mặt hàng cụ thể, đến việc đa hàng hoá đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng nhằm
đảm bảo cho công ty thu hút đợc nhiều lợi nhuận dự kiến
Khái niệm này liên quan đến bản chất Marketing. ở đây Marketing hoạt
động từ việc phát hiện ra nhu cầu và đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất cho ng-
ời tiêu dùng. Tức là nó mang một triết lý Marketing là phát hiện, đáp ứng nhu
cầu một cách tốt nhất nhằm thực hiện đợc lợi nhuận mục tiêu. Thực chất của
Marketing thơng mại là xác định lại cho phù hợp với điều kiện mới của nền
kinh tế hiện đại vị trí của nhà kinh doanh và khách hàng trong hoạt động kinh
tế. Từ đó sử dụng một cách đồng bộ và khoa học các quan điểm lý thuyết hiện
đại về tổ chức, quản trị kinh doanh trong quá trình tiếp cận, chinh phục khách
hàng để tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy 3 vấn đề t tởng cơ bản của Marketing là:
(1) Nhu cầu của khách hàng dẫn đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
(2) Mọi nỗ lực của doanh nghiệp cần đợc liên kết lại.
Doanh nghiệp muốn chiến thắng trên thơng trờng phải tạo ra sức mạnh
tổng hợp, khai thác hết tiềm năng khách hàng, tận dụng hết lợi thế cạnh tranh
sản phẩm cụ thể, sản phẩm bổ sung.
(3) Lợi nhuận không chỉ là bán hàng mà là mục tiêu chiến lợc cần tìm
kiếm:
Không phải bất kỳ một thơng vụ nào cũng đạt mục tiêu lợi nhuận lên vị trí
hàng đầu mà phải xem xét mục tiêu cụ thể của từng doanh nghiệp trong từng
giai đoạn cụ thể, xác định mục tiêu quan trọng nhất của khâu cụ thể.
Tóm lại, nội dung cơ bản của Marketing là:
+ Giúp doanh nghiệp xác đinh t tởng kinh doanh để có cách ứng xử phù
hợp.
+ Giúp doanh nghiệp đầu t đúng hớng, Marketing phải:
Đa ra lý thuyết cần thiết để ngời ta nghiên cứu thị trờng (đa cách tiếp cận
thị trờng, xử lý thông tin) để đa ra những quyết định đúng trên cơ sở tìm rõ
những bản chất của thông tin đa ra, tìm thông tin chuẩn, tính thực chất của
thông tin, xác định vấn đề nào, lựa chọn thông tin nào cần nghiên cứu.
Giúp các doanh nghiệp tìm kiếm, xác định cơ hội kinh doanh và thời cơ
hấp dẫn trong kinh doanh, làm giảm rủi ro cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng.
Nghiên cứu các hoạt động giúp cho doanh nghiệp vợt qua thời cơ. Cụ thể
là: Nghiên cứu môi trờng kinh doanh và sự vận động của nó, nghiên cứu hành vi
mua sắm của khách hàng, tổ chức các hoạt động Marketing chức năng để chinh
phục khách hàng (chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối,
chính sách xúc tiến )
Từ những phân tích trên có thể kết luận vai trò của Marketing trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nh sau:
Marketing có một vai trò rất quan trọng trong kinh doanh nó hơnggs dẫn,
chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
nhờ các hoạt động Marketing các quyết định đề ra trong sản xuất kinh doanh có
cơ sở khoa học vững chắc hơn, doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ
hơn thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng. Marketing xác định rõ phải sản xuất
cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản phẩm có đặc điểm nh thế nào, cần sử dụng tốt
hoạt động Marketing thì có thể họ rất tốn tiền của vào việc sản xuất ra các sản
phẩm, dịch vụ mà trên thực tế ngời tiêu dùng không mong đợi. Trong khi đó
nhiều loại sản phẩm và dịch vụ họ rất cần và muốn đợc thoả mãn thì nhà sản
xuất lại không phát hiện ra. Bên cạnh đó hoạt động Marketing làm cho sản
phẩm thích ứng với nhu cầu thị trờng, nó kích thích sự nghiên cứu và cải tiến
làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt đợc những mục tiêu đề ra. Marketing
có ảnh hởng to lớn, ảnh hởng quyết định đến doanh số, chi phí, lợi nhuận và qua
đó đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời nó là công cụ quản lý kinh tế và
công cụ của kế hoạch hoá.
Qua đó ta thấy Marketing có một vai trò quan trọng trong việc góp phần
vào thắng lợi của nhiều doanh nghiệp cho nên Marketing đợc coi là chiếc chìa
khoá vàng, là bí quyết tạo thắng lợi trong kinh doanh.
II. Nội dung của hoạt động Marketing - Mix:
Thực chất công việc Marketing là biến các nhu cầu xã hội thành những cơ
hội sinh lời. Muốn vậy các công ty phải có mục tiêu rõ ràng, có thể là mục tiêu
về thị phần, về lợi nhuận, về an toàn trong kinh doanh và tuỳ theo mục tiêu
mà công ty theo đuổi, công ty đa ra các quyết định về chiến lợc, chiến thuật
Marketing phù hợp. Marketing - Mix chính là một hệ thống trong Marketing
hiện đại để công ty đạt đợc mục tiêu đề ra.
Theo Philip Kotler: Marketing - Mix là tập hợp những yếu tố biến động
kiểm soát đợc của Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây đợc phản ứng
mong muốn từ phía thị trờng mục tiêu.
Các bộ phận cấu thành của Marketing hỗn hợp đợc biết đến nh là 4P; đó
là: chiến lợc sản phẩm (Product); chiến lợc giá cả (Price); chiến lợc phân phối
(Place) và chiến lợc xúc tiến khuyếch trơng (Promotion). Các bộ phận này
không phải thực hiện một cách rời rạc mà phải đợc kết hợp chặt chẽ. Công ty
cũng không vì thế mà xây dựng các chiến lợc này mang tính chất cào bằng. T-
ơng ứng với từng giai đoạn phát triển của sản phẩm, với mỗi loại thị trờng,
chiến lợc của đối thủ cạnh tranh, công ty sẽ chọn cho mình một chiến l-
ợcMarketing hiệu quả, là sự kết hợp của 4 yếu tố trong Marketing - Mix với
mức độ quan trọng khác nhau.
* Chiến lợc sản phẩm
Chiến lợc sản phẩm là việc xác định danh mục sản phẩm, chủng loại và
các đặc tính của nó nh tên gọi, nhãn hiệu, các đặc tính kỹ thuật, bao gói, kích cỡ
và dịch vụ sau bán hàng. Nh vậy, chính sách hàng hoá là một lĩnh vực hoạt
động nhiều chiều và phức tạp đòi hỏi công ty phải thông qua những quyết định:
Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá: Các vấn đề cơ bản doanh
nghiệp phải giải quyết trong quyết định này là: có gắn nhãn hiệu cho hàng hoá
của mình hay không? Ai là ngời chủ nhãn hiệu hàng hoá? Tơng ứng với nhãn
hiệu đã chọn chất lợng hàng hoá có những đặc trng gì? Đặt tên cho nhãn hiệu
nh thế nào? Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?
Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hoá: Hiện tại, công ty luôn
phải đặt vấn đề là mở rộng của chủng loại hàng hoá bằng cách nào? Công ty
phải đa ra quyết định lựa chọn một trong hai hớng, phát triển chủng loại hoặc
bổ sung chủng loại hàng hoá.
Quyết định về bao gói và dịch vụ đối với sản phẩm hàng hoá: Bao gói và
dịch vụ đối với sản phẩm hàng hoá là một trong các yếu tố cấu thành sản phẩm
hàng hoá hoàn chỉnh. Do vậy, đây là một công cụ đắc lực của hoạt động
Marketing đòi hỏi các nhà quản trị Marketing phải đa ra những quyết định hiệu
quảa.
* Chiến lợc giá cả:
Chiến lợc giá cả là việc xác định mục tiêu định giá, lựa chọn các phơng
pháp định giá cũng nh chính sách định giá phù hợp của công ty.
Mục tiêu của chiến lợc giá đợc xác định sau khi công ty xác định đợc mục
tiêu định giá, cầu ở thị trờng mục tiêu và phân tích hàng hoá và giá cả của đối
thủ cạnh tranh.
Có rất nhiều phơng pháp định giá, bao gồm việc định giá theo mô hình 3C,
định giá theo cách cộng lãi vào chi phí, định giá theo thoả thuận, theo giá trị
cảm nhận Bằng cách lựa chọn một trong các định giá, công ty đã thu hẹp
khoảng giá để từ đó chọn cho mình một mức giá cuối cùng.
Tuy nhiên, công ty không chỉ xây dựng một mức giá bán duy nhất mà
phải xây dựng cho mình những chiến lợc giá để có thể thích ứng một cách
nhanh chóng với những thay đổi về cầu, về chi phí, khai thác tối đa những cơ
hội xuất hiện trong từng giao dịch và phản ứng kịp thời với những thủ đoạn
cạnh tranh về giá cả của các đối thủ cạnh tranh.
Một chiến lợc về giá mà công ty có thể áp dụng bao gồm:
Xác định giá cho sản phẩm mới: Đây là chiến lợc về giá đợc soạn thảo
gắn với giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm.
Chiến lợc áp dụng cho danh mục hàng hoá: Trên thực tế một vài công ty
sẽ thu đợc lợi nhuận kinh doanh cao hơn nếu họ theo quan điểm hình thành giá
cả: xem sản phẩm chỉ là một bộ phận của danh mục sản phẩm.
Định giá 2 phần: Chiến lợc này thờng sử dụng cho các công ty dịch vụ.
Định giá theo nguyên tắc địa lý: Công ty định giá sản phẩm của mình
cho khách hàng theo các khu vực địa lý.
Chiết giá và bớt giá: Công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản của mình
thông qua chiết giá, bớt giá để khuyến khích khách hàng trong việc mua và
thanh toán.
Định giá khuyến mại: Đây là hình thức điều chỉnh giá tạm thời nhằm
mục đích hỗ trợ các hoạt động xúc tiến bán.
Định giá phân biệt: Công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản để phù hợp
với những điều kiện khác biệt của khách hàng, của sản phẩm hoặc của các yếu
tố khác chứ không phải vì chi phí.
Thay đổi giá. Trong nhiều trờng hợp do những biến đổi của môi trờng
kinh doanh, công ty buộc phải thay đổi chiến lợc định giá của mình, nghĩa là
chủ động thay đổi mức giá cơ bản hoặc đối phó lại việc thay đổi giá của đối thủ
cạnh tranh.
* Chiến lợc phân phối.
Bao gồm các hoạt động giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ đợc đa nh thế
nào đến ngời tiêu dùng. Các quyết định về phân phối thờng phức tạp và có ảnh
hởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực khác trong Marketing.
Sau khi xác định mục tiêu phân phối, lựa chọn, thiết lập các kiểu kênh
phân phối phù hợp, lựa chọn các trung gian thiết lập một liên hệ trong kênh và
toàn bộ mạng lới phân phối, công ty đa ra các quyết định phân phối vật chất bao
gồm các hoạt động:
Xử lý đơn đặt hàng.
Quyết định về kho bãi dự trữ hàng.
Quyết định khối lợng hàng hoá dự trữ trong kho.
Quyết định về vận tải.
Phân phối hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để đáp ứng nhu cầu thị
trờng, củng cố uy tín của doanh nghiệp. Đồng thời quá trình phân phối hàng
hoá chính xác đảm bảo sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp đợc vận động hợp
lý, giảm chi phí lu thông giúp doanh nghiệp bất cứ các cơ hội chiếm lĩnh và mở
rộng thị trờng.
* Chiến lợc xúc tiến khuyếch trơng:
Chiến lợc xúc tiến, khuyếch trơng bao gồm mọi hoạt động của công ty
nhằm truyền bá những thông tin về sản phẩm và dịch vụ của công ty với đối t-
ợng là toàn bộ công chúng nói chung và ngời tiêu dùng - khách hàng mục tiêu
nói riêng, nhằm mục đích giới thiệu, kích thích, thuyết phục khách hàng hiểu
biết, chấp nhận, a thích, tin tởng cuối cùng là mua hàng.
Thông tin Marketing sẽ trao quyền, đa đến, chuyển giao những thông điệp
cần thiết về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp, về phơng thức phục
vụ, về những lợi ích mà khách hàng nhận khi mua sản phẩm của doanh nghiệp
cũng nh những tin tức cần thiết từ phía khách hàng. Thông qua đó doanh
nghiệm tìm cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng. Một số công cụ chủ
yếu thờng đợc các công ty sử dụng trong các chiến lợc xúc tiến hỗn hợp là:
Quảng cáo: Đợc coi là một trong những công cụ quan trọng hàng đầu
của hoạt động xúc tiến thơng mại qua việc doanh nghiệp sử dụng các phơng tiện
không gian và thời gian để chuyển đến khách hàng tiềm năng những thông tin
về doanh nghiệp cũng nh sản phẩm của doanh nghiệp. Quảng cáo bao gồm mọi
hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao những ý tởng, hàng hoá hoặc
dịch vụ đợc thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh
toán các chi phí, quảng cao là hoạt động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, là biện
pháp truyền thông tin, nhắc nhở thuyết phục khách hàng nhằm mục đích tiêu
thụ hàng hoá dịch vụ. Với đối tợng khách hàng khác nhau thì doanh nghiệp lựa
chọn các loại quảng cáo phù hợp (nh quảng cáo gây tiếng vang hay quảng cáo
sản phẩm; Quảng cáo lôi kéo hay quảng cáo thúc đẩy) và tuỳ từng loại quảng
cáo khác nhau ngời ta sử dụng các hình thức quảng cáo khác nhau (nh qua các
phơng tiện thông tin đại chúng: báo chí, truyền hình, tạp chí, quảng cáo ngoài
trời, trên cácd phơng tiện giao thông, quảng cáo trực tiếp tại nơi bán ).
Xúc tiến bán: Là những biện pháp tác động tức thời ngắn hạn để khuyến
khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ. Nói cách khác xúc tiến bán hàng đợc
hiểu là tất cả các hoạt động Marketing của doanh nghiệp nhằm tác động vào
tâm lý khách hàng, tiếp cận họ để nắm bắt nhu cầu của họ từ đó đa ra các biện
pháp để lôi kéo - kích thích họ mua hàng.
Hoạt động xúc tiến giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối
quan hệ với bạn hàng đồng thời giúp doanh nghiệp những thông tin về thị trờng,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh, giúp doanh nghiệp có
thông tin tốt về khách hàng cũng nh đối thủ cạnh tranh để có hớng đổi mới kinh
doanh, đầu t phù hợp. Mặt khác, xúc tiến cũng là công cụ hữu hiệu để chiếm
lĩnh thị trờng, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ trên thị trờng chính về
xúc tiến tạo điều kiện làm cho bán hàng đợc thuận lợi, kênh phân phối đợc bố
trí hợp lý, tăng hiệu quả, hơn nữa xúc tiến bán là công cụ đặc biệt kích thích ng-
ời tiêu dùng tìm hiểu - mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Tóm lại,
hoạt động xúc tiến là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp.
Tuyên truyền: Là việc kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu
về hàng hoá - dịch vụ hay tăng uy tín của doanh nghiệp bằng cách đa ra những
tin tức có ý nghĩa thơng mại về doanh nghiệp trên các ấn phẩm, các phơng tiện
thông tin đại chúng một cách thuận lợi và miễn phí.
Bán hàng cá nhân: Là sự giao tiếp trực tiếp giữa ngời bán với khách hàng
tiềm năng, trong đó ngời bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
cho ngời mua và nhận tiền. Bán hàng là khâu trung gian liên lạc thôgn tin giữa
doanh nghiệp và khách hàng, thông qua hoạt động mua bán, nhà kinh doanh
nắm bắt tốt hơn nhu cầu và ngời tiêu dùng cũng hiểu hơn về nhà snả xuất kinh
doanh, đánh giá đợc tiềm năng của doanh nghiệp qua đó lựa chọn chính xác nhà
cung cấp cho mình . Điều kiện để hoạt động bán hàng cá nhân hiệu quả là xây
dựng đội ngũ đại diện sử dụng bán hàng có năng lực tinh thông nghiệp vụ, đợc
đào tạo kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật chào hàng, trung thực, năng động. Mặt
khác, việc tổ chức phân tích kết quả bán hàng nhằm tìm ra những hạn chế và
thuận lợi của phơng án kinh doanh cũng rất quan trọng.
Khuyến mại: Là một trong những công cụ khá quan trọng của xúc tiến
khuyến mại đợc coi nh hình thức xúc tiến bổ sung cho quảng cáo. Phần lớn các
doanh nghiệp sử dụng khuyến mại nhằm kích thích khách hàng tới hành vi mua
sắm. Hoạt động này có thể áp dụng cho cả khách hàng là ngời tiêu dùng, trung
gian phân phối cũng nh khách hàng công nghiệp, thờng đợc sử dụng cho các
hàng hoá mới tung ra thị trờng, áp lực cạnh tranh cao, hoặc những sản phẩm có
đơn giá thấp mà doanh thu cao. Ngời làm Marketing sẽ đạt mục đích kích thích
tiêu thụ trong thời gian ngắn khi tổ chức hoạt động khuyến mại, thông qua đó
doanh nghiệp thu hút thêm khách hàng mới, kích thích khách hàng truyền
thống, trên cơ sở đó giữ vững bảo vệ cũng nh phát triển thị trờng tiêu thụ sản
phẩm nhanh chỉ đạt tạm thời. Những hình thức khuyến mại chủ yếu là: giảm
giá, phát hành miễn phí cho ngời tiêu dùng, phiếu mua hàng, trả lại một phần
tiền, thi cá cợc, trò chơi, thởng tiền đồ vật, quà tặng Ngân sách cho khuyến
mại nhỏ hơn nhiều so với quảng cao về mức tiêu thụ.
Quan hệ công chúng:
Công chúng có thể tạo thuận lợi và gây trở ngại cho khả năng đạt đợc các
mục tiêu của doanh nghiệp. Ngời quyết định cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp không chỉ là khách hàng mà còn là ngời cung ứng, đại lý và công
chúng quan tâm. Doanh nghiệp có thể xây dựng mối quan hệ với công chúng
qua phơng tiện báo chí, tham gia hội chợ, triển lãm tổ chức hội nghị, hội thảo
nhằm qua đó giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp, tạo sự quan tâm chú ý tới
sản phẩm của doanh nghiệp, gây uy tín, khuyến khích bán hàng.
Tóm lại, Marketing - Mix là tập hợp những công cụ có thể kiểm soát đợc
mà doanh nghiệp sử dụng để điều khiển khách hàng. Việc lựa chọn chiến lợc
Marketing thành công đòi hỏi phải hình dung đợc một cách sáng tạo tiềm năng
phát triển của thị trờng và sản phẩm. Điều này có thể dựa trên cơ sở thăm dò
khách hàng, trực giác, lập luận biện chứng hay lập luận thứ bậc của nhu cầu.
Lợi nhuận sẽ đổ dồn vào những ngời sớm tung ra những ích lợi mới và có giá
trị.
III. Những nhân tố cơ bản ảnh hởng tới việc vận dụng Marketing -
Mix vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Marketing - Mix đợc vận dụng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều
yếu tố trong bản thân doanh nghiệp cũng nh ngoài môi trờng khách quan. Tuỳ
từng điều kiện, mục tiêu kinh doanh, mỗi doanh nghiệp có cách vận dụng
Marketing - Mix phù hợp.
Trên thực tế có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến vận dụng Markeing - Mix
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên những mức độ, phơng thức
khác nhau, ở đây chúng ta giới hạn xem xét những nhân tố chính trực tiếp sau
đây.
1. Các nhân tố thuộc môi trờng kinh doanh.
Là các nhân tố khách quan ảnh hởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải thích ứng với các nhân tố chứ không thể điều khiển đợc. Các
nhân tố này phát triển theo nhiều hớng khác nhau có thể tạo ra thuận lợi hoặc
cản trở kinh doanh cho doanh nghiệp.
a. Các yếu tố thuộc môi trờng địa lý sinh thái:
Có ảnh hởng đến quá trình phát triển cơ hội và khả năng khai thác cơ hội
kinh doanh. Bởi vì với doanh nghiệp thơng mại nhân tố này có thể tác động đến
khả năng cạnh tranh qua chi phí vận chuyển, duy trì mối liên hệ chinh phục
khách hàng mục tiêu có đợc thờng xuyên và nhanh chóng; phơng thức bảo quản
hàng hoá và đặc biệt là chu kỳ tiêu dùng của hàng hoá. Các nhân tố chủ yếu
trong nhóm này bao gồm:
- Vị trí địa lý
- Khí hậu, thời tiết, tính chất mùa vụ.
- Các vấn đề về cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trờng.
b. Môi trờng kinh tế
Một sản phẩm tiêu thụ đợc tức là thị trờng có nhu cầu về sản phẩm đó. Tuy
nhiên khối lợng sản phẩm đợc tiêu thụ nhiều hay ít lại phụ thuộc rất lớn vào sức
mua. Đây là một yếu tố quan trọng đối với thị trờng. Sức mua bản thân nó lại
phụ thuộc vào mức thu nhập, giá cả, số tiền tiết kiệm, lãi suất, khả năng vay nợ,
tỉ lệ thất nghiệp, sự suy thoái kinh tế v.v Hay nói cách khác sức mua phụ
thuộc rất lớn vào môi trờng kinh tế. Môi trờng kinh tế Việt Nam hiện nay hết
sức thuận lợi, với sự tăng trởng kinh tế đều đặn, ổn định, tỷ lệ lạm phát ở mức
kiểm soát đợc, giá trị của đồng tiền Việt Nam tơng đối ổn định, thu nhập của
ngời dân ngày càng cao. Điều này cho thấy sức mua đối với các sản phẩm hàng
hoá là rất lớn có nghĩa là khối lợng sản phẩm hàng hoá đợc tiêu thụ mạnh.
Những ngời làm Marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hớng chủ yếu trong
thu nhập và các kiểu chi tiêu của ngời tiêu dùng. Phân phối thu nhập có ảnh h-
ởng lớn đến quyết chi tiêu cho hàng hoá dịch vụ của ngời tiêu dùng. Có năm
kiểu phân phối thu nhập: (1) thu nhập rất thấp, (2) phần lớn có thu nhập thấp,
(3) thu nhập rất thấp rất cao, (4) thu nhập thấp, trung bình, cao và (5) phần lớn
có thu nhập trung bình. Cơ cấu thu nhập của Việt Nam thuộc kiểu thứ (2), tuy
nhiên trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình đô thị
hoá đã dẫn đến sự hình thành một bộ phận lớn những ngời có thu nhập trung
bình và cao ở các thành phố và thị xã. Đây chính là một bộ phận đòi hỏi phải có
những hàng hoá mới đa dạng và phong để đáp ứng nhu cầu của họ. Việc chi tiêu
của ngời tiêu dùng còn chịu ảnh hởng của tiết kiệm, nợ nần, khả năng vay tiền
và thói quen mua sắm. Nh vậy môi trờng kinh tế thuận lợi còn giúp các doanh
nghiệp sản xuất tốt hơn. Chất lợng sản phẩm đợc nâng cao, chủng loại sản phầm
ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Tất cả các yếu tố trên đều dẫn đến sự
thay đổi trong khối lợng sản phẩm tiêu thụ. Nói tóm lại môi trờng kinh tế nói
chung và môi trờng kinh tế Việt Nam nói riêng có ảnh hởng rất rõ nét tới tiêu
thụ sản phẩm trong đó có sản phẩm bia.
c. Môi trờng chính trị và pháp luật.
Các yếu tố chính trị và pháp luật có ảnh hởng ngày càng lớn tới hoạt động
của các doanh nghiệp nói chung và tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng.
Môi trờng chính trị và pháp luật đợc quy định bởi các luật lệ, quy định của nhà
nớc và chính quyền các cấp. Các luật lệ và quy định này sẽ ảnh hởng tới quyết
định của các công ty. Ví dụ nh quyết định cấm quảng cáo thuốc lá, rợu, quy
định về thời gian và số lần quảng cáo xuất hiện trên truyền hình có ảnh hởng tới
các quyết định trong chính sách quảng cáo của một doanh nghiệp. Đối với
ngành bia cũng vậy, các nhà máy phải tuân thủ các quy định về thuế, quảng
cáo, bảo vệ môi trờng .v.v Có thể nói ảnh hởng lớn nhất đối với ngành bia đó
là việc có cho phép hay không các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào ngành này.
Trong năm 1999 do có quá nhiều nhà máy bia ở Việt Nam chính vì vậy nhà nớc
đã ra quyết định tạm thời ngừng cấp giấy phép liên doanh đối với ngành bia
(theo thời báo kinh tế tháng 3). Việc nhà nớc quy định mức thuế tiêu thụ đặc
biệt khá cao (47% đối với sản phẩm bia) đã đẩy giá bán sản phẩm lên khá cao,
đây cũng là một khó khăn cho các doanh nghiệp khi thâm nhập, mở rộng thị tr-
ờng và tiêu thụ sản phẩm. Luật kinh doanh có một số mục đích sau: thứ nhất là
bảo vệ các công ty trong quan hệ với nhau tránh hiện tợng cạnh tranh không
lành mạnh, hoặc liên kết với nhau để nâng giá có hại cho ngời tiêu dùng. Thứ
hai là bảo vệ ngời tiêu dùng trớc tình trạng kinh doanh gian dối. Ví dụ nh việc
quảng cáo sai sự thật, đánh lừa bằng bao bì và dùng giá để câu khách. Thứ ba là
bảo vệ lợi ích của xã hội chống lại những hành vi tiêu cực trong kinh doanh. Ví
dụ nh sản xuất gây ô nhiễm ảnh hởng đến đời sống và sinh hoạt của ngời dân ở
khu vực xung quanh.
Nh vậy ta thấy rằng môi trờng luật pháp điều chỉnh hành của của các
doanh nghiệp trong kinh doanh. Điều này mang lại ý nghĩa thiết thực cho cả
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét