và cá nhân
kinh doanh phải thích ứng với quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường, trong đó có
yếu tố cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế và cũng là cơ
sở quan trọng đảm bảo tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết thực cho
người tiêu dùng. Cạnh tranh trong nội ngành dẫn đến lợi nhuận bình quân ngành. Cạnh
tranh giữa các ngành khác nhau sẽ dẫn tới sự thay đổi mặt bằng giá của nền kinh tế đó.
Trong điều kiện hội nhập, cạnh tranh giữa các ngành khác nhau của các quốc gia khác
nhau cũng dẫn đến mặt bằng giá khác nhau theo các thời kỳ căn cứ vào năng suất lao
động của thời kỳ đó. Do đó giá cả liên quan rất chặt chẽ đến năng suất lao động và cạnh
tranh
Sự can thiệp hợp lí của nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động cạnh tranh có
hiệu quả. Hiện tại, Luật cạnh tranh là khuôn khổ pháp lý cao nhất điều chỉnh về cạnh
tranh thương mại tại Việt Nam.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh
1.1.3.1. Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh (hay sức cạnh tranh được sử dụng với nghĩa như nhau trong
đề tài). Thuật ngữ về năng lực cạnh tranh tuy được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn chưa có
một khái niệm rõ ràng hay cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cả ở cấp quốc gia,
cấp ngành, DN và ở cấp sản phẩm.
6
Sức cạnh tranh là tổng hoà các đặc tính về tiêu dùng và giá trị vượt trội của sản
phẩn trên thị trường, có nghĩa là sự vượt trội của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh
tranh cùng loại trong điều kiện cung vượt cầu.
Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lí thuyết thương mại truyền thống, năng lực
cạnh tranh của ngành được xem xét được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất
và năng xuất. Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá
dựa trên chi phí thấp. Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế
cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực vào nền kinh tế.
Lý thuyết tài chính CN xem xét năng lực cạnh tranh của ngành dựa trên khả năng
sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà
không có sự tự cấp, đảm bảo cho ngành đứng vững trước các đối thủ khác hay sản phẩm
thay thế.
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực canh
tranh là khả năng tạo ra, duy trì lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài
nước. Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, tổng năng suất của các yếu tố sản xuất,
công nghệ, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản
phẩm.
1.1.3.2. Các cấp độ cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể phân ra làm 4 cấp độ, năng lực cạnh tranh ở 4 cấp dộ
này có liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét và đánh
giá, đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, cần có mối liên quan
chung mật thiết của 4 cấp độ năng lực cạnh tranh này.
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia:
Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số - cũng còn gọi là chỉ số
năng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI) được WEF công bố lần đầu tiên trong Báo cáo năng
lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004-2005. Các chỉ số này được phân làm chín nhóm, còn
được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Chín trụ cột
đó gồm: (1) thể chế, (2) kết cấu hạ tầng, (3) kinh tế vĩ mô, (4) y tế và giáo dục cơ bản,
(5) đào tạo và giáo dục bậc cao, (6) hiệu quả thị trường, (7) mức độ sẵn sàng về công
nghệ, (8) trình độ kinh doanh, (9) đổi mới và sáng tạo.
Theo công bố của WEF, báo cáo tách các nước thành ba giai đoạn phát triển: ở
giai đoạn phát triển thứ nhất, năng lực cạnh tranh của các nước phụ thuộc vào bốn trụ
cột đầu tiên là thể chế, kết cấu hạ tầng, kinh tế vĩ mô và giáo dục cơ bản, giai đoạn tiếp
theo tính đến ba trụ cột là đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường và mức độ
sẵn sàng về công nghệ, đến giai đoạn phát triển cao nhất gồm hai trụ cột là trình độ kinh
doanh và đổi mới và sáng tạo. Tầm quan trọng của từng yếu tố (trụ cột) lại phụ thuộc
vào mỗi giai đoạn phát triển của mỗi nước.
Bảng 1.1: Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên tổng số 125 quốc gia
Năm Xếp hạng
2004 61
2005 74
2006 77
Nguồn: Trang web Bộ Công nghiệp
Năm 2006, VN tụt ba hạng so với năm 2005, trong đó, trình độ đổi mới và sáng
7
tạo tụt 18 hạng, hiệu quả thị trường tụt 17 hạng, thể chế tụt 11 hạng. Qua đó, có thể
thấy: VN đang ở giai đoạn phát triển thứ nhất, vì chỉ số thể chế xếp thứ 74, kết cấu hạ
tầng thứ 83, kinh tế vĩ mô thứ 53 và y tế, giáo dục cấp một thứ 58. Về giáo dục đại học,
VN xếp thứ 90, mức độ sẵn sàng về công nghệ thứ 85. Ở hai trụ cột còn lại, VN xếp thứ
86 về trình độ kinh doanh và thứ 75 về đổi mới và sáng tạo. Kết quả xếp hạng năm 2006
của WEF có thể chưa phản ánh hết những nỗ lực cải cách của VN năm 2006, như việc
Luật DN và Luật Đầu tư bắt đầu có hiệu lực thi hành cũng với nhiều cải cách khác trong
kinh tế theo hướng thị trường, nhưng cũng là những cảnh báo để chúng ta chú ý, vì
trong khi Việt Nam có tiến bộ trong đổi mới thì các nước cũng có những cải cách nhanh
hơn, do đó vị trí Việt Nam trong xếp hạng chưa được cải thiện.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành:
Khả năng cạnh tranh có thể được đánh giá bằng các chỉ số định lượng như: Tỷ lệ
bảo hộ hữu hiệu và lợi thế so sánh biểu hiện. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,
chỉ số ERP giúp chúng ta xác định được các ngành nào sẽ có lợi thế và bất lợi thế do
những thay đổi CS liên quan đến tự do hoá thương mại. Chỉ số RCA càng cao thì mặt
hàng càng có lợi thế cạnh tranh, nếu RCA <1 thì mặt hàng không có lợi thế so sánh, nếu
1 < RCA < 2,5 thì mặt hàng có lợi thế so sánh và RCA > 2,5 thì mặt hàng có lợi thế
cạnh tranh cao. Kết quả nghiên cứu của nhóm kỹ thuật.
Một mặt, tổng số năng lực cạnh tranh của ngành trong nước tạo thành năng lực
cạnh tranh của quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của ngành bị hạn chế bị hạn chế khi
năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và năng lực cạnh tranh sản phẩm hàng hóa mà ngành
sản xuất ra thấp.mặt khác, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia thể hiện qua môi trường
cạnh tranh, cạnh tranh trong nước và quốc tế, đặc biệt là trong WTO hiện nay. Trong đó,
các cam kết về hợp tác kinh tế quốc tế các CS kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có
ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành, DN, và sản phẩm hàng hóa quốc
gia đó.
Tóm lại một ngành có năng lực cạnh tranh nếu có “năng lực duy trì được lợi nhuận
và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề
án, chỉ tập trung nghiên cứu khả năng cạnh tranh ngành, DN và sản phẩm.
Trong thực tế, quá trình điều chỉnh của ngành diễn ra cùng với những biến đổi về
môi trường cạnh tranh kinh tế nói chung. Khả năng cạnh tranh của ngành phụ thuộc vào
yếu tố do ngành tự quyết định nhưng nó cũng phụ thuộc vào các yếu tố do Chính phủ
quyết định. Nó cũng phụ thuộc vào cả những yếu tố mà cả Chính phủ và ngành chỉ kiểm
soát được ở một mức độ hạn chế hoặc hoàn toàn không thể quyết định được.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành được chia thành 4 nhóm:
Nhóm các yếu tố do ngành quyết định: bao gồm chiến lược phát triển ngành, sản
phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ,đầu tư nghiên cứu công nghệ, phát
triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng.
Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm:
thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động nghiên cứu và
triển khai, hệ thống luật phát điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường
Nhóm các yếu mà cả Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nhân
lực sản xuất, nhu cầu người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế
Nhóm các yếu tố mà cả Chính phủ và ngành không quyết định được như: môi
8
trường tự nhiên, quy luật kinh tế
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trước hết cần thấy rõ năng lực từ
chính bản thân ngành và một phần quan trọng khác là các chính sách của nhà nước
nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.
Năng lực cạnh tranh ở cấp DN:
Năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh
tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được tạo ra từ thực lực của DN. Đây là
các yếu tố nội hàm của mỗi DN, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài
chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các
đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô
nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong DN được đánh giá không thông qua việc
so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo
nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi DN phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.
Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như
lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một DN nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những
yêu cầu của khách hàng. Thường thì DN có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt
khác. Vần đề cơ bản là, DN phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những
điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những
điểm mạnh và điểm yếu bên trong một DN được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt
động chủ yếu của DN như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị,
hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN, cần phải
xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động
khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các DN hoạt
động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá
năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh
giá năng lực cạnh tranh của một DN bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ, chất lượng
sản phẩm và bao gói, kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc
tiến thương mại, năng lực nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và uy tín của DN, trình
độ lao động, thị phần sản phẩm DN và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính,
năng lực tổ chức và quản trị DN nhưng trong để tài chỉ nghiên cứu năng lực cạnh tranh
dưới 3 loại cạnh tranh cơ bản:
Cạnh tranh bằng giá trị sử dụng (chất lượng, tính năng, mẫu mã, ). Để phát triển,
các DN phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm - hàng
hóa - dịch vụ, đồng thời không ngừng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, tạo ra những
đặc trưng khác biệt của sản phẩm - hàng hóa - dịch vụ để thoả mãn tốt nhất nhu cầu
khách hàng, nhằm duy trì và mở rộng thị trường. Các đặc điểm trên đã làm cho chất
lượng trở thành một yếu tố cạnh tranh hàng đầu. Nhiều công ty đã chuyển vốn đầu tư
vào các khu vực có khả năng thoả mãn khách hàng và đem lại lợi nhuận cao. Sản phẩm
có thể được thiết kế tại một nước, sản xuất tại một số nước khác và bán ở mọi nơi trên
thế giới. Thực tế đã chứng minh rằng, các công ty thành công trên thương trường đều là
những công ty đã nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lượng. Sự phát triển của khoa
học và công nghệ ngày nay đã tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinh doanh nhạy bén tận
9
dụng lợi thế riêng của mình, cung cấp những sản phẩm - hàng hóa - dịch vụ có chất
lượng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh
trên thương trường.
Cạnh tranh bằng giá cả: Bất kỳ nhà kinh doanh nào khi tham gia thị trường đều
quan tâm đến vấn đề cạnh tranh giá cả là chủ yếu hay chất lượng là chủ yếu. Về đại thể,
giá cả là một chỉ tiêu quan trọng trong cạnh tranh, dù cho chất lượng sản phẩm có hoàn
hảo bao nhiêu đi nữa. Ngày nay, các nhà kinh doanh không những chỉ quan tâm đến giá
bán, giá mua sản phẩm mà còn phải quan tâm rất lớn đến những chi phí trong quá trình
sử dụng chúng.
Cạnh tranh bằng tiêu chuẩn tiêu thụ sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng.
Trong thực tế, các DN sử dụng đồng thời cả 3 loại cạnh tranh trên. Tuy nhiên, tùy
vào từng hoàn cảnh cụ thẻ của DN trong thời kì nhất định có thể chú trọng hình thức
cạnh tranh khác nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của các DN là lợi nhuận do vậy các DN
buộc phải cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh theo nghĩa cạnh tranh lành mạnh có tính chất:
Tránh nguy cơ bị phá sản trong cạnh tranh, do các DN phải dùng một phần lợi
nhuận của mình để phát triển đầu tư công nghệ, hiện đại hóa sản xuất.
Cạnh tranh tạo ra sự đồng hướng giữa mục tiêu lợi nhuận của DN và lợi ích của
người tiêu dùng cụ thể là hàng hóa chất lượng cao, giá thành giảm, phục vụ tố đồng
nghĩa với thu được nhiều lợi nhuận.
Các DN đều phải cố gắng giảm chi phí, nâng cao giá trị sử dụng cua sản phẩm,
hình thành tổ chức tiêu thụ vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hoặc phá sản của DN và đồng
thời tạo ra nền sản xuất xã hội ngày càng cao.
Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của DN: trong nội bộ DN, các yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của DN có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, là:
Men : con người, lực lượng lao động trong DN.
Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức
sản xuất của DN.
Machines : khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của DN.
Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư,
nguyên nhiên vật liệu của DN.
Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất.
Các nhân tố bên ngoài DN: môi trường kinh doanh (tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối doái, các CS tài khóa và tiền tệ ), Chính trị và pháp luật
(kinh tế luôn đi đôi với chính trị, nếu có được một môi trường chính trị và pháp luật ổn
định sẽ thúc đẩy các ngành, các DN yên tâm đầu tư và phát triển), khoa học công nghệ
(ngày nay đứng trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, CN sinh học,
CN chế tạo các ngành, các DN luôn phải đặt yếu tố này lên hàng đầu).
Các nhân tố bên trong DN: đó là các nhân tố về sản xuất như đối tượng lao đọng,
lực lượng lao động, cung cấp lao động.
Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các
năng lực độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có chi phí thấp và tính dị biệt của sản
phẩm. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, DN cần xác định được lợi thế của mình mới
có thể giành thắng lợi. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:
10
Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Các
yếu tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động, thường được xem là nguồn lực để tạo lợi
thế cạnh tranh.
Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho
người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi
sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn
đối thủ.
Năng lực cạnh tranh ở cấp sản phẩm:
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó
so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường.
Có quan điểm cho rằng, sức cạnh tranh của sản phẩm chính là năng lực nắm giữ và
nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để
tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại do chủ thể sản xuất và cung ứng khác đem đến tiêu
thụ ở cùng một khu vực thị trường vào thời gian nhất định.
Tuy nhiên, các định nghĩa trên đều thiếu một yếu tố cơ bản mà người tiêu dùng
quan tâm nhất, đó là, tương quan giữa chất lượng và giá cả.
Với cách tiếp cận trên, sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội so
với các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia
cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng. Có nghĩa là, những sản phẩm
mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có khả năng
cạnh tranh cao hơn. Tính độc đáo: Đây là tiêu chí thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh
của sản phẩm. Trong một xã hội tiêu dùng, khi vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại,
khi sự cạnh tranh về chất lượng và giá cả được đẩy tới mức ngang bằng nhau thì sự độc
đáo là yếu tố mà người tiêu dùng thường lựa chọn. Sự độc đáo có thể là kiểu dáng sản
phẩm. Sự độc đáo tạo ra một giá trị mới mà khách hàng muốn thông qua đó để thể hiện
giá trị của bản thân mình. Sự độc đáo về kiểu dáng ngày càng có tiềm năng để phát triển
hơn khi sản phẩm gắn với một không gian nhất định như nhà hàng, khách sạn, hội
trường, hộ gia đình
Một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm, giá cả, tính năng, mẫu mã kiểu dáng,
tính độc đáo hay sự khác biệt của sản phẩm, thương hiệu hơn hẳn so với các sản phẩm
hàng hóa cùng loại.
Trước hết, hàng hóa phải có khả năng cạnh tranh về chất lượng: ưu thế về các chỉ
tiêu kĩ thuật, chất lượng sản phẩm hàng hóa. Còn về kiểu dáng, mẫu mã, thương hiệu
để có khả năng cạnh tranh cao, các yếu tố này càng phải thể hiện sự độc đáo, hấp dẫn
người mua. Muốn vậy cần phải phù hợp với xu thế tiêu dùng, lứa tuổi, giới tính Các
công cụ để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa bao gồm: kỹ năng bán hàng, kỹ
năng quảng cáo, chiến lược mở rộng thị trường, chiến lược cạnh tranh.
Ngoài các giải pháp về kỹ thuật nêu trên, để tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, còn có các giải pháp về kinh tế, như giảm giá tiêu dùng của sản phẩm. Rơ ràng,
giảm giá là 1 trong những giải pháp kinh tế làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường. Tuy nhiên, chỉ giảm giả thì chưa đủ, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung các
giải pháp khác dưới đây.
Kết quả cho thấy, với việc áp dụng đồng bộ 3 giải pháp (giá cả, thiết kế, độ bền)
11
thì sản phẩm đã đạt được sức cạnh tranh cần thiết. Nhưng rõ ràng là, nếu không thay đổi
công nghệ sản xuất thì DN cũng khó đảm bảo vững chắc thị phần của mình trên thị
trường. Nhưng, thay đổi công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn cũng là bài toán không hề
đơn giản.
Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp kinh tế cùng một lúc (giá cả, thiết kế, độ bền và
công suất), có thể đạt được kết quả rất khả quan, làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Nhưng cũng cần phải lưu ý, cải tiến thiết kế, tăng độ bền, tăng công suất máy móc thiết
bị, tất cả điều này đều dẫn đến việc tăng giá thành, làm giảm tỷ suất lợi nhuận của DN.
Do đó, việc tính toán chi phí sản xuất và CS giá cả hợp lý là đặc biệt cần thiết đối với
DN trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay. Các chi phí cơ bản là: nguyên, nhiên
vật liệu, khấu hao tài sản cố định, thu nhập của người lao động, các chi phí quản lý
Việc đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm là hết sức cần thiết, giúp nhà sản xuất
biết rõ sản phẩm của ta đang đứng ở đâu, sức cạnh tranh như thế nào so với đối thủ Từ
đó, có chiến lược phát triển phù hợp, đầu tư vào các sản phẩm có khả năng cạnh tranh
thì mới đảm bảo thị phần bền vững của DN trong nền kinh tế thị trường. Trong đó, việc
lựa chọn đúng phương pháp đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm có ý nghĩa thực tiễn
rất lớn.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản: các yếu
tố nội tại của sản phẩm như năng lực sản xuất, giá cả, chất lượng, thị trường tiêu thụ,
các yếu tố bên trong DN như trình độ nhân lực, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, uy
tín thương hiệu, các yếu tố bên ngoài DN như điều kiện về các nhân tố sản xuất, điều
kiện về cầu thị trường, vai trò của Nhà nước, yếu tố hội nhập
1.1.4. Lí luận về cạnh tranh
1.1.4.1. Quan điểm của Porter
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các
ngành hoặc ở hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường
kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó.
Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng ưu thế cạnh tranh của các DN
trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một
quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của
quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh
sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang
những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các
DN trên thương trường quốc tế.
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì
vai trò của quốc gia càng tăng lên. Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua
quá trình địa phương hoá cao độ. Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấu trúc kinh
tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh. Các
quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước
của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất. Các Công ty của họ thu được lợi
thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà
cung cấp có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và
sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ.
12
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương
mại quốc tế trên góc độ các DN tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước
trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc
gia chứ không phải cho một vài DN cụ thể. Sự thành công của các quốc gia ở ngành
kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất
lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành.
Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà
nhờ có chúng các DN kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt
trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Lợi thế cạnh tranh giúp cho
nhiều DN có được “quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh
tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh.
Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó
của một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự
nhiên, tài nguyên hay con người. Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được
coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển. Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở cho
một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho sự thành
công trên thị trường quốc tế. Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung cấp giá trị gia
tăng cho các đối tượng có liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư hoặc các đối tác kinh
doanh và tạo giá trị gia tăng cao cho DN.
Chẳng hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tận dụng lợi thế so
sánh về thiên nhiên và các công trình văn hoá di tích lịch sử để phát triển NCN không
khói này rất thành công và hiệu quả. Tuy nhiên, họ thành công không phải chỉ dựa vào
những di sản văn hoá và thiên nhiên ban cho, mà vì họ đã tạo ra cả một nền kinh tế phục
vụ cho du lịch với rất nhiều dịch vụ gia tăng kèm theo, từ dịch vụ khách sạn, nhà hàng,
lễ hội đến các dịch vụ vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm và các chương trình tiếp
thị toàn cầu. Điều đó đã tạo cho họ có lợi thế cạnh tranh quốc gia mà các nước khác khó
có thể vượt trội. Việt Nam có lợi thế so sánh trong ngành du lịch với một quần thể di sản
thiên nhiên và văn hoá độc đáo ở cả 3 miền của đất nước, nhưng muốn có lợi thế cạnh
tranh quốc gia để giành ưu thế trên thương trường quốc tế, Việt Nam cần có sự phối kết
hợp hài hoà một hệ thống cung cấp giá trị gia tăng theo “các viên đá tảng kim cương của
Porter”, những hoạt động giải quyết thị trường đầu ra, thị trường đầu vào cung cấp các
hoạt động cần thiết cho ngành du lịch, như cung cấp đồ ăn thức uống, dịch vụ vui chơi
giải trí và các ngành hỗ trợ, như giao thông cầu đường, các ngành vận tải đường sông,
đường bộ, hàng không, đến ngành quảng cáo tạo ra sự liên kết chặt chẽ. Đây là những
mối quan hệ tương hỗ cơ bản tạo ra giá trị gia tăng của ngành. Sự hợp tác càng hiệu quả
bao nhiêu thì năng suất lao động của ngành càng cao bấy nhiêu và là cơ sở tạo ra lợi thế
cạnh tranh của ngành và quốc gia.
Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hàng
hoá hoặc dịch vụ nhất định. Nếu như các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế hoàn
toàn cho nhau (giống hệt nhau) thì người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ DN nào trong
số các DN đang cung cấp sản phẩm trên thị trường. Lúc này, mỗi nhà cung cấp đều phải
chịu sức ép cạnh tranh từ DN khác. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy, rất hiếm khi tồn tại
một thị trường mà các sản phẩm lại có thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Các DN luôn
tìm mọi cách để dị biệt hoá sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng của khách
13
hàng.
1.1.4.2.Quan điểm của Edward H. Chamberlin
Kinh tế học lý giải về tính dị biệt hoá của sản phẩm trên thị trường từ góc độ của
cạnh tranh và độc quyền. Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Edward H. Chamberlin, trong
kinh doanh, mỗi sản phẩm mang lại tính độc đáo bằng đặc điểm riêng có của nó trong
việc hình thành như thương hiệu, khác biệt về chất lượng, cung cách phục vụ… điều
này thể hiện khía cạnh độc quyền của nó. Mỗi sản phẩm là đối tượng cạnh tranh của sản
phẩm khác. Việc dị biệt hoá đã làm cho cả độc quyền và cạnh tranh cùng có mặt. Khi
đó, các sản phẩm chỉ còn có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau
theo sự lựa chọn của khách hàng. Vì thế, xác định thị trường liên quan là xác định số
lượng DN là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị
trường nhất định.
Từ đó, lý thuyết cạnh tranh xây dựng nên phương pháp xác định về sự co giãn
chéo của cầu để chứng minh về tính cạnh tranh giữa các sản phẩm. Một khi giá cả của
một loại sản phẩm nhất định tăng, kéo theo sự gia tăng cầu của sản phẩm khác thì tồn tại
độ co giãn chéo về cầu theo số dương giữa hai sản phẩm nói trên. Khi đó, chúng được lý
thuyết coi là có thể thay thế cho nhau.
Dưới góc độ kinh tế, việc sử dụng phương pháp tính độ co giãn chéo của cầu để
xác định khả năng thay thế cho nhau của hai sản phẩm nào đó luôn phản ánh tính chất
suy đoán cho dù là có tính toán, bởi vì:
(i) Phản ứng của người tiêu dùng khi đổi hướng tiêu dùng có thể là kết quả của
những toan tính nhất thời (chưa cho thấy rõ sự thay đổi của thói quen tiêu thụ).
(ii) Những con số được dùng để tính toán chỉ là những giả định được cơ quan có
chức năng sử dụng. Vì vậy, độ chênh của chúng so với thực tế thị trường sẽ làm cho kết
quả chưa thực sự thuyết phục.
(iii) Nhực tế sinh động còn cho thấy, sự tăng nhu cầu đối với một sản phẩm diễn
ra đồng thời với sự tăng giá của sản phẩm khác không có nghĩa là sự tăng cầu chỉ chịu
duy nhất một tác động từ việc giá tăng nói trên.
Những yếu tố như sự thay đổi thói quen tiêu dùng, những biến động thị trường,
thậm chí là những tin đồn thất thiệt… cũng có thể là những nhân tố tác động trực tiếp
đến nhu cầu thị trường.
Do đó, Marshall cũng đã khuyến cáo những người sử dụng lý thuyết này cho thực
tiễn phải xem xét đến các yếu tố khác đồng thời với việc tính toán độ co giãn của cầu
như: thời gian có sự tăng giá, số lượng sản phẩm nằm trong phạm vi có thể thay thế, khả
năng cung của thị trường (kể cả khả năng cung tiềm năng)….
Luật cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam quy định thị trường liên quan bao gồm thị
trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Trong đó, (1) “Thị trường sản
phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về
đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả, (2) Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa
lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện
cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”. Về cơ bản,
cách thức nhận dạng thị trường liên quan của luật cạnh tranh ở Việt Nam giống với các
nước khác.
1.1.5. Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét