Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

455 Một số giải pháp thực hiện cơ chế quản lý tự khai – tự nộp thuế tại tỉnh Bình Thuận

Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
- Đến khi giai cấp tư sản nắm được chính quyền, giai đoạn đầu họ chủ trương
xây Nhà nước tự do, không can thiệp vào hoạt động kinh tế của các lực lượng kinh tế
thị trường. Nhà nước chỉ đảm nhận nhiệm vụ giữ gìn an ninh, quốc phòng. Thuế khóa
chỉ đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để nuôi sống bộ máy Nhà nước
và đáp ứng nhu cầu chi tiêu công cộng khác. Nhưng khi bước vào những năm 29- 33
của thế kỷ XX, nền kinh tế của các nước tư bản lâm vào khủng hoảng. Để đưa nền
kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, Nhà nước tư sản phải can thiệp vào hoạt động kinh tế
bằng cách lập ra các chương trình đầu tư lớn và thực hiện tái phân phối thu nhập xã
hội thông qua các công cụ tài chính. Trong số các công cụ trên thì thuế là công cụ quan
trọng và sắc bén để Nhà nước thực hiện điều chỉnh nền kinh tế.
Như vậy, cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự
phát triển của các quan hệ hàng hoá tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng phong phú
hơn, công tác quản lý thuế ngày càng được hoàn thiện hơn và thuế đã trở thành một
công cụ quan trọng, có hiệu quả của Nhà nước để tập trung nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nước và tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, sau
nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là sau cải cách thuế bước 1 ( năm 1990 ), bước 2 (
năm 1999 ) đã thể hiện tính phát triển liên tục của thuế, từ chổ lạc hậu, bất cập, không
đảm bảo tính khoa học và còn nhiều hạn chế, hệ thống thuế Việt Nam đã dần hoàn
thiện, khoa học hơn, gần gũi hơn và phù hợp hơn với các qui định về thuế của khu vực
và thế giới, đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu quan trọng như:
- Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà Nước.
- Là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Là công cụ tài chính chủ yếu của Nhà Nước trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô
nền kinh tế.
- Tính pháp lý cao, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra.
2/
Bản chất và chức năng của thuế.
a/
Bản chất của thuế.
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước
theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực
tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 5
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
Ngoài khoản thu về thuế, Ngân sách Nhà nước còn có những khoản thu về phí
và lệ phí. Đây là những khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi được một
cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước uỷ quyền cung cấp hàng hoá,
dịch vụ công cộng.
Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên
quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Tuy nhiên, về bản chất,
thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, giá cả.v.v. Điều này thể hiện
qua các đặc điểm cơ bản sau của thuế:
(1) Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước:
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản
của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc
ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ
quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao.
Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chổ Nhà nước không thể thực hiện
thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được
xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành.
Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức
động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác.
(2) Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp
cho Nhà nước:
Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện
phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế
được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát
hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế.
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự
nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với
những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 6
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
(3) Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả
trực tiếp. Còn phí, lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người thụ hưởng
dịch vụ này.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không
hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá
công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước
cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước.
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực tiếp
cho người nộp thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ
công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp
thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho
Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí
và giá cả.
Như vậy xét về bản chất, thuế là một hình thức phân phối, là quá trình dịch
chuyển thu nhập xã hội một chiều từ mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư
vào ngân sách Nhà Nước .
b/
Chức năng của thuế.
* Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính:
Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn là phương tiện huy động nguồn lực tài chính
cho Nhà nước. Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng
Nhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động
tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời
của thuế.
Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự
tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để
Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 7
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường
chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế
ngày càng được nâng cao. Thông qua thuế một phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nội
được tập trung vào Ngân sách Nhà nước. Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn
nhất trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường.
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế, số
thu từ thuế và phí thường chiếm tới trên 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước.
Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách
quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong quá trình thực hiện chức
năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế đã tự động làm xuất hiện chức
năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế.
* Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế:
Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế tự động xuất hiện trong quá
trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế, nhưng phải
đến những năm đầu của thế kỷ XX thì chức năng này mới được nhận thức đầy đủ và
sử dụng rộng rãi và gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội bằng nhiều biện
pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện
pháp kinh tế làm gốc. Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô
nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó thuế là một công cụ
thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất được Nhà nước sử
dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, mọi tổ chức và cá
nhân đều có quyền kinh doanh bất kỳ ngành nghề, mặt hàng nào mà Nhà nước không
cấm, miễn rằng họ phải có đăng ký kinh doanh và hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy
định của pháp luật. Bằng việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước quy định
đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thuế suất thấp, có
chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế đối với ngành nghề, mặt hàng và địa bàn kinh
doanh cụ thể. Thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và
cầu trên thị trường góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối
trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 8
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu
vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh tế trong
cả nước. Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động vào hoạt động xuất nhập khẩu nhằm
thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế.
Như vậy, thông qua việc thu thuế Nhà nước đã thực hiện điều tiết và kích thích
các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi
ích của xã hội, tức là chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế đã được thực hiện.
3/
Vai trò của thuế trong nền cơ chế thị trường.
Vai trò của thuế là gì? đó là những tác động tích cực do thuế tạo ra giúp nhà
nước điều khiển nền kinh tế xã hội.
Đồng thời với tiến trình phát triển xã hội, nhà nước Thuế ngày càng được sử
dụng để tạo nên những tác động mới. Nếu như ở thời kỳ đầu, thuế chỉ đóng vai trò như
một công cụ tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước, thì đến nay thuế còn được
sử dụng như một công cụ cực kỳ sắc bén để quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế -
xã hội, hay như một công cụ góp phần tạo ra công bằng xã hội (công bằng về thuế).
Lần lượt dưới đây, chúng ta cùng xem xét các vai trò của thuế trong nền kinh tế thị
trường.
a/
Thuế là một khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước ra đời phát sinh và phát triển gắn liền với sự ra đời của nhà
nước. NSNN là quỹ tiền tệ tập trung thuộc sở hữu nhà nước, được hình thành và sử
dụng trong quá trình phân phối và phân phối lại GDP hoặc GNP, nhằm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình điều hành nền kinh tế xã hội.
Về cơ bản, Ngân sách nhà nước được hình thành từ các nguồn:
- Thu từ thuế và các khoản có tính chất thuế
- Thu ngoài thuế
- Thu viện trợ
- Thu tiền vay.
Trong đó, thuế là khoản thu chủ yếu nhất và trở thành nhân tố cơ bản của một
nền tài chính quốc gia lành mạnh.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 9
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
Ở Việt nam, thuế chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước (bình
quân hàng năm khoảng 90% trên cả nước,Bình Thuận chiếm 85% ). So với các nước
phát triển thì tỉ trọng này còn thấp: Mỹ (95%);Pháp (95,3%) ; Nhật (95,4%);Đức (92,7
%) . Qua các số liệu trên, đã khẳng định vai trò hàng đầu của thuế trong tổng thu ngân
sách nhà nước. Để thật sự giữ đúng vai trò là nguồn thu quan trọng nhất vào ngân sách
nhà nước, thuế phải bao quát hầu hết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh: chế biến, sửa
chữa, chế tạo, khai thác, xây dựng, vận tải, buôn bán, ăn uống, dịch vụ ; mọi nguồn
thu nhập: thường xuyên, không thường xuyên; mọi hoạt động tiêu dùng xã hội.
b/
Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế:
Thuế ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế còn có vai
trò quan trọng trong việc điều chỉnh kinh tế. Chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp
đến giá cả, đến quan hệ cung cầu, đến cơ cấu đầu tư và sự phát triển hoặc suy thoái của
nền kinh tế.
Thuế trở thành công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuỳ thuộc vào
thực trạng của nền kinh tế đang hưng thịnh hay suy thoái, cần khuyến khích hay kìm
hãm sản xuất, tiêu dùng mặt hàng nào đó, Nhà Nước sẽ có những chính sách thuế khác
nhau thông qua công cụ thuế suất, chính sách miễn giảm, ưu đãi đầu tư
- Khi nền kinh tế đang khủng hoảng, suy thoái hoặc khó khăn trì trệ, chính sách
thuế có xu hướng giảm, hạ thuế suất, nhằm khuyến khích đầu tư tiêu dùng.
- Ngược lại, khi nền kinh tế hưng thịnh, Chính Phủ sẽ tăng thuế, đặc biệt là thuế
thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân làm tăng thu nhập Chính Phủ, tăng tích lũy
cho ngân sách Nhà Nước, tạo nguồn dự trữ vật chất an toàn đề phòng thiên tai, địch
họa hay nền kinh tế đang bước vào giai đoạn xấu.
Tăng thuế trong giai đoạn hưng thịnh của nền kinh tế còn nhằm điều chỉnh tổng
cầu và tổng cung,duy trì sự phát triển nền kinh tế trong phạm vi có thể kiểm soát được.
c/
Thuế góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân
phối:
Quy luật của nền kinh tế thị trường là tạo ra sự phân hóa giàu nghèo trong xã
hội, ở đó một bộ phận dân cư sẽ giàu lên nhanh chóng và bộ phận dân cư còn lại sẽ
có thu nhập thấp đi. Sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, về
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 10
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
lâu dài sẽ ảnh hưởng không tốt về kinh tế, xã hội và đạo lý trong một quốc gia.Vì vậy,
Nhà Nước cần phải can thiệp thông qua hệ thống chính sách thuế, tác động đến quá
trình phân phối thu nhập và của cải xã hội. Thuế lúc này được xem như là công cụ điều
tiết, chuyển một phần thu nhập của người giàu có sang người nghèo qua con đường
ngân sách và chi tiêu ngân sách nhà nước phục vụ cho phúc lợi công cộng toàn xã hội.
Mặc khác, tính công bằng xã hội và bình đẳng về thuế cũng được thể hiện thông
qua tính đối xử của Nhà Nước đối với các thành phần kinh tế trong nghĩa vụ nộp thuế.
Chính sách động viên thuế phải giống nhau cho tất cả mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi
thành phần kinh tế có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh giống nhau, không
phân biệt Nhà Nước hay tư nhân, cá thể…
d/.
Thuế tác động lên giá cả, tiền lương và thương mại quốc tế:
- Việc tăng thuế của Chính Phủ sẽ làm gia tăng giá cả hàng hóa, khả năng thanh
toán sẽ giảm, lượng cầu ( kéo theo cung hàng hóa ) giảm xuống, thu nhập của các
thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư giảm xuống, thu nhập của Nhà Nước tăng
lên, nghĩa là toàn xã hội phải chuyển một phần nhu cầu chi tiêu của mình sang Nhà
Nước. Khi mức thuế phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh, giá cả hàng hóa phù hợp
với khả năng thanh toán của người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả tích cực, kích thích
sản xuất phát triển, tăng thu ngân sách Nhà Nước.
- Đối với tiền lương: Khi thuế đánh vào lương ( là bộ phận được cấu tạo trong
giá thành sản phẩm, là phần thu nhập cơ bản của người lao động ) thông qua thuế thu
nhập cá nhân, thì không chỉ điều tiết thu nhập của người lao động mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến doanh nghiệp hay người sử dụng lao động, khi đó mức lương cơ bản của
doanh nghiệp phải trả tăng lên nhưng lương thực tế người lao động sẽ giảm xuống.
Trong chừng mực nào đó, Nhà Nước sẽ đạt được mục tiêu điều hòa thu nhập toàn xã
hội, nhưng giá thành sản phẩm và giá bán sẽ tăng lên, người tiêu dùng cũng phải gánh
chịu một phần do sự gia tăng giá cả.
- Thuế tác động rất lớn đến thương mại quốc tế thông qua hàng rào thuế quan,
bao gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Khi cần khuyến khích mở rộng xuất khẩu đối
với mặt hàng nào đó, Nhà Nước áp dụng miễn thuế xuất khẩu hoặc thuế suất rất thấp.
Khi cần bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu mặt hàng nào đó, Nhà Nước
có thể tăng thuế suất nhập khẩu lên rất cao.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 11
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
Tóm lại, có thể nói thuế tác động lên toàn bộ hoạt động của nền kinh tế thông
qua chính sách thuế của Nhà Nước. Khi mà mức điều tiết thuế vừa phải, hợp lý sẽ đạt
mục tiêu: thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và
vững chắc. Ngược lại, mức thuế quá cao, sẽ kìm hãm đầu tư mở rộng sản xuất, giảm
tăng trưởng kinh tế.
II./
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ "TỰ KHAI - TỰ NỘP"
THUẾ .
1/ “
Cơ chế tư khai tự nộp ” :
1.1/ “
Cơ chế tự khai tự nộp ” là gì?
“ Tự kê khai, tự nộp thuế ” là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự
giác thực hiện các nghĩa vụ thuế; người nộp thuế căn cứ các qui định tại các luật thuế
để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế
đúng hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người
nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách nhiệm
tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa
vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và
thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những
hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế.
Như vậy, trong hệ thống TK-TN trách nhiệm pháp lý về việc kê khai và tính
thuế đã được chuyển sang ĐTNT. Do vậy, phương thức quản lý này đã giảm bớt các
yêu cầu về nhân lực của cơ quan thuế,giải phóng cơ quan thuế khỏi công việc kiểm tra
tờ khai và ra thông báo thuế, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết
những đối tượng nộp thuế không tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế. Việc áp dụng mở rộng
hệ thống tự tính - tự khai - tự nộp thuế sẽ giúp ngành thuế nâng cao tính hiệu quả của
công tác quản lý thuế.
Tự khai, tự nộp là một hệ thống quản lý thu thuế hiện đại đã được áp dụng ở
nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước khu vực Đông Nam Á. Chính phủ Việt
Nam đã quyết định sẽ áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp vào việc quản lý thu thuế ở Việt
Nam, bước đầu triển khai trên cơ sở thí điểm.

NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 12
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
1.2/ Điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thành công.
Để thực hiện được tốt cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đòi hỏi phải có đầy đủ và
đồng bộ nhiều yếu tố như :
a/
Về phía đối tượng nộp thuế: Có 4 điều kiện để đối tượng nộp thuế tự tính
và nộp nghĩa vụ thuế của mình, đó là:
-
Thứ nhất: Đối tượng nộp thuế phải hiểu nghĩa vụ thuế của mình.
Đối tượng nộp thuế phải nhận được các thông tin rõ ràng, chính xác mô tả về
nghĩa vụ thuế, bao gồm căn cứ tính thuế, thuế suất, thời hạn kê khai nộp thuế, các yêu
cầu về chứng từ nộp kèm theo tờ khai Đối tượng nộp thuế phải luôn được thông báo
và cập nhật những thay đổi trong chính sách thuế và cần được tạo điều kiện dễ dàng
tiếp cận với các cán bộ thuế để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc.
-
Thứ hai: Quy trình cần đơn giản.
Các mẫu và thủ tục càng đơn giản càng tốt để đối tượng nộp thuế có thể tự
mình điền vào các mẫu hay hoàn thành các thủ tục qui định. Các mẫu tờ khai cùng với
các hướng dẫn rõ ràng cách điền vào tờ khai cần được cung cấp miễn phí và sẵn có ở
các địa điểm thuận tiện. Hơn nữa, cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp
thuế nộp tờ khai thuế và nộp thuế dễ dàng.
-
Thứ ba: Hệ thống xử phạt nghiêm khắc và công bằng đang được áp dụng.
Các hình thức xử phạt đối với các trường hợp không tuân thủ các yêu cầu về
thuế cần đủ nghiêm khắc để ngăn chặn việc không tuân thủ. Cùng với hệ thống xử
phạt nghiêm khắc là việc xây dựng một quy trình khiếu nại nhằm bảo vệ quyền của đối
tượng nộp thuế. Đối tượng nộp thuế phải nhận thức được về các hình thức xử phạt, tin
rằng các hình thức xử phạt này đang được áp dụng và hiểu về quyền khiếu nại của
mình.
-
Thứ tư : Đối tượng nộp thuế cần phải tin tưởng rằng các chương trình
thanh tra thuế hiệu quả đang tồn tại.
Chỉ đưa ra các hình thức xử phạt đối với các trường hợp không tuân thủ và gian
lận về thuế thì chưa đủ. Đối tượng nộp thuế phải nhận thức được rằng các trường hợp
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 13
Luận án tốt nghiệp GVHD: Ung Thị Minh Lệ
không tuân thủ và gian lận về thuế sẽ bị phát hiện và khi đó họ sẽ phải chịu các hình
thức xử phạt.
b/
Về phía cơ quan thuế : cần có 5 điều kiện để thực hiện thành công cơ chế tự
khai - tự nộp, đó là:
-
Thứ nhất : Xây dựng hệ thống chính sách thuế, tờ khai đơn giản, rõ ràng;
thu hẹp dần các trường hợp miễn giảm thuế.
Để có thể thực hiện tự khai - tự nộp, giúp cho đối tượng nộp thuế hiểu nghĩa vụ
thuế của mình để tự kê khai, nộp thuế theo đúng qui định, cơ quan thuế cần đảm bảo
một hệ thống chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, ổn định và thống nhất.
-
Thứ hai: Sắp xếp lại bộ máy tổ chức và quy trình hành thu hợp lý.
Trong một hệ thống quản lý thuế hiện đại thực hiện theo cơ chế tự khai-tự nộp
thuế, cơ quan thuế chuyển từ việc tập trung nguồn lực vào việc tính thuế, phát hành
thông báo thuế và thu thuế sang cung cấp dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế và thanh
tra thuế. Hệ thống mới đòi hỏi bộ máy quản lý thuế phải được tổ chức theo chức năng,
với các chức năng chủ yếu của cơ quan thuế gồm:
+ Kế toán thu: chịu trách nhiệm xử lý tờ khai thuế và các yêu cầu hoàn thuế,
ghi chép các khoản nộp thuế, duy trì đăng ký đối tượng nộp thuế và các tài khoản thuế
cá nhân đối với mỗi đối tượng nộp thuế, ghi chép các phần tính thuế, các khoản phạt
và lãi, và theo dõi bước đầu đối với các khoản nộp chậm và các đối tượng ngừng nộp
tờ khai.
+ Thu các khoản nợ thuế và cưỡng chế: chịu trách nhiệm thu các khoản thuế
chưa nộp và theo dõi các đối tượng ngừng nộp tờ khai, bao gồm việc áp dụng các
khoản phạt và các chế tài pháp lý khác.
+ Thanh tra: chịu trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của việc kê
khai nghĩa vụ thuế và quyền được hoàn thuế của các đối tượng nộp thuế.
+ Xử lý khiếu nại của đối tượng nộp thuế: giải quyết các khiếu nại của đối
tượng nộp thuế.
NTH: Nguyễn Văn Tuấn Trang: 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét