ty
CHƯƠNG III:
CẤC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
43
I. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO
43
1. Một số giải pháp về cơ cấu NNL. 43
2. Một số giải pháp về đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ
NNL:
44
II. MỘT SỐ ĐỀ SUẤT TRONG VIỆC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT
TRIỂN NNL
46
1. Một số kiến nghị với nhà nước 46
2. Một số kiến nghị đối với Công ty và tập đoàn 49
KẾT LUẬN
52
5
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và thực hiện CNH-HĐH ở Việt
Nam là bước chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lý
kinh tế. Yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH cũng đã đặt ra nhiệm vụ to lớn đối
với công tác nguồn nhân lực, trong đó có công tác đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực, khi nói tới vấn đề nguồn nhân lực đã có nhiều ý kiến thống nhất
rằng con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng phục vụ của mọi hoạt động
kinh tế xã hội và cũng là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội.
Thực tế cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh trong
thời kỳ gần đây là những quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng
giàu về tiềm năng “chất xám”, các nước thành công trong việc đầu tư và khai
thác nguồn tài nguyên quý giá đó phải kể đến đó là Hàn quốc, Nhật bản
Những công trình nghiên cứu mới nhất đã đi tới kết luận, con người là
nguồn vốn lớn nhất, quý nhất của xã hội.
Một nhà kinh tế học phương tây đã có nhận định: tài sản lớn nhất của
công ty hiện nay, không phải là các lâu đài công xưởng mà chính là những cái
nằm trong vỏ não của các nhân viên.
Như vậy, rõ ràng con người đặc biệt là tri thức của họ đã trở thành nguồn
lực quan trọng nhất của sự nghiệp phát triển.
Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, thực hiện CNH-HĐH và
mở cửa nền kinh tế thì điều kiện tiên quyết là phải có đội ngũ nguồn nhân lực có
trình độ cao, có bản lĩnh vững vàng trước những thời cơ, thách thức trong quá
trình phát triển.
Qua các kỳ đại hội, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chiến lược của công tác
nguồn nhân lực nhằm xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực có bản lĩnh chính trị, có
trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận của công đào tạo
nguồn nhân lực, đảm bảo thành công của sự nghiệp đổi mới.
6
Từ nhận thức trên và qua thực tế công tác tại Công ty đóng tàu Hạ Long
em nhận thấy rằng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói chung và
ở Công ty đóng tàu Hạ Long nói riêng là rất thiết thực và là điều kiện tiên
quyết để bắt kịp với nền kinh tế đang hội nhập trong giai đoạn hiện nay.
Do đó, trong chuyên đề thực tập này em xin mạnh dạn đề cập đến vấn đề
“Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ở Công ty đóng tàu Hạ Long”
nhằm mục đích nhìn nhận vào thực trạng của công tác đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp nói chung và cụ thể là ở Công ty đóng tàu
Hạ Long để từ đó đúc kết và đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nói chung và ở
Công ty đóng tàu Hạ Long nói riêng.
Vì khả năng và trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế nên chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của em không thể không có thiếu sót. Em rất mong nhận được
sự tư vấn, đóng góp ý kiến và hướng đẫn của các thầy cô để chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
7
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
I. CÁC KHÁI NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC:
1.Khái niệm nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy
định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Theo quan điểm kinh tế thì
nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt về số lượng và chất lượng.
Về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động và thời
gian làm việc có thể huy động của họ. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao
động của mỗi nước bao gồm cả độ tuổi hết tuổi lao động là rất khác nhau tuỳ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước ở từng giai đoạn cụ thể.
Ở Việt nam trước đây độ tuổi lao động được quy định từ 16 đến 60 tuổi
đối với nam và 16 đến 55 tuổi đối với nữ. Hiện nay độ tuổi lao động được quy
định lại là 15 đến 55 tuổi đối với nam và 15 đến 50 tuổi đối với nữ.
Về chất lượng nguồn nhân lực đó là phản ánh trình độ kỹ thuật, chuyên
môn nghiệp vụ và sức khoẻ của người lao động.
Đứng trên quan điểm của các nhà kinh tế lao động thì họ định nghĩa
NNL là nguồn lực về con người và nó được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh
khác nhau. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã
hội bao gồm toàn bộ các dân cư có cơ thể phát triển bình thường không bị
khuyết tật hoặc dị tật bẩm sinh.
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội
là khả năng lao động của xã hôi được hiểu theo nghĩa hẹp hơn bao gồm nhóm
dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, theo cách hiểu này NNL
tương đương với nguồn lao động.
Theo một số quan điểm khác thì NNL còn có thể hiểu là tổng hợp những
cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể
các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
8
Nhận xét: Chúng ta đều thấy rằng dù đứng trên bất kỳ quan điểm nào,
cách xác định quy mô nguồn nhân lực như thế nào đi chăng nữa thì tất cả
những cách tiếp cận đó đều thống nhất ở một điểm là nói đên NNL là nói đên
khả năng lao động của con người đối với xã hội.
Mục đích của việc tìm hiểu nguồn nhân lực cho phép chúng ta nghiên
cứu được mối quan hệ giữa chúng và các phạm trù khác một cách chặt chẽ
hơn.
2. Các khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể
đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó trong các tổ chức,
công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải được thực hiện một
cách có tổ chức và có kế hoạch.
Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt
động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn
chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học tập làm cho người lao
động lắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để
nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao
động có hiệu quả hơn.
Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc
trươc mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa
trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.
Hoạch định (hay còn được gọi là công tác giáo dục): được hiểu là các
hoạt động giáo dục, định hướng để định hướng cho con người nhận thức được
một nghề nghiệp hoặc lựa chọn một nghề nghiệp thích hợp trong tương lai.
3. Một số quan điểm cơ bản về công tác đào tạo và phát triển đội ngũ
NNL trong những năm đổi mới:
Vấn đề xây dựng đội ngũ NNL trong những năm tới là vấn đề hết sức
phức tạp và khó khăn. Từ trước đến nay đã có nhiều quan điểm được đưa ra
nhằm mục đích xây dựng đội ngũ NNL trong những năm đổi mới được hữu
hiệu trong đó những quan điểm sau đây được coi là hiệu quả hơn cả:
9
- Phải luôn nắm vững quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa
Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác quy hoạch, đào tạo và
phát triên NNL.
- Cần chăm lo đến tính đồng bộ của đội ngũ NNL, phải hết sức coi trọng
và tập trung xây dựng tốt đội ngũ NNL có trình độ và kỹ năng lao động.
- Cần có quan điểm, phương pháp đánh giá, sử dụng NNL một cách
khoa học và khách quan, công tâm.
- Đánh giá đúng trình độ đội ngũ NNL trong các tổ chức và bố trí sử
dụng đúng NNL là vấn đề khó khăn phức tạp và quan trọng nhất. Khi đánh
giá phải có quan điểm đúng và phải theo tiêu chuẩn quy định, căn cứ vào kết
quả và hiệu quả hoạt động của NNL, xét đến một cách đầy đủ, hoàn cảnh và
điều kiện hoạt động lao động sản xuất kinh doanh của đội ngũ NNL.
- Cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ bằng việc thể chế hoá
thành các quy chế, quy định, quy trình và chỉ đạo thực hiện một cách chặt chẽ
việc xây dựng, quy hoạch, đào tạo và phát triển NNL.
- Trong công tác hoạch định, đào tạo và phát triển NNL phải kết hợp
chặt chẽ giữa trước mắt và lâu dài, kế thừa và phát triển nhằm đảm bảo kế tục
sự nghiệp cách mạng của Đảng một cách vững vàng.
4. Yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo và phát triển đội ngũ NNL trong
thời kỳ hội hập:
Nền kinh tế nước ta đang bước sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH thực hiện mục tiêu chiến lược đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp vào năm 2020.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, công tác hoạch định, đào tạo và phát
triển đội ngũ NNL chuyên nghiệp trong đó có đội ngũ NNL có trình độ kỹ thuật
có đủ phẩm chất và năng lực, nắm bắt được khoa học công nghệ hiện đại và vận
dụng thích ứng vào điều kiện cụ thể ở mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức là một
trong những khâu có ý nghĩa quyết định.
ở nước ta hiện nay, công tác hoạch định, đào tạo và phát triển NNL đang
đứng trước những mâu thuẫn gay gắt:
10
Thứ nhất: Yêu cầu từng quy mô với việc bảo đảm chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Thứ hai: đào tạo NNL có chất lượng cao với sự hạn hẹp về tài chính và đội
ngũ giáo viên có trình độ cao.
Thứ ba: sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu ngành giáo dục và thị hiếu tập
trung vào một số ít ngành nghề của người học.
Chính từ thực tế như vậy cho nên trong những năm gần đây, nhu cầu đào
tạo NNL có trình độ ở nước ta tăng lên rất nhanh, nhiều trường đại học và cao
đẳng kinh tế đã mở rộng quy mô đào tạo.
Sự tăng nhanh về quy mô đào tạo ở các trường kỹ thuật đã góp phần từng
bước khắc phục sự thiếu hụt về số lượng đội ngũ NNL có trình độ kỹ thuật và kỹ
năng lao động. tuy nhiên điều này lại đang làm xuất hiện mâu thuẫn trong việc
bảo đảm chất lượng đào tạo do hạn chế về tài chính và năng lực nội sinh của các
cơ quan đào tạo và trưởng thành từ trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo mô
hình kế hoạch hoá tập trung.
Trong quá trình đổi mới, một bộ phận khá lớn NNL đã được đào tạo và đào
tạo lại, bồi dưỡng kiến thức về kỹ năng lao động. Tuy nhiên trước yêu cầu tiếp
tục đổi mới và hội nhập trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ NNL xét về số lượng,
chất lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với thời kỳ hội nhập kinh tế.
5. Tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lực.
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi mà nền sản xuất xã hội loài người mới
hình thành thì con người là trung tâm của mọi quá trình sản xuất, đó là một
điều hiển nhiên ngay cả khi cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất bùng nổ,
máy móc đã được đưa vào sản xuất nhưng vai trò của con người vẫn được
khẳng định một cách chắc chắn. Rồi tiếp đó là cuộc cách mạng thứ hai, thứ ba
nổ ra, khoa học kỹ thuật đã phát triển một cách nhanh tróng, máy móc công
nghệ đã thay thế con người trong nhiều công đoạn từ đơn gian đến phức tạp,
sản lượng đầu ra đã không ngừng được tăng lên, năng suất lao động xã hội
được cải thiện một cách không ngờ vv Nói tóm lại, thành tựu mà kho học
công nghệ là vô cùng to lớn, Từ đây xuất hiện, nảy sinh quan điểm cho rằng
lực lượng sản xuất mạnh mẽ, tổ chức sản xuất sẽ nhanh chóng được hoàn
thiện. Và theo quan điểm của các nhà kinh tế học thành viên hiệp hội công
11
nghiêp Hoa Kỳ đã nhận định rằng: “Chìa khoá của sự thành công là sự tự
động hoá trong sản xuất”. Với thời kỳ này, ở các nước phát triển đặc biệt là
Hoa Kỳ, triết lý kinh doanh coi công nghệ là trung tậm, ý niệm trông cậy vào
công nghệ đã được truyền bá rộng rãi. Trong khi đó nhân công được coi là
một yếu tố làm hao phí sản xuất.
Trên thực tế ở nhiều nước công nghiệp, điều này được thể hiện vẫn
thông qua việc định hướng và đổi mới trang thiết bị và sản phẩm mà vẫn giữ
nguyên cách tổ chức lao động truyền thống.
Một thời gian sau, những người ủng hộ quan điểm này đã thất bại cay
đắng, biểu hiện cụ thể là những tổ hợp sản xuất được tự động hoá ở trình độ
cao đã tỏ ra kém hiệu quả so với các xí nghiệp chỉ đơn thuần cơ giới hoá. Các
công xưởng của tương lai này đã rơi vào tình trạng giảm năng suất lao động,
lãng phí nhân lực.
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, khi mà cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật bước sang một giai đoạn mới đã có những thay đổi liên tục trong sản
xuất liên quan tới việc áp dụng kỹ thuật tin học, các công nghệ thông tin và
các phần mềm tự động hoá. Những thay đổi đó đã làm nảy sinh mâu thuẫn
giữa một bên là thực hiện sản xuất một bên là cách phân công lao động hiện
đại, làm nảy sinh trực tiếp vấn đề phải xem xét lại toàn bộ hệ thống đào tạo
nhân công sẽ thay đổi của các thang giá trị về con người cũng buộc phải hình
thành một cơ chế lao động mới. Và mối quan hệ chặt chẽ giữa các khía cạnh
công nghệ, xã hội và kinh tế của sản xuất đã được thừa nhận, từ đó trong triết
lý kinh doanh đã có bước ngoặt từ quan điểm coi công nghệ làm trung tâm
sức mạnh sang coi con người làm trung tâm, ưu tiên con người ở khía cạnh tri
thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng lao động.
Một lần nữa con người lại được đặt vào đúng vị trí của nó trong quá
trình sản xuất. Với quan điểm như vậy, hiện nay các nước phát triển đã thay
đổi cách tổ chức lao động, xây dựng mô hình sử dụng NNL tri thức làm mũi
nhọn trong chiến lược cạnh trạnh của mình.
Xét về bối cảnh ở nước ta là một nước công nông nghiệp đang phát
triển, trình độ công nghệ còn hạn chế, do đó với nền sản suất của nước ta từ
12
trước đến nay con người vẫn đang phải sử dụng công nghệ ở mức trung bình.
Do đó, vai trò của nguồn nhân lực vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong
công cuộc đổi mới và phát triển của các doanh nghiệp.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC.
1. Đặc điểm về đào tạo nguồn nhân lực nói chung.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2010 của Đảng đã khẳng
định: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết
định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH, cần tạo chuyển biến
cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo. Đào tạo lớp người lao động có kiến
thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy
cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội
ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khọc, nhà văn hoá, nhà kinh
doanh, nhà quản lý”. Các chính sách của Đảng và nhà nước ta coi giáo dục và
đào tạo là quốc sách, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền
vững xã hội. Đào tạo đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng
xã hội , là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh.
Trong nền kinh tế không ngừng phát triển, việc phân bố lại cơ cấu nhân
lực dưới tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ là đòi hỏi khách quan
cho sự phát triển đào tạo cả về số lượng và chất lượng. Những đòi hỏi khách
quan ấy quyết định xu thế, đường lối, chính sách phát triển nghề nghiệp; mục
tiêu, nội dung và phương phát đào tạo.
Như vây có thể khẳng định rằng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là
quá trình thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực con người trí thức, phát triển các
kỹ năng và các phẩm chất lao động mới, thúc đẩy sáng tạo thành tựu khoa học
– công nghệ mới, đảm bảo cho sự vận động tích cực các ngành nghề, lĩnh vực
và toàn bộ xã hội. Quá trình đào tạo làm biến đổi nguồn nhân lực cả về số
lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con
người; phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển
cả về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng
cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình
13
độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn, đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu câu nhân lực cho CNH, HĐH đất nước.
2. Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong qua trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước.
Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH được thể
hiện qua các đặc điểm chủ yếu sau:
- Thứ nhất: Đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đào tạo nguồn nhân lực hướng tới phát triển con người cả về trí
tuệ, tình cảm, tinh thần và thể chất; hình thành nhân cách, đạo đức, nhạy bén
với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, có tác phong công nghiệp, có thể lực
cường tráng, lao động bên fbỉ, dẻo dai, làm việc có năng suất, hiệu quả, đời
sống văn hoá phong phú, hướng tới nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài để tạo ra nhiều của cải vật chất và tình thần cho xã hội.
- Thứ hai: Đào tạo nguồn nhân lực là bộ phận cấu thành cực kỳ quan trọng
của phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế xã hội,
đáp ứng quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước. Đào tạo nguồn
nhân lực thường xuyên có vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu cập nhật tri
thức khoa học – công nghệ hiện đại cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của
thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của các khu vực, ngành, lĩnh vực của
nền kinh tế.
- Thứ ba: Việc đào tạo nguồn nhân lực có vai trò cực kỳ quan trọng trong
chuẩn bị nhân lực cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực như:
+ Đào tạo nhân lực cho ngành công nghệ cao và ngành kinh tế mũi nhọn.
+ Đào tạo nhân lực cho các khu công nghệ cao, khu công nghiệp tập trung,
khu chế xuất, khu kinh tế mở vv…
+ Đào tạo nhân lực cho các ngành dịch vụ chất lượng cao như giáo dục, đào
tạo, tài chính, ngân hàng, y tế, bảo hiểm kiểm toán vv…
+ Đào tạo nhân lực cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Đào tạo nhân lực cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho xuất khẩu lao động.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét