đây đã được đào tạo khá tốt. Đáng tiếc là cơ hội việc làm cho họ hiện không
nhiều", ông Du nói.
Năm 1971, ông Du được nhận một suất học bổng về chuyên ngành kiến trúc
tại Mỹ. Sau đó, số phận đã đưa ông đến với trung tâm đào tạo CNTT cho NKT.
"Từ nơi đây, tôi nhận ra CNTT là nghề bình đẳng nhất. Với CNTT, mọi người dù
bình thường hay khuyết tật đều có cơ hội như nhau về việc làm, lương bổng.
CNTT được xem như công cụ hữu hiệu rút ngắn khoảng cách giữa NKT với các
thành phần lao động khác".
Say mê học hỏi, từ một cậu bé khuyết tật (bị tai nạn và mất đi một phần cơ
thể), ông Du đã thành công trong sự nghiệp mà không phải người bình thường nào
cũng làm được: trở thành chuyên gia tư vấn CNTT cho nhiều tập đoàn hàng đầu
thế giới về công nghệ như EDS, Bluecross
"Cuộc đời đã mang lại cho tôi nhiều may mắn", ông Du tâm sự. Như một
cách tri ân, ông đã từ bỏ cuộc sống và công việc đang ổn định tại Mỹ để về VN lập
công ty phần mềm, mở rộng cánh cửa nghề nghiệp cho những NKT khác. "Tôi
muốn chia sẻ với những người cùng cảnh ngộ. Bản thân là NKT nên tôi hiểu họ,
biết cách thắp sáng ước mơ có công việc và được cống hiến đang cháy bỏng trong
họ. Họ là nguồn nhân lực mà nhiều doanh nghiệp đang không biết cách khai thác.
Người làm CNTT rất cần kỹ năng phân tích. Những nhân viên ở đây đều biết phân
tích hoàn cảnh để chiến thắng và vươn lên. Kỹ năng phân tích đó chính là chất xám
và tôi tin họ sẽ làm việc tốt".
Ông Du không giấu tham vọng chinh phục thị trường Mỹ – một thị trường
lớn và rất khó tính. Ông tự tin nói: "Nhiều DNPMVN cũng đang nỗ lực xâm nhập
vào thị trường này nhưng còn rất khó khăn. Tuy nhiên, không vì là một doanh
nghiệp mới mà PWD ngại xông pha. Mấy chục năm làm việc tại Mỹ đã giúp tôi có
5
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
mối quan hệ với các đối tác, quan trọng hơn, tôi hiểu làm ăn với người Mỹ là như
thế nào, cần phải đáp ứng yêu cầu gì Các DNPM VN hiện chưa có hợp đồng lớn,
chưa có kinh nghiệm làm việc trong một số chương trình, thiếu tính chuyên
nghiệp: hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, chất lượng tiêu chuẩn quốc tế
chưa có, dịch vụ khách hàng yếu Tất cả những điều này là rào cản của DNPM
VN khi tiếp cận với thị trường Mỹ".
Để sẵn sàng tiếp cận những khách hàng khó tính bậc nhất này, PWD hợp tác
với một đối tác của Mỹ là tập đoàn Evizi nhằm đảm bảo về hợp đồng gia công
phần mềm; hợp tác với tập đoàn DTT của VN về nguồn nhân lực và kinh nghiệm
làm việc cho những hợp đồng lớn. Đặc biệt, PWD đưa ra chương trình đào tạo
nhân viên mới theo cách rất đặc biệt. Khi được tiếp nhận vào PWD Soft, nhân viên
phải làm quen ngay với môi trường chuyên nghiệp. Buổi sáng, giảng viên đến dạy
họ về tin học và ngoại ngữ. Buổi chiều, họ tự chia nhóm để làm việc và hỗ trợ
nhau. Đây cũng là cách giúp mọi người làm quen với phương thức làm việc nhóm.
"Thời gian đầu, một số người không tránh khỏi sự bỡ ngỡ do chưa quen với
tác phong làm việc của công ty. Tuy nhiên, tôi muốn họ phải làm việc thực sự như
những người bình thường, hơn nữa, còn phải chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu
của đối tác. Có như vậy, khi nhận lương ngang bằng với người bình thường, NKT
mới cảm thấy xứng với sức lao động của mình. Tôi là người tham gia nhiều hoạt
động từ thiện (ông Du là người đã đứng ra quyên góp thiết bị y tế để các bệnh viện
trong nước có thể phẫu thuật miễn phí cho 300 trẻ em bị bệnh não úng thủy trong
nước - PV), nhưng tôi không mang tinh thần từ thiện vào công việc. Tôi chỉ mang
đến cho họ cơ hội làm việc như những người bình thường khác. CNTT có khả năng
mang đến cho NKT một tương lai tốt", ông Du chia sẻ.
6
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Tháng 12 năm 2007 công ty PWD Soft được thành lập dưới sự sáng lập của
ông Đỗ Văn Du và chính ông trực tiếp làm giám đốc.
2. Tổng quan về công ty PWD Soft
2.1. Giới thiệu chung
- Tên công ty : Công ty PWDSoft.
- Trụ sở: Số 101, Láng Hạ, Cầu Giấy, Hà Nội.
- Số điện thoại: 04 5624763
PWD là viết tắt của chữ People With Disabilities (công ty TNHH CNTT của
người khuyết tật).
PWD Soft là một gương mặt mới và rất đặc biệt trong "làng" CNTT Việt
Nam. Tất cả thành viên của PWD Soft - từ giám đốc đến nhân viên - là những
người không may mắn trong cuộc sống nhưng tự tin cho một quyết tâm lớn: tham
gia thị trường Mỹ.
Công ty PWDSoft thành lập nhằm thu hút những người khuyết tật
có khả năng và đam mê ngành CNTT đặc biệt là công nghệ phần mềm vào đào tạo
để trở thành những lập trình viên chuyên nghiệp. Sau khi được đào tạo thì họ sẽ
được tạo công ăn việc làm đầy đủ.
- Nội dung hoạt động:
+ Đào tạo lập trình viên.
+ Nhận các hợp đồng sản xuất và gia công phần mềm.
- Địa bàn hoạt động của công ty: phạm vi cả nước và nước ngoài.
7
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
- Hiện nay công ty có 20 người, có cả những lập trình viên và các học viên.
Các học viên sẽ được đào tạo từ 6 tháng đến 1 năm tùy theo năng lực của
mỗi người.
2.2. Sơ đồ tổ chức của công ty PWD Soft
2.3. Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban:
• Giám đốc: là người điều hành mọi hoạt động của công ty.
• Nhóm 1, nhóm 2: mỗi nhóm có 1 trưởng nhóm và 9 nhân viên khác, thực
hiện những nhiệm vụ mà giám đốc giao cho.
• Quản trị hệ thống: là người phụ trách về máy tính và mạng máy tính của
công ty.
2.4. Quan hệ của PWD Soft với các tổ chức, công ty khác
Giám Đốc
Nhóm 1 Nhóm 2
Quản trị hệ
thống
8
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
PWD Soft có nhiều bạn hàng là các tổ chức, tập đoàn lớn ở trên thế giới như
tập đoàn EVIZI, hãng máy bay BOING của Mỹ và nhiều công ty gia công phần
mềm khác ở Mỹ và Đan Mạch.
Ngoài ra ở Việt Nam thì PWD Soft có quan hệ thân thiết với các công ty
DTT, HanoiCTT là những công ty gia công phần mềm nổi tiếng đạt tiêu chuẩn
quốc tế.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ
BẢN VÀ NGÔN NGỮ SỬ DỤNG.
I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN.
1. Tổ chức và thông tin trong tổ chức.
Trong những năm 80 đã chứng kiến sự gia tăng tầm quan trọng của thông tin
trong các tổ chức, tốc độ và sự phức tạp của xử lý ngày một tăng. Hàng triệu máy
tính được lắp đặt trên thế giới và nhiều triệu km cáp quang, dây dẫn và sóng điện
từ kết nối con người, máy tính cũng như các phương tiện xử lý thông tin lại với
nhau.
Thông tin trong các cơ quan, tổ chức có tầm quan trọng vô cùng to lớn.
Thông tin được dùng để lập kế hoạch nhằm tạo ra sự biến chuyển trong tổ chức
đồng thời thông tin cũng là một phương tiện để biến chuyển.
Nhờ có thông tin, các nhà quản lý có thể lập kế hoạch, đặt ra những mục tiêu
cho công ty hay tổ chức của mình một cách sát với thực tế. Các nhà quản lý, lãnh
9
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
đạo nhờ có thông tin có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng đối với hoạt động
của tổ chức, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đóng vai trò của một lực trợ giúp
và một chất xúc tác trong việc nâng cao tầm quan trọng của thông tin. Tầm quan
trọng của thông tin trong tổ chức ngày càng tăng, nhờ có nguồn thông tin chính
xác, tin cậy mà các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời,
những quyết định có chất lượng cao góp phần vào sự thành công của cơ quan hay
tổ chức.
Hình dưới đây là sự thể hiện một tổ chức do R.N Anthony đưa ra. Anthony
trình bày tổ chức như là một thực thể cấu thành từ ba mức quản lý có tên là: lập kế
hoạch chiến lược, kiểm soát quản lý chiến thuật và điều hành tác nghiệp.
10
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Xử lý giao dịch
Cấp tác nghiệp
Cấp chiến
thuật
Cấp
chiến
lược
Dữ liệuDữ liệuDữ liệu
Thông tin
Thông tin
Thông tin
Quyết định
Quyết định
Quyết định
Tháp quản lý
Các quyết định của một tổ chức được chia thành 3 loại: quyết định chiến
lược, quyết định chiến thuật và quyết định tác nghiệp.
- Quyết định chiến lược: là những quyết định xác định mục tiêu và những
quyết định xây dựng nguồn lực cho tổ chức.
- Quyết định chiến thuật: là những quyết định cụ thể hoá mục tiêu thành
nhiệm vụ, những quyết định kiểm soát và khai thác tối ưu nguồn lực.
- Quyết định tác nghiệp: là những quyết định nhằm thực thi nhiệm vụ.
2. Khái quát về Hệ thống thông tin
2.1. Định nghĩa về HTTT
Hệ thống thông tin là một tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng
và phần mềm… thực hiện hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin
trong một tấp các ràng buộc được gọi l à môi trường.
2.2. Vòng đời phát triển của một HTTT
Thu thập
Nguồn
Đích
Phân phátXử lý và
lưu trữ
CSDL
11
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Mô hình Hệ thống thông tin
HTTT được xây dựng là sản phẩm của hàng loạt các hoạt động được gọi là
phát triển hệ thống. Quá trình phát triển một HTTT kể từ khi nó sinh ra cho đến khi
lụi tàn gọi là vòng đời phát triển hệ thống.
Để xem xét một cách trực quan một vòng đời của một HTTT chúng ta xem
xét mô hình được xắp xếp theo hình bậc thang (hay còn gọi là mô hình thác nước)
12
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
2.2.1. Khởi tạo và lập kế hoạch dự án
Trong giai đoạn này cần chú ý đến hai khía cạnh đó là khởi tạo và lập kế
hoạch. đó là những bước đầu cơ bản vạch ra cho hướng phát triển tiếp theo. Qua
đây chúng ta có thể biết được dự án có thể xây dựng trong bao lâu và các nguồn
lực cần cho phát triển hệ thống. Trong đó chúng ta phải xác định rõ mục tiêu nhiệm
vụ cũng như vai trò và tầm quan trọng của HTTT. Cần phải xem xét về tính khả thi
về mặt kinh tế, kỹ thuật, thời gian, tính pháp lý và nguồn lực con ngừời.
2.2.2. Phân tích hệ thống
Phần này nhằm xác định yêu cầu của hệ thống một cách chi tiết hơn. Nó
phải đảm bảo cung cấp các dữ liệu cơ sở cho HTTT sau này. Phân tích phải đảm
bảo xác định được các yêu cầu, nghiên cứu yêu cầu và cấu trúc của nó và tìm giải
pháp cho thiết kế ban đầu.
13
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Khởi tạo
và lập KH
Phân tích
Thiết kế
Triển khai
Vậnhành
bảo trì
Thời gianMô hình thác nước của vòng đời hệ thống
2.2.3. Thiết kế hệ thống
Từ các khía cạnh đã được xem xét và phân tích chúng ta tiến hành thiết kế
bao gồm: thiết kế logic và thiết kế vật lý.
2.2.4. Triển khai hệ thống
Bao gồm hai công việc lớn và cụ thể là: Tạo lập các chương trình và cài đặt
và chuyển đổi hệ thống.
2.2.5. Vận hành và bảo trì
Bắt đầu vận hành và bước đầu khai thác hệ thống. Lúc này chuyên viên chỉ
đóng vai trò người hướng dẫn. việc sử dụng hệ thống hoàn toàn do người sử dụng
tiến hành. Trong quá trình vận hành hệ thống luôn được bảo trì theo kế hoạch định
trước và khi có nhu cầu.
3. Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin
3.1. Nguyên nhân dẫn tới việc phát triển một hệ thống thông tin
Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học công nghệ, thông tin. Hệ thống
thông tin ngày càng có vai trò quan trọng, to lớn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến
việc ra quyết định và chất lượng của quyết định. Một hệ thống thông tin hoạt động
tốt là một hệ thống mà nhờ nó các nhà quản lý có thể ra các quyết định có chất
lượng cao. Nhờ có các quyết định này mà các cơ quan hay tổ chức có thể sản xuất,
phân phối những sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy lớn, đáp ứng tốt nhu cầu
khách hàng, góp phần vào sự thành công của cơ quan hay tổ chức.
Có thể nói, phát triển một hệ thống thông tin là cung cấp cho các thành viên
của tổ chức những công cụ quản lý tốt nhất. Một hệ thống thông tin hoạt động tốt
là bộ phận không thể thiếu của cơ quan, tổ chức hiện đại nào, giống như một con
người phải có trí nhớ tốt mới có thể thành công. Có thể tóm lược các nguyên nhân
đó như sau:
Nguyên nhân dẫn đến việc phát triển hệ thống thông tin:
14
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét