cạnh tranh gay gắt và để hàng Việt Nam cạnh tranh được ngoài quy chế Tối
huệ quốc cần phải có chiến lược nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá
Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
Bảng 2: Hàng tiêu dùng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, 1997 -1998 (triệu
USD)
Mặt hàng 1997 1998 So sánh 98/97
1. Đồ trang sức, kim cương 7.595 8.496 +898
2. Đồ gia dụng 8.269 9.732 +1.462
3. Dược phẩm 13.270 16.980 +3.710
4. Tivi, điện tử gia dụng 10.546 13.361 +2.815
5. Đồ chơi, game 18.102 19.252 +1.150
6. Giầy dép 10.576 10.865 +289
7. Thiết bị âm thanh 7.580 8.283 +703
8. Hàng may mặc từ vải dệt 19.859 21.591 +1.732
9. Hàng may mặc từ vải bông 21.775 27.321 +5.546
10. Quần áo thể thao 5.552 5.102 -450
11. Đồ gia dụng từ các loại vải 5.187 5.446 +259
12. Thảm 971 1.116 +145
13. Các loại đồ gia dụng khác 63.333 67.981 +4.648
Tổng cộng 192.918 215.530 +22.612
( Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ, Nxb. Thống kê, tháng 5-
2001)
2. Thị trường với các tiêu chuẩn đa dạng
Hoa Kỳ nhập nhiều hàng hoá, đa dạng cả về chủng loại và cấp bậc
chất lượng. Điều đó cũng có nghĩa là mọi hàng hoá với mọi cấp độ về chất
lượng đều được thị trường Hoa Kỳ chấp nhận - hàng cao cấp cho những
người có thu nhập cao và hàng chất lượng vừa phải dành cho những người
có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Tuy nhiên, hàng hoá nhập vào thị
trường này phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, nhãn mác
hàng hoá, các tiêu chuẩn về lao động, các quy định về môi trường, vệ sinh
dịch tễ, các hạn chế về hạn ngạch, Tuỳ theo từng ngành hàng mà hàng
nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia ( do
viện tiêu chuẩn quốc Hoa Kỳ- Ansi đặt ra) hoặc tiêu chuẩn ngành, chẳng
hạn như quy định về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ hàng nông sản của bộ nông
nghiệp; các quy định về kỹ thuật và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của cơ
quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) thuộc bộ y tế và dịch vụ
nhân đạo Hoa Kỳ; tiêu chuẩn thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, diệt nấm đối với
thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp của cơ quan bảo vệ môi trường
(EPA).
Những khác biệt về tiêu chuẩn sản phẩm và hệ thống chứng nhận sản
phẩm có thể cản trở việc nhập khẩu hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ và có
thể được sử dụng để phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu.
Cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đến từng nhóm hàng
có trách nhiệm thi hành các tiêu chuẩn này tại cửa khẩu. Bất cứ sản phẩm
nông nghiệp nào nhập vào Hoa Kỳ cũng đều phải đáp ứng yêu cầu nhập
khẩu liên quan đến loại hình, kích cỡ, độ chín cây của sản phẩm. Những
sản phẩm này sẽ được kiểm tra và giấy chứng nhận kiểm tra phải do cục
kiểm định cấp để chứng nhận là hàng đã tuân thủ các quy định về hàng
nhập khẩu.
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH GIẦY- DA
SANG THỊ TRƯỜNG MỸ.
1.Thực trạng:
Da giày là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian
qua. Nếu như năm 1997, toàn ngành xuất khẩu được 168 triệu đôi giày
( tăng 34% so với 1996) thì đến năm 1999, ngành da giày đạt kim ngạch
xuất khẩu 1,391 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của ngành da- giày đạt 1,471 tỉ
USD và đã mở rộng ở khắp các thị trường.
Bảng 3: Tình hình xuất khẩu của ngành da- giày Việt Nam ( đơn vị:
1000 USD)
Nước Trị giá: 1471667
Anh 219972
Đức 210695
Bỉ 155436
Pháp 139600
Hà Lan 132981
Mỹ 87273
Italy 86503
Tây Ban Nha 39162
Hàn Quốc 38812
Đài Loan 24259
Thuỵ Điển 22501
Ôx trây li a 19774
Nhật Bản 79817
Canađa 19307
Đan Mạch 11948
Mê hy cô 10538
Nga 10304
Panama 9631
Thái lan 9066
Hy Lạp 8283
Ba Lan 7307
Thuy Sỹ 7190
Xingapo 7039
Israen 6904
Phần Lan 6917
Alien 6417
Chilê 6184
Nam phi 6129
Niudilân 5749
Na uy 4838
Thổ Nhĩ Kỳ 4594
Bờ Biển Ngà 4569
Cô lôm bia 3890
Aos 3702
Braxin 3508
Ác hen ti na 3430
Ảrập thống nhất 2760
Ả rập xê út 2562
Trung Quốc 2366
Bồ Đào Nha 2212
Hung ga ry 2209
Inđonêxia 2115
Ucraina 1828
Malaixia 1591
Venezuela 1558
Ai xơ len 1449
Gru di a 1230
Nigiê 975
Phi lip pin 854
Ê cua đo 843
Xoa di len 842
Sip 730
Iran 642
Pa ra guay 592
Mô na cô 572
Cô oét 559
Cam pu chia 380
Lào 375
Bô-li-vi-a 351
An- ba-ni 319
Ấn Độ 285
Ai cập 266
Ma rốc 257
Latvia 229
Slovakia 225
Bungari 216
Tuynisia 205
Mô- ri- tuýt 204
Ma li 200
Senegan 198
Peru 197
Be- li-zơ 191
A- ru ba 184
Croatia 180
Angieri 165
Macao 159
Slovennia 151
Sudan 145
Belarut 143
Lucxembua 139
Hondurat 132
Enxanvado 123
Pakistan 120
Pucetorico 20
Chad 17
Eri-tre-a 16
Bosina herzegovina 15
CH Do-mo-ni-ca 14
Azerbaijan 12
Leostho 12
Ethiopia 8
Suiriname 5
Bhutan 3
Qua bảng trên ta thấy với giá trị 1471667 nghìn USA chiếm 10.2%
kim ngạch xuất khẩu của VN, ngành da giầy đã chứng tỏ là một ngành mũi
nhọn của Vn. Trong đó ,mỹ với giá trị xuất khẩu là 87.273 nghìn USD
chiếm 5.93% trị giá xuất khẩu toàn ngành tại tất cả các thị trường và chiếm
11.9% tổng trị giá các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ( trị giá
các ngành hàng xuất khẩu của Việt- Mỹ năm 2000 là 732779 nghìn USD)
là thị trường lớn thứ 6 của Việt Nam. Và thị trường này đang ngày càng
chứng tỏ tiềm năng to lớn cho ngành hàng da giầy Việt Nam.
Tính riêng cho thị trường Mỹ, cho đến thời điểm Hiệp định thương
mại Việt Nam -Hoa Kỳ có hiệu lực, ngành hàng giầy dép có giá xuất khẩu
cao nhất và tốc độ tăng kim ngạch cũng khá nhanh.
Bảng 4: Tình hình xuất khẩu giầy dép và phù kiện sang Hoa Kỳ.
Năm Kim ngạch Tốc độ tăng
trưởng%
1994 69 -
1995 3301 4684.00
1996 39054 1083.00
1997 97506 149.7
1998 114910 17.85
1999 145800 16.88
Nguồn : Hải quan Hoa Kỳ
Bảng 5: Mức thuế suất đánh vào mặt hàng giép nhập khẩu trên thị trường
Mỹ.
Mã số HTS Mô tả hàng Thuế được
hưởng quy
chế tối huệ
quốc
Thuế không
được hưởng
quy chế tối
huệ quốc
Chênh
lệch
64019260 Giầy không
thẩm có mũ
giấy bằng cao
su hoặc nhựa
4.6% 25% 20.4%
64019930 Giầy bảo hộ
có mũ giầy
bằng cao su
hoặc nhựa
25% 50% 25%
640419290 Giầy có mũ
bằng cao su
hoặc nhựa cổ
thấp
37.5% 70% 37.5%
64039960 Giầy bằng
cao su , da
cho trẻ em
nam
8.5% 20% 11.5%
Nguồn : Hải quan Mỹ tháng 7.8.1999
Qua 2 bảng trên ta thấy tốc độ phát triển xuất khẩu ở mặt hàng giầy
dép Việt Nam sang thị trường Mỹ bình quân mỗi năm tăng với tốc độ cao
(1187%). Mặt dù, trong thời gian này, Việt Nam chưa được hưởng quy chế
tối huệ quốc (NTR), hàng giầy dép Việt Nam nhập vào thị trường Mỹ chịu
thuế xuất nhập khẩu khá cao, nhưng tiến độ xuất khẩu lại tăng nhanh ở mặt
hàng này.
Việt Nam hiện đứng thứ 11 trong tổng số 64 nước xuất khẩu mặt
hàng này vào thị trường Mỹ ( trên những nước được hưởng NTR như ấn
độ, Philippin, Đức, Bồ Đào Nha, Pháp). Tuy nhiên, giá trị hàng giầy dép
của Việt Nam xuất sang Mỹ so với thị trường nhập khẩu nước này vẫn còn
ở mức thấp, chiếm khoảng 1% trị giá nhập khẩu giầy dép của Mỹ (khoảng
13.14 tỷ USA mỗi năm) và chiếm gần 10% giá trị xuất khẩu giầy dép của
Việt Nam ( khoảng 1.5 tỷ USA mỗi năm ). Đối thủ lớn của Việt Nam là
Trung Quốc, hàng năm đưa vào thị trường Mỹ 7 đến 8 tỷ USA, chiếm 50%
trị giá nhập khẩu giầy dép vào thị trường Mỹ .
Do chi phí gia công rẻ, nên ngày càng có nhiều công ty nước ngoài
có xu hướng chuyển xang Việt Nam để đặt hàng gia công giầy đi Mỹ.Theo
ông Trần Mạnh Thư, chủ tịch hiệp hội da giầy Việt Nam cho biết : “ Từ
cuối năm 2002 đến nay, ngày càng nhiều khách hàng nước ngoài chuyên
hợp đồng gia công giầy xuất khẩu đến VN”. Theo ông Thư, nguyên nhân là
do Việt Nam là do Việt Nam có môi trường chính trị ổn định cho nên các
nhà nhập khẩu không bị gián đoạn nguồn hàng và chi phí gia công rẻ cũng
là yếu tố giúp cho ngành da giầy Việt Nam thu hút được nhiều đơn
hàng.Trong mấy năm gần đây, ngành da giầy Việt Nam liên tục giảm phí
gia công để cạnh tranh với Trung Quốc. Năm 2002, phí gia công giầy ở
Việt Nam giảm 7-8% so với năm 2001.
Theo bộ thương mại 3 tháng đầu năm năm 2003, kim ngạch xuất
khẩu da giầy VN là 578 triệu USD, tăng 32%.So với cùng kinh tế năm
ngoái, nhưng chủ yếu vẫn là thị trường Châu Mỹ với tổng giá trị xuất khẩu
trong 3 tháng qua đạt 436 triệu USD, tăng 18%, thị trường mỹ vẫn còn ở
mức thấp.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu của ngành da
giầy Việt Nam sang thị trường Mỹ.
2.1. Tổng kết chung về tình hình xuất khẩu:
Ưu điểm :
- Trước và sau khi được hưởng ưu đãi tối huệ quốc của Mỹ ,với sự
nỗ lực của chính phủ và các doanh nghiệp VN, tốc độ gia nhập xuất khẩu
trên thị trường Mỹ là khá nhanh,nhiều mặt hàng đã có chỗ đứng trên thị
trường Mỹ và có tiềm năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu:
- Nhiều doanh nghiệp da giầy VN đã tạo dựng nhiều mối quan hệ
thương mại với các doanh nghiệp Mỹ, tạo sự tin tưởng nơi họ để phát triển
mối quan hệ làm ăn lâu dài và ổn định.
Nhược điểm:
- VN chỉ đứng hàng thứ 11 trong tổng số 64 nước có mặt hàng da
giầy xuất khẩu vào Mỹ với doanh số xuất khẩu nhỏ,mặt hàng chưa phong
phú,mức tăng chưa đều và ổn định,tính cạnh tranh còn thấp.
2.2.1: Những nhân tố thuận lợi:
- Đường lối đúng đắn của Đảng và Chính Phủ tạo mọi cơ hội thuận
lợi nhất cho mọi doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế phát triển sản xuất
kinh doanh,đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường TG.
Đặc biệt, đáng chú ý, chính phủ đáng thông qua cơ chế điều hành
xuất nhập khẩu của VN giai đoạn 2001-2005.Với cơ chế mỗi này ,mọi
doanh nghiệp điều có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu,tiến tới xóa bỏ
những rào cản pháp lý,thủ tục gầy trở ngại cho hoạt động xuất khẩu,khả
năng tiếp cận thị trường quốc tế trong đó có thị trường Mỹ của doanh
nghiệp VN sẽ nhiều hơn ,thuận lợi hơn.
Sau khi hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết và có hiệp định
và có hiệu lực.VN được hướng quy chế tối huệ quốc, thuế nhập khẩu sẽ
giám từ 40-70% xuống còn 3-7%.
- Mỗi trường đầu tư Việt Nam: môi trường pháp lý, hành chính,tài
chính,ngân hàng,cơ sở ha tầng, nguồn nhân lực ngày càng được hoàn
thiện,tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong đó có các nhà đầu
tư Mỹ vào VN sản xuất hàng da giầy xuất khẩu mà một trong những thị
trường lớn nhất toàn cầu mà họ nhằm tới là thị trường Mỹ.
- Chính sách ưu đãi đầu tư đối với Việt kiều ngày càng thể hiện tính
ưu việt, thu hút hàng ngàn kiều bào chuyển vốn về nước làm ăn, tạo hàng
trăm dự án sản xuất kinh doanh, trong đó có nhiều dự án sản xuất mặt hàng
da giầy xuất khẩu, nhằm tới tiêu thụ tại thị trường mỹ.Và 1.5 triệu người
Việt kiều sống tạo Mỹ đa số hạ là những người có kiến thức, có lòng yêu
nước,hướng về cội nguồn. Nếu có hình thức kết hợp hợp tốt,một việt kiều
Mỹ sẽ là cầu nối cho doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường
Mỹ.
- Bản thân nội lực của doanh nghiệp VN đã được nâng lên đáng kế
sau 10 năm thực hiện chính sách mở của để hội nhập: Trình độ máy móc,
trong thiết bị đã được nâng lên đáng kể nhiều sản phẩm xuất khẩu có chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu của các thị trường cao cấp.
- Nhiều tiềm năng là lợi thế trong xuất khẩu của Việt Nam chưa
được khai thác hết, nếu được đầu tư thoả đáng, khả năng khẩu sang Mỹ sẽ
tăng nhanh.
- Sự năng động khéo léo thông minh của người VN cũng là yếu tố
quan trong để tăng thế SP da giầy VN ở Mỹ.
2.2.2. Những nhân tố không thuận lợi.
Nhân tố khách quan:
- Thị trường Mỹ quá rộng lớn,hệ thống luật pháp phức tạp trong khi
đó các doanh nghiệp mới tiếp cận thị trường này ,kênh nghiệm, sự hiểu biết
không nhiều.
- Việt Nam chưa gia nhập WTO.
- Thị trường Mỹ quá xa Việt Nam, chi phí vận tải và bảo hiểm
chuyên chở xuất khẩu lớn,điều đã dẫn tới chi phí kinh doanh cao.
Thời gian vận chuyển dài,không nắm bắt được các xu thế thời trang
mới giầy trên thị trường Mỹ.
- Tính cạnh tranh trên thị trường Mỹ rãi cao, nhiều nước trên thế giới
có lợi thế tương tự như Việt Nam đều coi thị trường Mỹ là thị trường chiến
lược cho hoạt động xuất khẩu. Chính phủ và các doanh nghiệp các nước
này đều quan tâm đề xuất các giải pháp hỗ trợ thâm nhập nghành thị phần
trên thị trường Mỹ. Đây có thể coi là khó khăn khách quan tác động đến
khả năng thâm nhập sản của sản phẩm da dày Việt Nam trên thị trường Mỹ
- Ta bước vào thị trường Mỹ chậm hơn so với các đối tác khi mà thị
trường đã ổn định về người mua, bán, thói quen, sở thích sản phẩm.
Những nhân tố chủ quan:
- Hàng da dày của Việt Nam xuất khẩu sang các thị truường Mỹ chủ
yếu là do các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đang gia công cho hãng
giày lớn của Mỹ như: ReeBok hoặc NIKE. Hàng gia dày do các công ty
Việt Nam tự thiết kế mẫu mã, tự lo nguyên liệu sản xuất đưa vào duới dạng
xuất khẩu, thăm dò thị trường, trị giá nhỏ.
- Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay xuất khẩu da giầy ra nước ngoài
chủ yếu thông qua các hợp đồng gia công, xuất khẩu nên hiệu xuất thấp,
hiệu quả thấp,sự am hiểu về thị trường trong đó có thị trường mới như Mỹ
còn rất hạn chế.
- Tính cạnh tranh của sản phẩm của Việt Nam thấp ở hai khía cạnh
giá cả và chất lượng so với sản phẩm xuất khẩu cùng loại có xuất sứ từ các
quốc gia khác.
- Nhiều yếu tố làm nên tính cạnh tranh của sản phảm có biểu hiện
tác động không thuận lợi đến sản phẩm xuất khẩu da giày Việt Nam sang
Mỹ.
+ Trình độ công nhân và kĩ thuật sản xuất tuy có cải thiện nhưng lại
còn ở mức thấp so với các nước có hàng hoá đưa vào Mỹ như: Trung Quốc,
Thái Lan, InDonexia…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét