Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
thể giúp được một phần rất nhỏ trong công việc của công ty TNHH Gia Anh nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh của quý công ty.
Em rất mong nhận được sự quan tâm bổ sung, nhận xét của các thầy cô giáo,
của cán bộ công nhân viên công ty TNHH Gia Anh cũng như của các bạn sinh viên
có cùng chung hướng suy nghĩ để có thể hoàn thiện đồ án của mình hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tâm của cô giáo,
PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuận, các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội và công ty TNHH Gia Anh đã giúp em hoàn thành đồ án tốt
nghiệp này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2005
Sinh viên thực hiện
Ngô Quang Trường
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
5
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá mọi hoạt động kinh tế xã hội. Hiệu
quả là phạm trù có vai trò đặc biệt và có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế cũng
như trong khoa học kinh tế. Hiệu quả là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp để lựa chọn
các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất thực tiễn của
con người ở mọi lĩnh vực và tại các thời điểm khác nhau. Chỉ tiêu hiệu quả là tỷ lệ
giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của hoạt động đề ra so với chi phí đã bỏ vào để
có kết quả về số lượng, chất lượng và thời gian.
Công thức đánh giá hiệu quả chung:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả sản xuất kinh doanh = (I.1)
Yếu tố đầu vào
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng
doanh thu, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp… còn các yếu tố đầu vào bao gồm tư liệu lao
động, đối tượng lao động, con người, vốn chủ sở hữu, vốn vay… Công thức này
phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêu đầu vào được tính cho tổng
số và cho phần riêng gia tăng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh lại có thể được tính bằng cách so sánh nghịch
đảo:
Yếu tố đầu vào
Hiệu quả sản xuất kinh doanh = (I.2)
Kết quả đầu ra
Công thức trên phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có
được một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu đơn vị chi phí (vốn) ở đầu
vào.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là nơi kết hợp
các yếu tố cần thiết để sản xuất và bán các sản phẩm dịch vụ tạo ra với mục đích thu
lợi nhuận. Hoạt động của doanh nghiệp thể hiện hai chức năng cơ bản là thương mại
và cung ứng sản xuất được gọi chung là sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là
tối đa hoá lợi nhuận. Vấn đề xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh lại được đề cập
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
6
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
nhiều ở việc xác định các loại mức sinh lợi trong phân tích tài chính. Mức sinh lợi là
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp về hoạt động của doanh nghiệp. Nó được xác
định bằng chỉ tiêu tương đối khi so sánh giá trị kết quả thu được với giá trị của các
nguồn lực đã tiêu hao để tạo ra kết quả. Hiệu quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp
được đề cập đến trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hiệu quả tài chính được thể
hiện qua các chỉ tiêu mức sinh lợi luôn được xem là thước đo chính.
Từ những khái niệm ở trên, có thể hiểu hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy
móc, nguyên nhiên liệu và nguồn vốn) để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề
ra.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là chênh lệch giữa kết quả mang lại và
những chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả là một thước đo ngày càng quan
trọng để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như
của toàn bộ nền kinh tế của từng khu vực, quốc gia nói chung. Hiệu quả sản xuất kinh
doanh càng cao, càng có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất đầu tư tài sản cố
định, nâng cao mức sống của công nhân viên, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phải được xem xét một
cách toàn diện cả về không gian và thời gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, là động lực thúc đẩy, kích thích
người lao động làm việc với hiệu suất cao hơn, góp phần từng bước cải thiện nền
kinh tế quốc dân.
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Thông thường để đánh giá tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp người ta thường hay quan tâm tới các số liệu ở các báo cáo tài chính.
Tuy nhiên để có thể đưa ra được một cách nhìn khái quát phù hợp về mọi hoạt động
của doanh nghiệp, các nhà quản trị kinh tế không chỉ quan tâm tới các số liệu trong
báo cáo tài chính đơn thuần mà còn quan tâm tới một lượng khá lớn các chỉ số tài
chính để giải thích cho các mối quan hệ tài chính.
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
7
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
1.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao trùm mọi chỉ tiêu
khác. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, xuất hao phí cũng như sức
sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu
quả:
Kết quả đầu ra K
Hiệu quả sản xuất kinh doanh = (I.3)
Giá trị đầu vào C
Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, doanh
thu, lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách…còn chi phí đầu vào bao gồm tư liệu lao
động, lao động, đối tượng lao động, vốn cố định, vốn lưu động…
Hiệu quả sản xuất kinh doanh còn được tính theo công thức sau:
Giá trị đầu vào C
Hiệu quả sản xuất kinh doanh = (I.4)
Kết quả đầu ra K
Công thức I.3 phản ánh sức sản xuất của các chỉ tiêu đầu vào.
Công thức I.4 phản ánh hao phí của chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn
vị kết quả đầu ra thì hao phí bao nhiêu đơn vị chi phí.
1.2.2 Các chỉ tiêu hiệu quả của các yếu tố thành phần
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động (H
LĐ
)
Nhóm chỉ tiêu này gồm hiệu suất sử dụng lao động và tỷ suất lợi nhuận lao
động.
*Hiệu suất sử dụng lao động (H
N
) được tính bằng công thức (I.5). Chỉ tiêu này
phản ánh một lao động trong kỳ tạo ta được bao nhiêu đồng doanh thu. Về thực chất
đây chính là chỉ tiêu năng suất lao động (W).
Tổng doanh thu trong kỳ
H
n
= = W (I.5)
Tổng số lao động trong kỳ
*Tỷ suất lợi nhuận lao động R
N
được tính bằng công thức (I.6):
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
8
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
Lợi nhuận trong kỳ
R
N
= (I.6)
Tổng số lao động trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận lao động phản ánh một lao động trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
Hai chỉ tiêu có mối quan hệ với nhau theo công thức dưới đây:
L L D
T
R
N
= = x = R
dt
x H
N
N D
T
N
Trong đó: L lợi nhuận trong kỳ.
D
T
tổng doanh thu trong kỳ.
N tổng số lao động trong kỳ.
R
dt
= L / D
t
là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (doanh lợi) biểu thị
một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
*Hiệu suất sử dụng vốn (H
v
) là tỷ số giữa doanh thu trong kỳ (D
T
) và tổng số
vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong kỳ:
Tổng doanh thu trong kỳ
H
v
=
Tổng vốn sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra để sản xuất kinh doanh sẽ đem
lại bao nhiêu đồng doanh thu, nghĩa là biểu thị khả năng tạo ra kết quả sản xuất kinh
doanh của một đồng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn.
Vốn sản xuất kinh doanh gồm có vốn cố định (V
cđ
) và vốn lưu động (V
lđ
) nên
ta có thêm các chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu trong kỳ Tổng doanh thu trong kỳ
H
VCĐ
= ; H
VLĐ
=
Tổng vốn cố định trong kỳ Tổng vốn lưu động trong kỳ
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
9
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
Khi phân tích, đánh giá hiệu suất sử dụng vốn lưu động trong quá trình sản
xuất kinh doanh thì việc phân tích, đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động cũng
rất quan trọng. Vốn lưu động vận động không ngừng và thường xuyên qua các giai
đoạn của quá trình tái sản xuất (dự trữ - sản xuất – tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Để đánh giá tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta thường dùng các
chỉ tiêu sau:
+Số vòng quay của vốn lưu động:
Tổng số doanh thu thuần
V
lđ
=
Vốn lưu động bình quân
Trong đó: V
lđ
là số vòng quay vốn lưu động, cho biết vốn lưu động quay được
(luân chuyển) mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay nhiều chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn cao và ngược lại. Chỉ tiêu này còn được gọi theo một tên gọi khác là “Hệ
số luân chuyển”.
+Thời gian của một vòng luân chuyển (T
LC
):
Thời gian của kỳ phân tích
T
LC
=
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng.
Thời gian của một vòng quay vốn lưu động càng ngắn thì thể hiện tốc độ luân chuyển
càng lớn, đồng nghĩa với hiệu quả cao.
Ngoài ra khi đánh giá hay phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta
còn dùng chỉ tiêu “Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động” (H
đn
):
Vốn lưu động bình quân
H
đn
=
Tổng số doanh thu thuần
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
10
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
Chỉ tiêu này cho ta biết được rằng để có được một đồng doanh thu doanh
nghiệp cần có bao nhiêu đồng vốn lưu động luân chuyển. Hệ số này càng nhỏ chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều.
*Tỷ suất lợi nhuận vốn (R
v
):
Tổng lợi nhuận trong kỳ
R
v
=
Tổng vốn trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn kinh doanh trong kỳ sinh ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Trong nhóm này ta có quan hệ:
L L D
T
R
v
= = x = R
dt
x H
v
V D
T
V
1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí
Hiệu quả sử dụng chi phí (H
C
):
Tổng doanh thu trong kỳ Tổng Lợi nhuận trong kỳ
H
C
= ; R
C
=
Tổng chi phí trong kỳ Tổng chi phí trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra trong kỳ thu
được bao nhiêu đồng doanh thu-lợi nhuận.
Trong nhóm này ta có mối quan hệ:
L L D
T
R
v
= = x = R
dt
x H
C
C D
T
C
Như vậy, tỷ suất lợi nhuận chi phí bằng tích số của tỷ số lợi nhuận doanh thu
và hiệu suất sử dụng chi phí.
Sơ đồ dưới đây cho ta thấy để phản ánh hiệu quả của một chi phí nào đó (lao
động, vốn hoặc giá thành) có hai chỉ tiêu hiệu quả tương ứng đó là chỉ tiêu về lợi
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
11
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
nhuận và chỉ tiêu về năng suất. Từ hệ thống các chỉ tiêu ta có thể nhận thấy chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Ta hãy xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu này:
Sơ đồ I.1: Sơ đồ biểu diễn các chỉ tiêu hiệu quả của doanh nghiệp:
Kết quả
Lợi nhuận Doanh thu
L R
n
H
n
Chi phí V R
v
H
v
Z R
z
(R
c
) H
z
(H
c
)
a) Mối quan hệ giữa hiệu quả lao động và hiệu quả vốn
Mối quan hệ giữa hai nhóm chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ nhất định giữa
lao động sống và lao động vật hoá. Lao động sống trong quá trình phát triển sản xuất
cùng với sự ứng dụng của tiến bộ khoa học công nghệ dần được thay thế bằng lao
động vật hoá. Cùng với quá trình này, toàn bộ chi phí sản xuất cho một đơn vị sản
phẩm ngày càng giảm. Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất
lao động và thể hiện rõ nhất trong việc nâng cao chỉ tiêu trang bị vốn cho lao động.
Như vậy, muốn giảm chi phí về lao động, kể cả lao động sống và lao động vật
hoá cho một đơn vị sản phẩm cần phải thực hiện được một khối lượng sản xuất lớn
bằng số vốn và tài sản vật chất được trang bị, tức là phải nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Từ đó suy ra các chỉ tiêu hiệu quả của lao động và các chỉ tiêu hiệu quả vốn có
mối quan hệ mật thiết:
LN LN V
R
v
= = x = R
n
x V
L
L V L
Vậy H
L
= H
V
x V
L
Ta thấy rằng ở đây trang bị vốn cho lao động V
L
và năng suất vốn là nguyên
nhân tổng hợp chủ yếu của năng suất lao động. Lợi nhuận vốn R
V
là nguồn gốc của
lợi nhuận lao động R
n
.
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
12
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
Ngoài ra, chỉ tiêu trang bị vốn cho lao động là chỉ tiêu liên kết giữa hiệu quả
lao động và hiệu quả vốn.
Việc khảo sát mối quan hệ giữa hai loại chỉ tiêu hiệu quả lao động và hiệu quả
vốn như trên là một căn cứ để đánh giá sự tăng trưởng của hiệu quả, giúp cho các nhà
quản lý có thể đưa ra các quyết định trong điều hành sản xuất kinh doanh.
b) Quan hệ giữa hiệu quả vốn và hiệu quả giá thành
Chỉ tiêu hiệu quả vốn và hiệu quả chi phí khác nhau ở chỗ là với hiệu quả vốn
đó là mức vốn, còn đối với hiệu quả chi phí đó là tiêu hao về lao động vật hoá và lao
động sống. Quan hệ giữa vốn và chi phí thường xuyên trong giá thành được thể hiện
đặc trưng qua tốc độ chuyển vốn:
Z
T
CV
=
V
Nâng cao chỉ tiêu này là một nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả bởi nó
có nội dung kinh tế là sự giảm sử dụng vốn đối với một đơn vị sản phẩm. Tốc độ chu
chuyển vốn cố định lưu động có khác nhau. Tốc độ chu chuyển vốn lưu động cho
phép tiết kiệm vốn và có thể sử dụng vốn đó cho việc đầu tư tài sản cố định. Còn tốc
độ chu chuyển vốn cố định có thể tác động làm giảm nhu cầu vốn đầu tư và trong
điều kiện tăng khối lượng sản xuất sẽ góp phần hạ chi phí cho một đơn vị sản phẩm.
Có thể nói rằng, hiệu quả vốn càng lớn khi vốn được sử dụng càng nhanh và
kết quả sản xuất càng lớn so với tiêu hao về lao động vật hoá và lao động sống trong
giá thành sản phẩm. Từ công thức
LN LN Z
R
v
= = x = R
Z
x T
CV
V Z V
Tương tự ta có H
V
= H
Z
x T
CV
Chỉ tiêu tốc độ chu chuyển vốn có vai trò liên kết giữa các chỉ tiêu hiệu quả
vốn và hiệu quả giá thành.
Như vậy, giữa các nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng lao
động và hiệu quả sử dụng chi phí trong doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Mỗi chỉ tiêu hiệu quả trong nhóm này có thể được xem xét trong tác động qua
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
13
Phân tích và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Gia Anh
lại với nhiều chỉ tiêu hiệu quả khác. Tổng hợp các mối quan hệ đó cho ta sơ đồ I.2
dưới đây:
Sơ đồ I.2: Sơ đồ liên kết giữa các chỉ tiêu hiệu quả
R
n
R
dt
H
n
Hiệu quả lao động
| |
V
L
V
L
| |
R
V
R
dt
H
V
Hiệu quả vốn
| |
T
CV
T
CV
| |
R
Z
R
dt
H
Z
Hiệu quả chi phí
Lợi nhuận Năng suất
1.2.3 Thế nào là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Muốn biết doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả phải tiến hành so
sánh các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp giữa Thực tế và kế hoạch; giữa Năm sau với năm
trước; giữa doanh nghiệp với bình quân ngành; giữa doanh nghiệp với nền kinh tế
chung.
*So sánh giữa thực tế và kế hoạch: Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh có hiệu quả sẽ có các kết quả đạt được trong thực tế cao hơn so với kế hoạch.
Các con số, chỉ tiêu doanh nghiệp đề ra trên kế hoạch là những căn cứ rất quan trọng
để đánh giá tình hình của doanh nghiệp. Các nhà hoạch định, phân tích dựa vào khả
năng thực có để đưa ra các kế hoạch nhằm thực hiện. Chính vì vậy, việc thực tế vượt
so với kế hoạch là một dấu hiệu rõ nét chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
*So sánh giữa năm sau với năm trước: Mục tiêu của mỗi doanh nghiệp đều
nhằm tới là mục tiêu lợi nhuận. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng mong muốn có thể tồn
tại và phát triển hơn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Chính vì lẽ đó, những
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả bao giờ kết quả của năm sau cũng lớn hơn năm
trước.
Ngô Quang Trường Lớp QTDN – K45
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét